Chương 1: Cơ sở lý luận của xác định giá trị Doanh nghiệp I. Cơ sở lý luận về xác định giá trị doanh nghiệp 1. Giá trị, giá trị hàng hoá và giá trị doanh nghiệp 1. Quan điểm của Các-Mác về giá trị, giá trị hàng hoá Theo Các - Mác, hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng, giá trị được xác định ở mặt chất và mặt lượng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Mặt chất của giá trị là hao phí lao động của con người - Mặt lượng của giá trị được đo bằng thời gian hao phí lao động.
Khi trao đổi trên thị trường, lượng của giá trị được đo bằng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá. Sự cạnh tranh trong nội bộ ngành hình thành nên giá trị thị trường, cạnh tranh giữa các ngành sẽ hình thành nên giá cả sản xuất. Khi tiền tệ ra đời thì giá trị của hàng hoá được phản ánh thông qua giá cả. Do sự tác động của cung cầu mà giá cả tách rời giá trị nhưng yếu tố quyết định giá cả vẫn là giá trị.
- Giá trị sử dụng là khái niệm dùng để chỉ những công dụng, lợi ích mà hàng hoá có thể mang lại cho con người khi tiêu dùng nó. Mỗi loại hàng hoá đều có những công dụng riêng biệt, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào giá cả. Trên thực tế, do quy luật cung cầu của nền kinh tế thị trường, giá trị của hàng hoá được đánh giá không chỉ bằng các chi phí thời gian lao động xã hội cần thiết mà còn bởi giá trị sử dụng dưới quy luật cạnh tranh. Có các khái niệm giá trị hàng hoá sau: - Giá trị nhượng bán: là giá cả của hàng hoá được hình thành trong điều kiện bình thường chịu tác động của quy luật cung cầu.
Nó tương ứng với khái niệm giá cả của Mác. Giá trị nhượng bán còn được gọi là giá thị trường. - Giá trị đổi mới: là khái niệm dùng để chỉ các khoản chi tiêu cần thiết để thay thế mới một tài sản. - Giá trị mua vào: giá ghi trên sổ kế toán, đây chính là giá gốc, thường không tính đến yếu tố thị trường làm thay đổi giá cả.
- Giá trị thanh lý: là mức giá chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tài chính. Đây thường là hậu quả đối với các DN bắt buộc phải thanh lý. Tài sản của DN trong những trường hợp như vậy có nguy cơ bị bán phá giá, tức không theo giá thị trường. - Giá trị hoạt động: khi bán một DN đang hoạt động, mức giá thu được thường có mức chênh lệch so với giá trị thanh lý.
Khoản chênh lệch giữa hai giá trị đó gọi là giá trị hoạt động, nó tượng trưng cho giá trị về mặt tổ chức. - Giá trị theo công dụng: là mức giá chỉ ra các khoản chi tiêu cần thiết để có được một tài sản tương đương tức có cùng chất lượng, quy cách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại mặc dù có nhiều khái niệm giá trị được đưa ra, nhưng tiêu chuẩn để nhận biết giá trị hàng hoá trong hoạt động kinh doanh có thể được chia là ba loại: - Loại 1: Giá trị theo sổ kế toán còn gọi là giá lịch sử (historical cost) hay giá gốc - Loại 2: Giá trị ước tính theo giá hiện hành – giá thị trường - Loại 3: Giá trị ước tính theo công dụng của tài sản 1. Giá trị thời gian của tiền, chi phí cơ hội, chi phí sử dụng vốn vay Trong nền kinh tế thị trường, luôn có sự biến động trong việc sản xuất hàng hoá, có khi tại thời điểm này, khi mà nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm xuống thì số lượng hàng hoá tiêu thụ sẽ bị giảm, các nhà sản xuất sẽ giảm quy mô sản xuất xuống, và ngược lại, khi nhu cầu tiêu dùng tăng thì các DN lại mở rộng quy mô sản xuất.
Cùng với sự lớn lên của giá trị hàng hoá, nhà nước sẽ phải in thêm số lượng tiền để phù hợp với sức mua hàng hoá của người tiêu dùng. Do đó, luôn luôn có sự khác biệt về giá trị của đồng tiền giữa các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế. Nếu ta có một số lượng tiền trong tay, nếu ta dùng để đầu tư và giả sử không gặp rủi ro về đầu tư, trong tương lai ta sẽ thu được một khoản thu nhập từ số tiền đầu tư đó với lãi suất lớn hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ ở thời điểm hiện hành vì hoạt động đầu tư vào trái phiếu Chính phủ là hoạt động đầu tư ít rủi ro nhất. Nếu ta không dùng để đầu tư, thì sau đó, trong tay ta vẫn có từng ấy giá trị tiền.
Như vậy, khoản chênh lệch giữa việc đầu tư và không đầu tư chứng tỏ tiền có khả năng sinh lời, và người ta gọi đó là giá trị thời gian của tiền. Cũng từ lý luận trên, nếu ta dùng số tiền đó cho đối tượng khác vay để hoạt động kinh doanh thì sau một khoảng thời gian ta sẽ thu được một số tiền lãi từ việc cho vay. Khoản tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay gọi là chi phí sử dụng vốn vay. Chi phí cơ hội là chi phí lớn nhất trong các cơ hội có thể được lựa chọn đã bị bỏ qua.
Doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, giá trị thực tế của doanh nghiệp a) Doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DN là một thuật ngữ trong kinh doanh dùng để chỉ các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm phân biệt nó với các hình thức kinh doanh có quy mô quá nhỏ. Một tổ chức kinh tế chỉ được coi là DN nếu nó được sự thừa nhận về mặt pháp lý trên một số tiêu chuẩn nào đó. Các tiêu chuẩn ở đây có thể là mức vốn tối thiểu (vốn pháp định), mục tiêu hoạt động, ngành nghề, địa điểm, quyền lợi, chủ sở hữu, nhiệm vụ. Xét theo mục tiêu hoạt động, người ta có thể chia DN thành 2 loại: DN công ích và DN kinh doanh.
- DN công ích: là DN được thành lập ra nhằm mục tiêu chính trị, xã hội. Lợi nhuận chỉ là mục tiêu thứ yếu, mục đích của nó là mục tiêu xã hội: không chỉ là đóng góp được bao nhiêu thuế cho nhà nước mà còn được thể hiện ở chỗ giải quyết được bao nhiêu công ăn việc làm, mang lại bao nhiêu thu nhập cho các nhà cấp vốn, tổng giá trị mà nó đóng góp vào GDP của nền kinh tế. - DN kinh doanh: là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận của DN kinh doanh là lợi ích mà DN có thể mang lại cho nhà đầu tư.
Lợi ích kinh doanh là ở các khoản thu nhập dưới hình thức như lợi nhuận sau thuế, lợi tức cổ phần. Theo quan điểm của Nhà nước Việt nam, công ty Cổ phần là doanh nghiệp trong đó các cổ đông cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp.Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý, có tên gọi, có con dấu riêng (theo Điều 1, luật Doanh nghiệp nhà nước, 20/04/1995).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của DN, DNNN còn có những đặc điểm sau: - DNNN là tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện những mục tiêu do Nhà nước giao - DNNN do nhà nước đầu tư vốn nên tài sản trong DN là thuộc sở hữu của nhà nước, DN quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà nước. - DNNN có tư cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp nhân theo quy định của pháp luật. - DNNN là DN chịu trách nhiệm hữu hạn Có 2 loại DNNN là DNNN hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích. - DNNN hoạt động kinh doanh là DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận.
- DNNN hoạt động công ích là DNNN hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng, theo các chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh… Như vậy, DNNN là DN nắm giữ những ngành kinh tế chủ đạo có tác dụng điều hoà nền kinh tế quốc dân. b) Giá trị doanh nghiệp Trước khi xem xét GTDN, ta thấy cần làm rõ một số đặc điểm của doanh nghiệp như sau: - DN là một đơn vị, một tổ chức kinh tế hoạt động. Thông qua sự hoạt động mà người ta nhận ra DN. DN không phải là một tập hợp các loại tài sản.
Khi mà nó chỉ đơn giản là một sự hỗn loạn các tài sản đơn lẻ, rời rạc mà người ta có thể thanh lý, phát mãi từng thứ riêng biệt như những hàng hoá thông thường thì nó không còn đầy đủ ý nghĩa của một DN. Và do vậy, khái niệm GTDN là một khái niệm chỉ được dùng cho những DN đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động. - DN là một tổ chức vừa phi vật thể, vừa là vật thể. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, DN cũng được coi là một loại hàng hoá, nó là một loại hàng hoá đặc biệt.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nó có thể được đem rao bán trên thị trường và bị ảnh hưởng bởi quy luật giá trị và các quy luật khác trên thị trường. - DN là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là một phần tử trong hệ thống lớn – nền kinh tế. Do đó, sự tồn tại của DN ở mối quan hệ của nó với các phần tử khác của hệ thống tức mối quan hệ với các đơn vị, thể nhân và pháp nhân kinh tế khác. Sự tồn tại của DN không chỉ được quyết định bởi các yếu tố bên trong DN mà còn bởi các yếu tố bên ngoài như khách hàng, người cung cấp, người cho vay, các luật, chính sách.