Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về mang thai hộ và pháp luật kiểm soát mang thai hộ Chương 2: Những quy định của pháp luật về kiểm soát mang thai hộ Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm soát mang thai hộ ở Việt Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện và áp dụng pháp luật về mang thai hộ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MANG THAI HỘ VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT MANG THAI HỘ 1. Sự ra đời chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Năm 1979 tại Hoa Kỳ, ca mang thai hộ đầu tiên trên thế giới đƣợc xác định khi bác sỹ Richard M.Levin tiếp một cặp vợ chồng mà ngƣời vợ không có khả năng sinh con trong khi ngƣời vợ rất mong muốn có một đứa con của chồng, dù bản thân ngƣời vợ này biết rằng mình không thể mang thai. Sau khi nghe hai vợ chồng bày tỏ nguyện vọng, bác sĩ Levin đã nghĩ đến cách nhờ một phụ nữ khác mang thai giúp thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của ngƣời chồng. Tuy nhiên, để có thể thực hiện đƣợc ý định này, bác sỹ Levin đã vấp phải các vấn đề pháp lý đối với việc mang thai hộ và mất chín tháng hợp tác với các luật sƣ, nghiên cứu luật của bang và của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ để hiểu rõ hơn các khía cạnh pháp luật phức tạp của mối quan hệ mang thai hộ (còn gọi là làm mẹ thuê, đẻ thuê).
Các khía cạnh này cũng đƣợc nghiên cứu kỹ, có sự tham khảo ý kiến của nhiều chức sắc tôn giáo và nhà đạo đức học để đi đến một thỏa thuận không xúc phạm đến giá trị đạo đức của cộng đồng. Sau đó, một “hợp đồng”, còn gọi là “biên bản ghi nhớ” đã đƣợc soạn thảo rất chặt chẽ, bảo đảm quyền lợi cho cặp vợ chồng vô sinh, ngƣời mẹ mang thai hộ và đứa trẻ. Ngƣời mẹ mang thai hộ lần đầu tiên trên thế giới đó đã đƣợc các bác sỹ khám, tƣ vấn rất kỹ lƣỡng về các vấn đề y tế sinh sản cũng nhƣ đƣợc các nhà hoạt động pháp luật tƣ vấn về vấn đề pháp lý xoay quanh quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong trƣờng hợp mang thai hộ này. Đến đầu năm 1980, theo thỏa thuận giữa ngƣời mẹ mang thai hộ và cặp vợ chồng vô sinh, các bác sỹ đã tiến hành thụ tinh nhân tạo phôi thai bằng tinh trùng của ngƣời chồng với noãn của ngƣời vợ và phôi thai đƣợc cấy vào ngƣời phụ nữ mang thai hộ.
Chín tháng sau, tại Lousville, ngƣời phụ nữ mang thai hộ đã sinh hạ một bé trai và năm ngày sau đó, ngƣời phụ nữ mang thai hộ đã trình diện trƣớc Tòa án để chính thức chấm dứt những 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền liên quan đến việc làm mẹ của mình và trao lại con cho ngƣời bố sinh học. Sau khi đã hoàn tất các thủ tục về mối quan hệ pháp lý với đứa trẻ, cặp vợ chồng đƣợc toàn quyền chăm sóc, nuôi dạy đứa trẻ. Đó là câu chuyện về trƣờng hợp mang thai hộ hợp pháp và có chuẩn bị kỹ lƣỡng đầu tiên trên thế giới. [2] Trong lịch sử pháp luật Việt Nam chƣa có sự xuất hiện của vấn đề mang thai hộ cho đến Nghị định số 12/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/2/2003 hƣớng dẫn về sinh con bằng phƣơng pháp khoa học.
Khoản 1 Điều 6 Nghị định này quy định nghiêm cấm hành vi mang thai hộ. Nhƣ vậy, pháp luật Việt Nam trƣớc đây không cho phép đƣợc mang thai hộ dƣới bất cứ hình thức nào. Luật HN&GĐ 2000 đƣợc Quốc hội khóa X nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp ngày 9/6/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 10/01/2001. Sự ra đời của Luật HN&GĐ 2000 đã tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, an toàn để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan trong các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
Qua đó đảm bảo yếu tố bền vững của HN&GĐ phù hợp với bối cảnh lịch sử của đất nƣớc tại thời kỳ đó. Tuy nhiên, qua 12 năm thi hành, trƣớc những biến động to lớn của tình hình kinh tế - xã hội của đất nƣớc đã ảnh hƣởng tới các quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000; một số quy định không cụ thể khiến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật bị hạn chế. Bên cạnh đó, nhiều quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ chƣa đƣợc luật điều chỉnh từ đó dẫn tới việc áp dụng tùy tiện, thiếu tính nhất quán của các cơ quan chức năng khi giải quyết các tranh chấp, xung đột có liên quan tới các quan hệ HN&GĐ mới phát sinh. Cụ thể nhƣ việc mang thai hộ đã và đang diễn ra trong xã hội và nhu cầu đối với việc mang thai hộ ngày càng lớn tuy nhiên pháp luật Việt Nam lại nghiêm cấm việc mang thai hộ nên nhiều cặp vợ chồng đã tìm mọi cách để làm “chui” thậm chí là ra nƣớc ngoài, nơi cung cấp dịch vụ mang thai hộ dẫn đến nhiều rủi ro nhƣ: ngƣời nhận mang thai hộ không giao đứa bé cho bên nhờ mang thai hộ nhƣ đã thỏa thuận, trong quá trình mang thai hộ không thực hiện đúng thỏa thuận nhƣ thăm khám, phát sinh những rắc rối về mặt giấy tờ pháp lý… đặc biệt khi có tranh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chấp phát sinh giữa ngƣời nhờ mang thai hộ và ngƣời nhận mang thai hộ về việc xác định cha, mẹ, con; quyền nhân thân và quyền tài sản của đứa trẻ, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mang thai hộ sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết; do đó gây ra nhiều thiệt thòi, ảnh hƣởng đến quyền lợi của đứa trẻ cũng nhƣ của các bên liên quan.
Điều này đã gây ảnh hƣởng không nhỏ tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, gây cản trở cho việc thực hiện mục tiêu “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trƣờng quan trọng trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” đã đƣợc đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam. Chính vì vậy, việc sửa đổi bổ sung Luật HN&GĐ 2000 là điều cần thiết. [5] Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật HN&GĐ (sửa đổi) vừa qua, vấn đề mang thai hộ đã nhận đƣợc sự quan tâm rất lớn của xã hội. Việc cho phép hay không cho phép mang thai hộ ở Việt Nam đã nhận đƣợc nhiều ý kiến, thậm chí là những ý kiến trái chiều.
Một bộ phận ngƣời dân cho rằng chỉ nên cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; trong khi số khác lại cho rằng cần phải nghiêm cấm mang thai hộ dƣới mọi hình thức. Trong khi đó đề xuất cho phép mang thai hộ trong trƣờng hợp nhân đạo nhận đƣợc nhiều sự đồng thuận; bởi lẽ nếu cho phép sẽ đảm bảo đƣợc quyền làm mẹ chính đáng của ngƣời phụ nữ, đồng thời giúp bảo vệ quyền lợi của đứa trẻ và của các bên trong quan hệ mang thai hộ. Ngƣợc lại, các ý kiến phản đối việc luật hóa mang thai hộ cho rằng mang thai hộ sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực cho xã hội nhƣ buôn bán trẻ sơ sinh bất hợp pháp, lách luật để sinh con thứ ba… Từ đó có thể thấy quy định nhƣ thế nào để vừa đảm bảo việc thực hiện quyền làm mẹ của ngƣời phụ nữ, vừa tránh đƣợc những hệ quả xấu có thể xảy ra trên thực tế không phải là vấn đề đơn giản, đó chính là những khó khăn đƣợc đặt ra đối với các nhà lập pháp ở Việt Nam. Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII ngày 19/6/2014, Quốc hội đã thông qua dự thảo luật HN&GĐ và Luật HN&GĐ năm 2014 chính thức ra đời có hiệu lực từ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Luật HN&GĐ năm 2014 đã sửa đổi và bổ sung thêm nhiều vấn đề mới về HN&GĐ trong đó có vấn đề về mang thai hộ. Đây là văn bản luật đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam quy định về mang thai hộ, cho phép việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đó cũng chính là cơ sở để pháp luật kiểm soát mang thai hộ ở Việt Nam. Một số khái niệm 1. Khái niệm mang thai hộ Cụm từ mang thai hộ mới xuất hiện ở Việt Nam gần đây, nhƣng đã không còn là khái niệm xa lạ với ngƣời dân.
Song, trên thực tế có thể thấy mọi ngƣời thƣờng hiểu theo một ý nghĩa sai lệch và thƣờng hiểu chung với khái niệm “đẻ thuê, đẻ mƣớn”. Khái niệm đẻ thuê, hiểu một cách đơn giản là việc bên thuê đẻ và bên đẻ thuê thỏa thuận với nhau, theo đó, bên thuê đẻ sẽ trả cho bên đẻ thuê một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất nào đó, còn bên đẻ thuê sẽ sinh con và trao cho bên thuê đẻ”. [29] Trƣớc đây, mang thai hộ đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, nó đƣợc xếp vào một trong các loại đẻ mƣớn, điều này lý giải vì sao khi nói về mang thai hộ, nhiều ngƣời vẫn đánh đồng mang thai hộ với đẻ thuê, đẻ mƣớn. Mang thai hộ là một trong các loại hình đẻ mƣớn do có sự liên quan đến yếu tố ngƣời thay thế để mang thai và sinh con.
Với thực tế hiện nay cho thấy, việc đánh đồng khái niệm mang thai hộ với đẻ thuê, đẻ mƣớn không còn phù hợp, nó khiến vấn đề trở nên phức tạp và nhạy cảm hơn, không còn phù hợp với thuần phong mỹ tục cũng nhƣ luật pháp của ngƣời Việt Nam. Đã đến lúc phải hiểu mang thai hộ theo đúng ý nghĩa của nó, phù hợp với chế độ nhà nƣớc và hệ thống pháp luật mỗi quốc gia. Cụm từ mang thai hộ đã tồn tại từ lâu, nhƣng việc mang thai hộ thật sự chỉ có thể đƣợc thực hiện sau khi con ngƣời thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON). Trƣớc khi kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm ra đời, khi ngƣời vợ không thể có con hay mang thai, ngƣời chồng có thể giao hợp với một ngƣời phụ nữ khác hoặc bơm tinh trùng vào tử cung của phụ nữ này để có thai và việc này thời đó 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng đƣợc xem là “mang thai hộ”.
Ngƣời phụ nữ này có thể có thai, sau đó trao con lại cho cặp vợ chồng đã nhờ.