Chương 1: Những lý luận cơ bản về lạm phát và kiểm soát lạm phát trong nền kinh tế thị trường. Chương 2: Diễn biến về lạm phát, kiểm soát lạm phát và những biện pháp đã áp dụng ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay. Chương 3: Một số giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn tới. Hoàng Thanh Tùng K12- Luận văn tốt Đề tài: Kiểm soát lạm phát ở Việt CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT 1. Lạm phát, phƣơng pháp tính lạm phát và phân loại lạm phát 1. Giá cả và lạm phát Sự tăng liên tục trong mức giá chung mà nguồn gốc phát sinh là từ các vấn đề kinh tế kinh niên chẳng hạn như thâm hụt ngân sách nặng nề trong nhiều năm, mất cân đối nghiêm trọng cơ cấu. Việc tăng giá liên tục như vậy được gọi là lạm phát (Sachs and Larrian, 1993) hay nói cách khác , lạm phát là sự giảm đi liên tục trong sức mua của đồng tiền.
Định nghĩa này mới chỉ nói tới hiện tượng mà không nêu được nguồn gốc và ảnh hưởng của hiện tượng đó. Đi sâu nghiên cứu các học thuyết về lạm phát, chúng ta mới thấy tính chất phức tạp của các nguyên nhân gây ra lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát, do vậy, định nghĩa nêu trên chỉ là một điểm khởi đầu. Như vậy, do sự giảm giá của đồng tiền có liên quan mật thiết đến lạm phát mà đồng tiền hay tiền giấy lại là dấu hiệu và đại biểu của tiền vàng nên sự sụt giá tiền giấy chính là sự giảm hàm lượng vàng trong một đơn vị tiền giấy. Cho dù hiện nay tiền giấy được phát hành theo nhu cầu chi tiêu của Chính phủ (khác với chế độ bản vị vàng là phát hành theo lượng vàng tồn tại trên thị trường) nhưng bản chất của tiền giấy vẫn là dấu hiệu của tiền vàng bởi vì lượng tiền dù có tăng lên đến đâu nhưng nó vẫn được quy ra tiền vàng theo tỷ lệ thích ứng trên thị trường.
Tuy nhiên, tiền giấy ngày nay có một số tính chất độc lập riêng và phải đảm bảo đầy đủ chức năng của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường đó là nhanh chóng, thuận tiện. Thêm vào đó, yếu tố quyết định nhất tạo nhu cầu cao hay thấp về tiền giấy chính là lợi tức của chính tiền giấy. Hiện nay, việc đồng tiền (tiền giấy) sụt giá không chỉ đơn thuần do số lượng tiền giấy phát hành vượt quá số lượng vàng cho phép trong lưu thông, mà còn do nhiều nguyên nhân gián tiếp và trực tiếp khác. Các nguyên nhân gián tiếp có liên quan đến nó: chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước, các chủ thể kinh doanh, các điều kiện quốc tế, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các điều kiện anh ninh chính trị, của một quốc gia.
Những nguyên nhân này đã gián tiếp làm cho đồng Hoàng Thanh Tùng K12- Luận văn tốt Đề tài: Kiểm soát lạm phát ở Việt tiền mất giá hoặc tăng giá, qua đó gián tiếp làm cho lạm phát tăng hoặc giảm trong nền kinh tế. Còn nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến sự tăng hoặc giảm giá của đồng tiền chính là quan hệ cung - cầu của đồng tiền. Thông qua quan hệ cung cầu, lợi tức đồng tiền đã làm cho đồng tiền sụt giá (lạm phát tăng) hoặc tăng giá (lạm phát giảm). Trên thực tế, khi các tác nhân gián tiếp đã diễn ra nhưng tác nhân trực tiếp chưa có thay đổi thì lạm phát vẫn chưa thể xảy ra, hay nói cách khác cho dù nhà nước tác động rất mạnh đến những nguyên nhân gián tiếp nhưng quan hệ cung cầu tiền tệ chưa bị tác động thì lạm phát vẫn chưa thể thay đổi được.
Như vậy bản chất của lạm phát chính là vấn đề tiền tệ mà nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng lạm phát chính là quan hệ cung - cầu tiền tệ. Phương pháp tính lạm phát Chúng ta đã nêu khái niệm cơ bản về lạm phát. Trong nền kinh tế, có rất nhiều loại giá cả, có loại giá tăng lên, có loại giá giảm đi và số còn lại không thay đổi. Với một khối lượng các loại giá cả lớn và khác nhau như vậy, chúng ta cần có một cách tính để thể hiện được tất cả các loại giá cả.
Hầu hết các nhà kinh tế đều nhất trí sử dụng tổng mức giá bình quân để phản ảnh xu hướng của các lại giá khác nhau. Tuy nhiên, người ta còn có một số phương pháp tính tổng mức giá như chỉ số giảm lạm phát GDP, chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI), chỉ số bán lẻ (RPI), chỉ số giá của người sản xuất (PPI) và chỉ số giá hàng bán buôn (WPI). - Chỉ số giảm lạm phát GDP là chỉ số giá phản ánh bình quân giá của tất cả các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước. Chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế.
- Chỉ số hàng tiêu dùng (CPI) thường được xem như là phương pháp đo lường chi phí của cuộc sống liên quan tới rổ hàng hoá và dịch vụ cụ thể được mua bởi người tiêu dùng. - Khác với chỉ số CPI, chỉ số giá người sản xuất (PPI) được tính toán dựa trên giá một rổ hàng hoá đặc trưng được mua bởi các công ty. - Bên cạnh các giá trị bình quân, các khía cạnh khác của lạm phát cũng cần được nghiên cứu một cách thích đáng, đó là biên độ của lạm phát. Biên độ của lạm phát là khoảng cách mà trong đó lạm phát dao động.
Ở Việt Nam, bắt đầu từ tháng 1 năm 1998, Tổng cục Thống kê chính thức Hoàng Thanh Tùng K12- Luận văn tốt Đề tài: Kiểm soát lạm phát ở Việt Hoàng Thanh Tùng K12- Luận văn tốt Đề tài: Kiểm soát lạm phát ở Việt công bố chỉ số giá tiêu dùng CPI của toàn quốc tính theo phương pháp cải tiến: - Chỉ số giá tiêu dùng chung của toàn quốc được tính trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh, thành phố trong cả nước. - Chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh, thành phố được tính theo công thức LASPARYE với quyền số cố định là cơ cấu chi tiêu hộ gia đình đa mục tiêu do Tổng cục Thống kê tiến hành năm 1995. Danh mục mặt hàng đại diện thu thập giá gồm 296 mặt hàng, được phân chia theo 10 nhóm tiêu dùng cấp I, 34 nhóm cấp II và 86 nhóm cấp III, trong mỗi nhóm đều bao gồm cả hàng hoá và dịch vụ. Giá tiêu dùng bình quân năm 1995 được dùng làm giá kỳ gốc cố định.
- Hàng tháng chỉ số giá tiêu dùng được công bố với 4 gốc so sánh: Kỳ gốc ( so với giá tiêu dùng bình quân năm 1995) Tháng trước (hàng tháng) Cùng tháng năm trước (sau 12 tháng) Tháng 12 năm trước (sau 1,2 ., 11 tháng ) - Chỉ số giá tiêu dùng được tính theo công thức sau: N CPI Pit Qio (1.1) i t N Pio Qio i t Trong đó: Pit - là giá hàng hoá sản phẩm i trong giai đoạn t Pio – là giá hàng hoá sản phẩm i trong giai đoạn cơ sở Qio – là tổng lượng hàng hoá sản phẩm i (i=1 đến n) Trong giai đoạn cơ sở (rổ hàng hoá được ấn định đối với một năm cơ sở và Q là trọng số, n là tổng sản phẩm). Cách tính chỉ số CPI không phải cộng các giá cả lại và chia cho tổng khối lượng hàng hoá mà là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế. Trên thực tế, việc dùng chỉ số giá để đo lường lạm phát thường không được chính xác, với nó luôn có khuynh hướng phóng đại lạm phát thực. Thứ nhất nó không phản ánh đầy đủ sự cải thiện chất lượng sản phẩm.
Thứ hai nó không phản ánh sự cải tiến kỹ thuật sản xuất. Tác động của hai yếu tố trên được tính thêm vào giá Hoàng Thanh Tùng K12- Luận văn tốt Đề tài: Kiểm soát lạm phát ở Việt thành và thế là giá thành này được ghi vào chỉ số giá. Sự lệch lạc giữa lạm phát và Hoàng Thanh Tùng K12- Luận văn tốt Đề tài: Kiểm soát lạm phát ở Việt chỉ số giá này không phải không có tác hại. Bởi lẽ, khi công bố chỉ số giá cao (dự kiến) sẽ khuyến khích dân chúng mua sắm ngay lúc công bố chỉ số giá chứ không đợi khi giá lên mới mua.
Khi giá cả hạ thì người tiên dùng sẽ ít tiêu xài hơn bởi lợi tức cổ phần sẽ trội hơn lợi tức hàng hoá mang lại Do đó, Chính phủ cần phải nghiên cứu và xác định chỉ số giá chuẩn xác với tình hình thực tiễn của nền kinh tế. Mặc dù tính tỷ lệ lạm phát còn có vấn đề phải bàn nhưng hiện nay chúng ta vẫn đang duy trì việc tính tỷ lệ lạm phát theo công thức sau: Pt L Pt (1.2) 1 t P t 1 Trong đó : Lt : tỷ lệ lạm phát giai đoạn t t: là giai đoạn tính lạm phát Pt: Tổng giá cả giai đoạn t Pt-1: Tổng giá cả giai đoạn t – 1 (t-1 và t là hai giai đoạn kế tiếp nhau) Công thức trên có thể chuyển đổi thành Lt ln Pt (1. Phân loại lạm phát ln Pt 1 Thông thường người ta căn cứ vào tốc độ lạm phát để chia ra làm 3 loại chính: - Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát xảy ra với tốc độ gia tăng giá cả chậm, chỉ ở mức một con số hay dưới 10%/năm. Đây là loại lạm phát phổ biến và tồn tại gần như thường xuyên, một căn bệnh kinh niên cố hữu và đặc trưng ở hầu hết các nền kinh tế thị trường trên thế giới.
Trong điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tăng chậm thường xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương, hoặc cao hơn một chút, do vậy đồng tiền bị mất giá không lớn, điều kiện kinh doanh tương đối ổn định. Tác hại của lạm phát ở đây là không đáng kể. - Lạm phát phi mã : được nhận dạng khi mức tăng giá cả đạt tới “ngưỡng“ thường là từ 2 đến 3 con số (20%, 100%, 200%,. Lạm phát như vậy gây ảnh hưởng đến tầng lớp dân cư nghèo và trung lưu.
Việc kiểm soát lạm phát đòi hỏi các biện pháp tài chính và tiền tệ mạnh, nếu không sẽ dẫn đến siêu lạm phát.