Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN LỰC 1. Vị trí thống lĩnh trị trường và lạm dụng vị trí thống lĩnh trong lĩnh vực điện lực. Khái niệm vị trí thống lĩnh trong lĩnh vực điện lực. Cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường.
Như Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Như Phát từng nhận định: Nếu quan hệ cung cầu là cái cốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường [28, tr 10]. Thật vậy, dưới tác động của mình, cạnh tranh đã làm thay đổi căn bản bộ mặt của đời sống xã hội, đem lại cho nền kinh tế sức sống mạnh mẽ cùng những bước chuyển động linh hoạt. Cùng với việc thúc đẩy xã hội phát triển, cạnh tranh còn góp phần phân bổ lại các nguồn lực theo hướng tập trung vào những chủ thể sử dụng có hiệu quả, đưa tới sự hình thành các doanh nghiệp có tiềm lực lớn mạnh mà kinh tế học gọi là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (dominant position) đã xuất hiện trong các quy định và chính sách về Cạnh tranh của nhiều quốc gia và các tổ chức kinh tế như Canada, Ấn Độ, EU, UNCTAD.
Luật Mẫu về Cạnh tranh của UNCTAD đưa ra định nghĩa về vị trí thống lĩnh thị trường là trường hợp “khi một doanh nghiệp bằng chính khả năng của nó hoặc cùng hành động với các doanh nghiệp khác để có được vị trí có thể kiểm soát một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ”. Điều 79 Luật Cạnh tranh Canada quy định chỉ được xem xét hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường khi một hoặc nhiều doanh nghiệp về cơ bản hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình, một phân đoạn kinh doanh, trên toàn lãnh thổ Canađa hay tại bất kỳ khu vực nào của nó. Ở Hoa Kỳ, thuật ngữ độc quyền hoặc vị trí độc quyền (monopoly) được dùng chung để chỉ những thực thể kinh tế mà hành động của nó có khả năng loại bỏ cạnh tranh trên thị trường. Nhìn chung, dù được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau thì vị trí thống lĩnh thị trường cũng đều được nhìn nhận là 6 vị trí của sức mạnh kinh tế gần như tuyệt đối cho phép doanh nghiệp kiểm soát thị trường, đồng thời gây ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh và thoát khỏi cạnh tranh thực chất.
Một doanh nghiệp thống lĩnh phải nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể trong một khoảng thời gian nhất định thì mới có khả năng chi phối thị trường. Thực tế, trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo, các chủ thể ít nhiều đều có thể tác động đến giá cả sản phẩm. Tuy nhiên, để đạt đến mức thao túng thị trường và chi phối giá cả thì sức mạnh kinh tế mà doanh nghiệp sở hữu phải đủ lớn và tồn tại lâu dài. Nói cách khác, quyền lực thị trường phải được xem xét ở mức độ có thể thao túng cạnh tranh cùng với độ bền của nó.
Bởi lẽ những tổn thất mà xã hội gánh chịu phải tỷ lệ thuận với khả năng tồn tại quyền lực thị trường của doanh nghiệp thống lĩnh mới là hợp lý. Trong tất cả các cuộc điều tra về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vấn đề đầu tiên phải được xem xét đó là xác định sức mạnh thị trường mà doanh nghiệp nắm giữ. Lý luận về Cạnh tranh không chỉ thừa nhận vị trí thống lĩnh thị trường của một doanh nghiệp mà còn nghiên cứu khả năng khống chế thị trường của nhóm các doanh nghiệp cùng hành động. Luật mẫu về Cạnh tranh của UNCTAD đã đề cập đến trường hợp nhóm các doanh nghiệp cùng hành động để có vị trí có thể kiểm soát trên thị trường liên quan đối với một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ nhất định.
Xem xét “cùng hành động” dưới góc độ là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có gì khác biệt? Điểm mấu chốt để phân định giữa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của nhóm các doanh nghiệp và một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí để hành động tập thể. Các doanh nghiệp có quyền lực thị trường hành động tương tự nhằm hạn chế cạnh tranh trong cùng một khoảng thời gian nhưng không có thỏa thuận thì được xem là nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Mặt khác, mục đích mà nhóm các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hướng đến là một thị trường “độc quyền nhóm, nơi mà hai hoặc nhiều doanh nghiệp kiểm soát phần lớn thị trường, 7 tạo nên và tận hưởng những điều kiện mà họ có thể kiểm soát hoặc điều khiển thị trường như trong trường hợp độc quyền” [45, tr 37]. Dưới ảnh hưởng bởi sự vận động của thị trường và nỗ lực cạnh tranh lành mạnh, doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp hoàn toàn có thể đạt được vị thế chi phối và kiểm soát thị trường liên quan.
Đó là quyền lợi chính đáng mà pháp luật trao cho các chủ thể kinh doanh, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh - tiêu biểu là việc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh nhằm độc chiếm thị trường là những hành vi cần thiết phải bị lên án và xóa bỏ để đảm bảo một môi trường cạnh tranh bình đẳng. Xác định vị trí thống lĩnh trong lĩnh vực điện lực Thị trường liên quan: Dù được miêu tả với những tên gọi khác nhau trong pháp luật cạnh tranh các nước, nhưng có một sự thừa nhận mang tính phổ biến đó là vị trí thống lĩnh luôn gắn liền với một khu vực thị trường nhất định. Lý luận về cạnh tranh gọi khu vực thị trường đó là thị trường liên quan.
Theo đó, thị trường liên quan là “những điều kiện chung nhất trong quá trình mua bán hàng hóa và mang hàm ý về một ranh giới xác định của nhóm người mua và bán một loại hàng hóa cụ thể và không có sự cạnh tranh từ các khu vực khác. Nó yêu cầu một sự phác họa về sản phẩm và một khu vực địa lý cùng với một nhóm các hàng hóa, người mua, người bán tương tác với nhau trong việc thiết lập giá cả và đầu ra. Thị trường này bao gồm tất cả các hàng hóa, dịch vụ có khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý và các đối thủ cạnh tranh kế cận, mà người tiêu dùng có thể chuyển sang trong ngắn hạn nếu có sự hạn chế hoặc tăng giá một cách lạm dụng” [45, tr 2]. Theo định nghĩa trên, thị trường liên quan bao gồm hai thành tố (i) Thị trường sản phẩm liên quan và (ii) Thị trường địa lý liên quan.
Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Chỉ khi xác định được rằng các hàng hóa, dịch vụ này là có thể thay thế cho nhau, khi đó mới có thể khẳng định các doanh nghiệp có ýphải là đối thủ cạnh tranh với nhau. Thị trường địa lý liên quan là khu vực địa lý 8 diễn ra việc mua bán các hàng hóa đó. Quá trình xác định thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan là tương tự nhau.
Có nhiều cách khác nhau để xác định. Nhưng phương pháp được chấp nhận phổ biến đó là tiếp cận dựa vào phân tích nhu cầu tiêu dùng, xác định khu vực mà người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế hoặc nguồn cung cấp [46, tr 10]. Thị trường sản phẩm liên quan Là thị trường của những hàng hóa có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Để được coi là có thể thay thế cho nhau, yêu cầu đầu tiên là các sản phẩm này phải có những đặc tính căn bản giống nhau, hay chí ít là tương đồng.
Xuất phát từ chỗ có những đặc tính tương đồng, yêu cầu thứ hai là các sản phẩm này phải có công dụng giống nhau, có nghĩa là có thể thay thế cho nhau. Lưu ý, cần phải thấy rằng công dụng của sản phẩm có liên quan đến đặc tính của sản phẩm nhưng không có nghĩa là các loại hàng hóa có nhiều đặc tính giống nhau là có mục đích sử dụng giống nhau. Tuy vậy, cần thấy rằng việc xác định các sản phẩm có nằm trên cùng thị trường sản phẩm liên quan hay không, ngoài việc xác định khả năng thay thế về tính năng, công dụng thì việc xác định khả năng thay thế cho nhau về giá cả cũng đóng vai trò rất quan trọng. Bởi vì cho dù hai sản phẩm có nhiều đặc tính, công dụng giống nhau nhưng giá cả có sự chênh lệch quá lớn, không thể thay thế cho nhau được thì cũng không thể coi đó là các sản phẩm có thể thay thế cho nhau.
Tại Hoa Kỳ, thị trường sản phẩm được định nghĩa như sau: “Khi một sản phẩm được bán bởi một công ty sáp nhập (sản phẩm A) cạnh tranh với một hoặc nhiều sản phẩm được bán bởi một công ty sáp nhập khác, cơ quan cạnh tranh sẽ xác định thị trường sản phẩm liên quan xung quanh sản phẩm A để đánh giá về tầm quan trọng của quan hệ cạnh tranh này. Thị trường sản phẩm liên quan đó bao gồm nhóm các sản phẩm có khả năng thay thế cho sản phẩm A, và bao gồm cả sản phẩm A. Vì vậy, cơ quan cạnh tranh có thể xác định một thị trường liên quan bao gồm nhiều sản phẩm” [25, tr 20]. 9 Tóm lại, những hàng hóa, dịch vụ sẽ được xem xét hai yếu tố sau để xác định khả năng thay thế: Tính chất của sản phẩm: bao gồm đặc tính và mục đích sử dụng.
Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế nhau về đặc tính nếu nó có nhiều tính chất hóa học, vật lý, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng giống nhau. Việc xem xét này đòi hỏi phải phân tích các yếu tố vật chất cấu thành nên sản phẩm để tìm ra những đặc trưng lý hóa giống hệt hoặc tương đồng giữa các sản phẩm. Tương tự đối với mục đích sử dụng, phải chứng minh được rằng mục đích sử dụng của các hàng hóa, dịch vụ thay thế là hoàn toàn giống nhau. Việc xem xét này phải dựa trên quan điểm của người tiêu dùng.