Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC ĐỘC QUYỀN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm lĩnh vực độc quyền Cạnh tranh là một trong ba quy luật phổ biến của nền kinh tế thị trường.Cạnh tranh đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy sự phát triền của nền kinh tế, góp phần nâng cao đời sống con người. Do đó, với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, công đoạn của quá trình kinh doanh. Đây là việc “đua tranh về giành ưu thế về mình” [35, tr.106] hoặc sự “cố gắng giành phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”[34, tr.
Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân tìm cách đạt được cùng một lợi thế kinh doanh từ các chủ thể thứ ba” [34, tr. Vì cạnh tranh không phải là một thuật ngữ pháp lý, nên khó có thể tìm thấy định nghĩa về “cạnh tranh” trong văn bản pháp luật của các quốc gia, kể cả trong các án lệ của các tòa án ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ. Tuy nhiên,có thể thấy dấu hiệu đặc thù của cạnh tranh là sự ganh đua của ít nhất hai hay nhiều đối thủ trong cùng một lĩnh vực nhất định. Cạnh tranh là các hành động thể hiện nỗ lực của các chủ thể kinh doanh cùng một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp với mục đích chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường.
Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, là phương tiện để các chủ thể kinh doanh có khả năng thích nghi với thị trường, có tiềm lực về tài chính, công nghệ và quản lý lớn mạnh hơn và phát 8 huy hiệu quả hoạt động của mình trong nền kinh tế. Đồng thời, cạnh tranh cũng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của chủ thể tham gia thị trường. Tuy nhiên quá trình này lại là tiền đề vật chất cho sự hình thành các hình thái cạnh tranh không hoàn hảo trong đó có độc quyền. Ngay từ thế kỷ 18, Adam Smith trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” đã chỉ ra bản chất của độc quyền là: “Bằng cách làm cho thị trường luôn không đủ dự trữ, các nhà độc quyền… đã bán hàng hóa của họ với mức giá cao hơn giá tự nhiên rất nhiều, và nhờ đó, tăng phần thu nhập của họ dưới dạng tiền thưởng hay lợi nhuận…” [28].
Độc quyền là một trạng thái thị trường mà ở đó chỉ có một doanh nghiệp kinh doanh một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ nhất định. Nói cách khác, khi thị trường xuất hiện độc quyền, không có một chủ thể nào kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ mà chủ thể nắm giữ vị trí độc quyền kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, độc quyền được hình thành chủ yếu từ quá trình cạnh tranh. Nó xuất hiện như một tất yếu khách quan của quá trình tập trung và tích tụ tư bản.
Đây là trường hợp cực đoan và là hình thái biểu hiện sau cùng của cạnh tranh không hoàn hảo. Đối với một số ngành, lĩnh vực đặc thù như các ngành, lĩnh vực liên quan tới hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu (hạ tầng vận tải, truyền tải điện, hệ thống cung cấp khí đốt, hệ thống cung cấp nước sạch…) do cấu trúc kỹ thuật của quá trình tổ chức sản xuất, việc tồn tại nhiều doanh nghiệp cùng cạnh tranh là không hiệu quả, khi đó, tình trạng độc quyền tự nhiên sẽ xuất hiện. Độc quyền tự nhiên xuất hiện ngoài ý thức chủ quan của nhà kinh doanh, do tác động của cấu trúc kỹ thuật trong tổ chức sản xuất đặc thù. Khi đó, chỉ có một doanh nghiệp duy nhất phục vụ toàn bộ thị trường.
Độc quyền tự nhiên là một hiện tượng kinh tế, trái ngược với độc quyền do cạnh tranh 9 đưa tới. Khi thị trường tồn tại độc quyền tự nhiên, thì sẽ không phù hợp để cố gắng đạt được một mức độ cạnh tranh, điều đó sẽ phá hủy hiệu quả mà cạnh tranh đặt ra [38]. Thuật ngữ “tự nhiên” lý giải nguyên nhân hình thành dạng độc quyền này xuất phát từ đặc điểm công nghệ và nhu cầu đối với sản phẩm của ngành chứ không liên quan các yếu tố lịch sử hoặc ảnh hưởng của cơ chế chính sách kinh tế. Nói cách khác, trong những điều kiện về công nghệ và nhu cầu như vậy, sự tồn tại của độc quyền tự nhiên là khách quan.
Cụ thể hơn, xét về góc độ kinh tế, độc quyền tự nhiên xuất hiện khi, do quy luật hiệu quả kinh tế theo quy mô, hiệu quả sản xuất và phân phối của một doanh nghiệp hoặc một ngành đạt được tối đa khi chỉ có một người cung cấp duy nhất. Khi đó chi phí trung bình trên một đơn vị sản phẩm giảm nhanh khi sản lượng tăng lên. Độc quyền tự nhiên thường xuất hiện ở những ngành có chi phí cố định lớn, doanh nghiệp đầu tiên đã chiếm được gần hết thị phần, vì vậy chi phí cố định bình quân cho một sản phẩm của họ nhỏ. Trong khi đó, những người cung cấp khác có thị phần nhỏ, vì thế chi phí cố định bình quân cho một sản phẩm lớn hơn nhiều, và khi đó những doanh nghiệp này rất khó thể cạnh tranh được với doanh nghiệp đầu tiên trên.
Ngoài ra, độc quyền tự nhiên cũng có thể phụ thuộc vào việc kiểm soát một nguồn tài nguyên nào đó. Ví dụ, các cảng hàng không, sân bay luôn có vị thế độc quyền tự nhiên. Ở mỗi địa phương chỉ có đúng một cảng hàng không được xây dựng, không thể xây hai cảng hàng không được. Điều đó lý giải vì sao quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay và cảng hàng không, sân bay là ngành có tính chất độc quyền tự nhiên.
Ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, cảng hàng không, sân bay vẫn được cho là một lĩnh vực có tính chất độc quyền tự nhiên. Chẳng hạn, nếu như có một hãng hàng không mở đường bay đến Hà Nội thì không có lựa chọn nào khác là phải hạ cánh tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Ngay cả hành khách cũng bắt buộc phải sử dụng những dịch vụ tại cảng hàng không, sân 10 bay. Ngoài ra, trong một số báo cáo của ICAO (International Civil Aviation Organization – Tổ chức hàng không dân dụng thế giới) cũng cho rằng quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay là lĩnh vực độc quyền tự nhiên.
Bên cạnh nguyên nhân hình thành nên độc quyền là kết quả tích cực của quá trình cạnh tranh hoặc do tác động của điều kiện khách quan thì còn có hình thái độc quyền do chính Nhà nước tạo ra để phục vụ mục tiêu của mình, hay còn được gọi là độc quyền nhà nước (được phái sinh từ công quyền). Đây là sản phẩm của ý thức chủ quan thông qua chính sách tập trung hóa sản xuất của nhà nước. Theo thông lệ quốc tế và luật pháp của nước ta, những loại hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho mục đích quốc phòng an ninh, danh mục hàng hóa cấm kinh doanh chỉ có một số doanh nghiệp mới được phép thực hiện, nên việc kinh doanh thuộc trường hợp độc quyền nhà nước. Nội dung pháp luật liên quan đến việc thực hiện độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại hiện nay đang được quy định rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, cụ thể như: Khoản 4 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 quy định “Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia.
Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước”. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 6 Luật Thương mại chưa được hướng dẫn chi tiết theo định hướng, mục tiêu và phạm vi rõ ràng dưới hình thức một Danh mục công khai minh bạch nên việc thực hiện độc quyền Nhà nước trong thương mại hiện nay đang được thực hiện chủ yếu theo quy định của một hệ thống tương đối lớn pháp luật chuyên ngành. Điều 12, 13, 14, 15 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định về doanh nghiệp độc quyền, các quy định kiểm soát doanh nghiệp độc quyền và các 11 biện pháp kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước, doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Nghị định 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp của Việt Nam.
Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg quy định Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đối với những doanh nghiệp hoạt động trong một số các ngành, lĩnh vực. Nghị định 25/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Thực tiễn trên cho thấy có những lĩnh vực cần thiết phải thực hiện độc quyền Nhà nước vì lý do an ninh, quốc phòng hoặc mục tiêu chính sách đặc thù của nhà nước. Trong những năm gần đây, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò và vị trí của thương mại nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã có nhiều biến chuyển sâu sắc.
Những thay đổi này xuất phát từ quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chủ trương thực hiện độc quyền nhà nước trong lĩnh vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.