đặt vấn đề nghiên cứu các loại hình thái thị trường một cách toàn diện. Trên thực tế, cả thời kỳ sơ khai của sản xuất hàng hoá cũng không tồn tại thị trường cạnh tranh hoàn hảo theo đúng ý nghĩa vốn có của nó. Chỉ có một số loại hình thị trường có dáng dấp gần với mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo tồn tại ở một số ngành như sản xuất nông nghiệp phân tán hoặc trong phạm vi một khu vực buôn bán nhỏ ở một số thành phố. Thị trƣờng độc quyền Độc quyền là một hình thái thị trường trong đó có một doanh nghiệp duy nhất bán một sản phẩm mà không có một sản phẩm thay thế gần giống với nó (được gọi là độc quyền bán), hoặc chỉ có một người mua (được gọi là độc quyền mua).
Do vậy độc quyền là thái cực trái ngược với cạnh tranh hoàn hảo. So sánh thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Khi một ngành công nghiệp mang tính cạnh tranh hoàn hảo ở trong trạng thái cân bằng dài hạn thì mỗi doanh nghiệp sẽ sản xuất với chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm thấp nhất và cũng bán với giá cạnh tranh thấp nhất. Ngược lại trong độc quyền, sản xuất thường không được tiến hành ở điểm chi phí bình quân thấp nhất, do việc gia nhập thị trường là rất khó khăn và nhà độc quyền về lâu dài sẽ thu được lợi nhuận độc quyền.
Nhưng từ đây chúng ta chưa thể kết luận được là cạnh tranh hoàn hảo nhất thiết phải tốt hơn hay hiệu quả hơn độc quyền. Cạnh tranh hoàn hảo chỉ có hiệu quả hơn độc quyền nếu qui mô tối thiểu hiệu quả (MES) của mỗi doanh nghiệp là rất nhỏ so với toàn bộ nhu cầu thị trường, điều này sẽ cho phép nhiều doanh nghiệp hoạt động và nếu sản phẩm là đồng nhất thì cạnh tranh hoàn hảo có thể xảy ra. Nhưng thực tế điều này ít xảy ra, bởi vì trong nhiều ngành qui mô tối thiểu hiệu quả thường 16 là lớn do vậy có rất ít doanh nghiệp hoạt động để thoả mãn nhu cầu thị trường. Tính kinh tế của qui mô sản xuất đã đòi hỏi một số ngành như thép, nhôm, ô tô, vỏ máy tính, máy bay và rất nhiều dịch vụ phải có sản lượng đầu ra lớn để sản xuất có hiệu quả cao.
Như vậy, chỉ có một vài doanh nghiệp rất lớn tồn tại để đáp ứng toàn bộ nhu cầu thị trường. Dưới những điều kiện như vậy thì không thể có cạnh tranh hoàn hảo hoặc nếu có thì chỉ với điều kiện chi phí sản xuất rất cao. Chẳng hạn, giá của một chiếc xe ô tô sẽ rất cao nếu có 100 hãng cùng sản xuất thay cho vị trí của 3 hay 4 hãng rất lớn. Cũng có một số người cho rằng khả năng cho phép nhà độc quyền thu được lợi nhuận cao sẽ tạo cho nhà độc quyền có vốn và khuyến khích để đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
Điều này là một suy đoán rất quan trọng vì một phần rất lớn của khả năng tăng điều kiện sống của các nước công nghiệp phát triển có nguồn gốc từ tiến bộ trong công nghệ. Tuy vậy, vẫn có nhiều người không đồng tình với quan điểm cho rằng độc quyền sẽ mang lại nhiều đổi mới về công nghệ hơn so với cạnh tranh hoàn hảo. Cũng có một số người cho rằng một nhà độc quyền được che chắn đối với cạnh tranh và không có nhiều động cơ để cải tiến sản xuất và thực tế rất nhiều công nghệ mới đã được áp dụng ở những doanh nghiệp rất nhỏ. Chỉ khi chúng ta không xét tiến bộ công nghệ và giả định rằng công nghệ được sử dụng để sản xuất sản phẩm cho phép rất nhiều doanh nghiệp sản xuất có hiệu quả thì chúng ta mới có thể chứng minh được cạnh tranh hoàn hảo là tốt hơn độc quyền theo giác độ toàn xã hội.
Tóm lại, chúng ta có thể chứng minh rằng cạnh tranh hoàn hảo sẽ dẫn đến việc sử dụng có hiệu quả hơn của cải và nguồn lực xã hội so với độc quyền chỉ khi công nghệ sản xuất sản phẩm cho phép nhiều doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trên thị trường. Song thông thường do tính kinh tế của qui mô sản xuất luôn đòi hỏi sản lượng sản xuất của một doanh nghiệp phải 17 lớn, và như vậy chỉ có một hay rất ít doanh nghiệp là có thể thoả mãn được toàn bộ thị trường của một sản phẩm. Thị trƣờng độc quyền nhóm Độc quyền nhóm là một hình thái tổ chức thị trường trong đó có một số người cạnh tranh với nhau trong việc bán một sản phẩm thuần nhất. Tuỳ theo tham số hành động của các tập đoàn độc quyền là giá hay là lượng ta sẽ có hai dạng cạnh tranh tương ứng giữa các tập đoàn độc quyền, cạnh tranh về giá và cạnh tranh về lượng.
Khác với thị trường độc quyền, nơi mà giá và sản lượng độc quyền không phụ thuộc vào tham số hành động. Ở thị trường độc quyền nhóm, giá bán và lượng cung ứng phụ thuộc đáng kể vào sự lựa chọn này. Cạnh tranh về lượng thường xảy ra khi việc điều chỉnh sản lượng có khó khăn nhất định và tốn kém. Trong thực tế, cạnh tranh về lượng thường được thực hiện khi các công ty đưa ra quyết định về công suất sản xuất ở giai đoạn trước khi nhập cuộc hoặc điều chỉnh lại công suất đối với các công ty đã ở trong cuộc rồi (đổi mới nhà máy, thay đổi qui trình công nghệ.), cạnh tranh về giá thường được tiến hành ở giai đoạn sau nhập cuộc.
Lý thuyết đã chỉ ra rằng, chi phí cố định chỉ tác động lên giá một cách gián tiếp, thông qua việc quyết định qui mô nhập cuộc ở giai đoạn một (giai đoạn cạnh tranh về lượng). Giá chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp của cuộc cạnh tranh ở giai đoạn sau nhập cuộc tức là cạnh tranh về giá. Hệ quả là cạnh tranh về giá càng khốc liệt ở giai đoạn sau sẽ dẫn đến một thị trường có cơ cấu tập trung hơn, tức là với một qui mô cầu cho trước, các công ty tham gia thị trường sẽ có qui mô lớn hơn và do đó số lượng các công ty ít hơn - Cạnh tranh giữa các tập đoàn độc quyền với sự phân liệt sản phẩm theo chiều ngang (theo không gian). Ví dụ, trên cả nước có một số doanh nghiệp sản xuất xi măng (sản phẩm tương đối thuần nhất) nằm ở các vị trí khác nhau và thị trường này có thể xếp 18 vào loại độc quyền nhóm với sự phân liệt sản phẩm theo không gian.
Trên thực tế, chi phí vận chuyển và bảo quản xi măng rất lớn và do đó mỗi doanh nghiệp có thể thay đổi giá cả của mình ở mức độ nào đó đối với người tiêu dùng trong vùng sản xuất của doanh nghiệp mà không ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ xi măng của các doanh nghiệp khác. Như vậy, mỗi doanh nghiệp đều được lợi thế độc quyền địa phương và dưới giác độ đó cơ cấu thị trường này thực chất là tập hợp của các độc quyền ở trên các thị trường nhánh. - Cạnh tranh giữa các tập đoàn độc quyền với sự phân liệt sản phẩm theo chiều dọc (theo tính chất sản phẩm). Một dạng đặc biệt của thị trường này trong đó có một số lượng người bán đáng kể cạnh tranh, song mỗi người bán đó lại có một sức mạnh độc quyền nào đó, được gọi là thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền.
Thị trường dịch vụ viễn thông trong đó có sự cạnh tranh giữa điện thoại có dây với điện thoại di động (các dịch vụ này có khả năng thay thế lẫn nhau ở một mức độ nhất định) là một ví dụ khác của thị trường độc quyền nhóm với sự phân liệt sản phẩm theo tính chất. Thực tế cho thấy, các công ty đều có xu thế phân liệt sản phẩm (hoặc theo không gian hoặc theo tính chất) một cách tối đa để giảm mức độ khốc liệt của cạnh tranh. Mặt khác các công ty có xu hướng làm gia tăng thị phần của mình thông qua đẩy mạnh quảng cáo, nâng cấp chất lượng dịch vụ.cách này được gọi là cạnh tranh phi giá cả. Ví dụ, khi General Motors có một chiến lược quảng cáo lớn, thì Ford và Chrysler sẽ nhanh chóng làm theo.
Khi hãng Pepsicola có một chiến dịch quảng cáo lớn trong những năm 80 thì hãng Cocacola cũng đáp lại bằng một chiến dịch quảng cáo của riêng họ. Hành vi của các bên tham gia thị trường. Do mục đích cơ bản của người tiêu dùng là tối đa hoá lợi ích tiêu dùng, của người sản xuất là tối đa hoá lợi nhuận. Vì vậy, tuỳ thuộc vào hình thái thị trường cụ thể mà họ có những phương thức ứng xử khác nhau vì những mục đích trên.
Song nhìn chung dù 19 ở bất kỳ hình thái thị trường nào, bất cứ ai khi tham gia thị trường đều rất quan tâm đến hai loại tham số, tham số hành động và tham số chờ đợi. Tham số hành động là đại lượng kinh tế mà người kinh doanh dùng nó để đạt mục đích của mình. Tham số chờ đợi là một biến số mà người kinh doanh không thể quyết định được, trái lại nó được qui định do các nhà kinh doanh khác (hoặc người mua) trên cơ sở đáp lại hoặc phản ứng lại tham số hành động của bên bán. Ví dụ: Hai tham số giá cả và lượng cung ứng.
Một doanh nghiệp sản xuất độc quyền có thể lựa chọn một trong hai tham số trên là tham số hành động. Giả định họ chọn giá cả làm tham số hành động của mình thì người mua sẽ chiếm lấy tham số chờ đợi, tức là người mua sẽ qui định số lượng có thể tiêu thụ được của việc doanh nghiệp độc quyền với giá bán do họ định ra. Trái lại, nếu doanh nghiệp độc quyền muốn quy định số lượng bán ra (tham số hành động) thì người mua sẽ quy định mức giá (tham số chờ đợi) để có thể tiêu thụ khối lượng đó. Tuy nhiên, một doanh nghiệp độc quyền bao giờ cũng thích lựa chọn giá cả làm tham số hành động và khống chế sản lượng cung ứng ở mức “hàng hiếm” để đạt được lợi nhuận tối đa.
Đó là phương sách ứng xử ít tốn kém nhất và hoàn toàn độc lập.