Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2009-2011 chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ của kinh tế vĩ mô Việt Nam dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Tốc độ tăng trưởng GDP giảm từ 8,46% năm 2007 xuống còn 5,89% năm 2011, trong khi tỷ lệ lạm phát tăng vọt từ 8,30% lên 18,68%. Trước sức ép lạm phát, việc thắt chặt chính sách tiền tệ đã đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, khiến hơn 79.000 doanh nghiệp phá sản trong năm 2011 và lãi suất liên ngân hàng có thời điểm chạm mức gần 40%/năm. Hệ thống ngân hàng thương mại đối mặt với nợ xấu gia tăng từ 2,2% năm 2009 lên 8,8% năm 2012 theo số liệu công bố, trong khi tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch ước tính nợ xấu thực tế vượt 10 tỷ USD, chiếm gần 10% GDP.

Mặc dù rủi ro hệ thống leo thang, các ngân hàng thương mại cổ phần vẫn liên tục công bố mức lợi nhuận lớn và thực hiện chính sách chi trả cổ tức tiền mặt ở mức rất cao. Đề tài tập trung phân tích thực trạng chính sách cổ tức của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2009-2011 nhằm làm rõ bản chất của hiện tượng chuyển dịch rủi ro từ chủ sở hữu sang người gửi tiền và người nộp thuế. Nghiên cứu khảo sát toàn diện 40 ngân hàng thương mại cổ phần và đối sánh với 634 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán HSX và HNX. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ cách thức 31.000 tỷ đồng cổ tức tiền mặt được chi trả từ 83.500 tỷ đồng lợi nhuận đã trực tiếp làm xói mòn bộ đệm an toàn vốn, qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc thiết lập khung quy định hạn chế phân phối cổ tức trong quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung phân tích của nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết tài chính doanh nghiệp cổ điển và các mô hình kinh tế ngân hàng hiện đại. Trường phái cổ tức không liên quan của Modigliani và Miller năm 1961 cho rằng chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoàn hảo. Ngược lại, lý thuyết cổ tức có liên quan của Lintner năm 1956 và Bar-Yosef cùng Huffman năm 1986 khẳng định cổ tức đóng vai trò then chốt do sự tồn tại của bất đối xứng thông tin và chi phí giao dịch. Nghiên cứu phát triển sâu hơn dựa trên lý thuyết phát tín hiệu của Bessler và Nohel năm 1996, chỉ ra rằng việc cắt giảm cổ tức trong ngành ngân hàng khiến giá cổ phiếu sụt giảm trung bình 15,87%, cao hơn rất nhiều so với mức giảm 3,5% của khối doanh nghiệp công nghiệp phi tài chính.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết rủi ro đạo đức và mô hình định giá bảo hiểm tiền gửi như một quyền chọn bán của Merton năm 1977, cùng các phân tích của Keeley năm 1990 và Acharya năm 2011. Các khái niệm cốt lõi bao gồm: giá trị vốn hóa kỳ vọng (charter value), sự chuyển dịch rủi ro (risk-shifting), hiện tượng lựa chọn ngược (adverse selection) trong quan hệ đại diện theo mô hình của Bhattacharyya và Elston năm 2011, cùng hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR). Khi sự bảo trợ của chính phủ tồn tại ngầm định và giá trị vốn hóa thị trường bị suy giảm nghiêm trọng, các cổ đông nội bộ nắm quyền điều hành có xu hướng gia tăng trả cổ tức tiền mặt để rút vốn ban đầu, đẩy rủi ro vỡ nợ về phía người gửi tiền và cơ quan quản lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên và bản cáo bạch giai đoạn 2009-2011 của 40 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Nhằm thiết lập hệ quy chiếu so sánh đa chiều, dữ liệu đối chứng được thu thập từ 634 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), kết hợp với số liệu thống kê chính thức từ Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thế giới và Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Hoa Kỳ (FDIC).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài thực hiện chọn mẫu toàn bộ đối với 40 trong tổng số 42 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, loại trừ 2 ngân hàng thương mại nhà nước là BIDV và Agribank do chưa hoàn tất cổ phần hóa trước năm 2011. Toàn bộ mẫu 40 ngân hàng được phân chia thành hai nhóm đối chứng rõ ràng: Nhóm 1 gồm 9 ngân hàng gặp khó khăn tài chính trầm trọng thuộc diện buộc phải tái cơ cấu và Nhóm 2 gồm 31 ngân hàng duy trì trạng thái hoạt động bình thường.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phân tích thống kê mô tả, phân tích định tính chuyên sâu kết hợp phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình. Lý do lựa chọn phương pháp định tính và thống kê so sánh thay vì xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng là vì mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu hướng vào việc bóc tách bản chất các hành vi méo mó về thể chế, sự lách luật về chỉ tiêu an toàn vốn và động cơ chuyển dịch rủi ro của ban điều hành trong giai đoạn tái cơ cấu đặc thù, thay vì chỉ đo lường mức độ tương quan cơ học giữa các biến số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ chi trả cổ tức trên lợi nhuận của toàn hệ thống ngân hàng duy trì ở mức rất cao và tăng liên tục qua các năm: đạt 33,4% năm 2009, tăng lên 35,0% năm 2010 và đạt đỉnh 41,2% năm 2011. Khi tính theo phương pháp bình quân trọng số theo quy mô vốn điều lệ, tỷ lệ này tăng từ 35,5% năm 2009 lên mức kỷ lục 52,8% năm 2011. Trong giai đoạn 2010-2011, khi lợi nhuận toàn ngành chỉ tăng thêm 6,2 nghìn tỷ đồng (tương ứng mức tăng 21,4%), thì số tiền chi trả cổ tức lại tăng thêm tới 4,3 nghìn tỷ đồng (tương ứng mức tăng 42,8%), đồng nghĩa với việc các ngân hàng đã trích gần 70% phần lợi nhuận tăng thêm để chia cổ tức tiền mặt.

Thứ hai, ngành ngân hàng duy trì mức chi trả cổ tức vượt trội so với khối doanh nghiệp phi tài chính. Trong cả giai đoạn 2009-2011, 40 ngân hàng đã chi tới 31.000 tỷ đồng cổ tức trên tổng số 83.500 tỷ đồng lợi nhuận (tỷ lệ 37,2%), trong khi 634 doanh nghiệp phi tài chính chỉ chi 33.100 tỷ đồng cổ tức trên 124.700 tỷ đồng lợi nhuận (tỷ lệ 28,6%). Tính theo bình quân trọng số, tỷ lệ cổ tức trên lợi nhuận của ngân hàng đạt 41,0%, cao hơn đáng kể so với mức 32,0% của khối phi tài chính.

Thứ ba, các ngân hàng thuộc diện yếu kém tài chính (Nhóm 1) lại trả cổ tức cao đột biến so với nhóm ngân hàng lành mạnh (Nhóm 2). Năm 2009, tỷ lệ trả cổ tức của Nhóm 1 là 37,0% so với 33,0% của Nhóm 2; năm 2010 là 43,0% so với 34,0%; và năm 2011 vọt lên 135,0% so với 39,0% của Nhóm 2. Điển hình như Ngân hàng Nhà Hà Nội (HBB) trả cổ tức 178% lợi nhuận năm 2011 trước khi sáp nhập vào SHB; Ngân hàng Phương Tây (WEB) trả 124% lợi nhuận năm 2011; đặc biệt Ngân hàng Tiên Phong (TPB) dù lỗ 347,4 tỷ đồng năm 2011 nhưng vẫn chi gần 150 tỷ đồng cổ tức tiền mặt.

Thứ tư, chính sách cổ tức của các ngân hàng Việt Nam hoàn toàn nghịch chiều với thông lệ quốc tế. Tại Hoa Kỳ, trong khủng hoảng 2007-2009, các ngân hàng thương mại nhận cứu trợ đã cắt giảm mạnh cổ tức từ 11,19 tỷ USD trong quý 4 năm 2007 xuống chỉ còn 0,78 tỷ USD trong quý 4 năm 2009, kéo tỷ lệ cổ tức trên tổng tài sản giảm sâu từ 0,08% xuống 0,02%. Ngược lại, các ngân hàng Việt Nam lại đẩy mạnh chia tiền mặt ngay trong giai đoạn căng thẳng thanh khoản nhất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng nghịch lý này xuất phát từ sự bảo trợ ngầm định của chính phủ đối với hệ thống ngân hàng theo quan điểm không để tổ chức tín dụng nào đổ vỡ nhằm ngăn ngừa hiệu ứng lây lan. Khi nhận thấy giá trị vốn hóa bị xói mòn và nguy cơ mất quyền kiểm soát hiển hiện trước yêu cầu sáp nhập theo Quyết định số 254/QĐ-TTg, các cổ đông lớn và ban điều hành đã nảy sinh tâm lý không còn gì để mất. Họ sử dụng kỹ thuật kế toán để tạo ra lợi nhuận danh nghĩa nhằm nhanh chóng rút phần vốn đã đầu tư ban đầu thông qua cổ tức tiền mặt, chuyển giao toàn bộ rủi ro mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền và ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, việc áp dụng quy định tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP đã tạo ra làn sóng sở hữu chéo và tăng vốn ảo, khiến năng lực quản trị thực tế không theo kịp quy mô tài sản. Ban điều hành có trình độ yếu kém đã sử dụng cổ tức cao như một công cụ phát tín hiệu sai lệch về sức khỏe tài chính nhằm duy trì sự tín nhiệm giả tạo từ thị trường.

Các dữ liệu thực nghiệm trong nghiên cứu có thể được hệ thống hóa và trình bày trực quan thông qua các bảng thống kê đối chiếu ba phương pháp đo lường (tỷ lệ tổng gộp, trung bình cộng và bình quân trọng số vốn điều lệ) và hệ thống biểu đồ cột kép so sánh diễn biến chi trả cổ tức giữa Nhóm 1 và Nhóm 2 qua các năm 2009, 2010 và 2011. Những phát hiện này khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng các chế tài giám sát vốn chặt chẽ theo chuẩn mực Basel III để bảo vệ kỷ luật thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khắc phục triệt để các méo mó trong chính sách cổ tức và ngăn ngừa rủi ro đạo đức trong hệ thống ngân hàng, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, đình chỉ ngay việc chi trả cổ tức tiền mặt đối với các ngân hàng yếu kém. Ngân hàng Nhà nước cần ban hành quy định cấm tuyệt đối việc phân phối cổ tức tiền mặt đối với các tổ chức tín dụng có hệ số CAR dưới mức 9%, tỷ lệ nợ xấu vượt quá 3%, có lỗ lũy kế hoặc đang phải tiếp nhận các nguồn vốn vay tái cấp vốn hỗ trợ thanh khoản. Mục tiêu đưa tỷ lệ chi trả cổ tức của nhóm ngân hàng tái cơ cấu về mức 0% ngay trong giai đoạn 2013-2015.

Thứ hai, cắt giảm từng bước sự bảo trợ ngầm của chính phủ. Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi cần xây dựng lộ trình xử lý phá sản có kiểm soát đối với các ngân hàng mất khả năng thanh toán, từng bước đưa cơ chế lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn tiệm cận lãi suất thị trường dựa trên mức độ rủi ro của từng tổ chức tín dụng trước năm 2015.

Thứ ba, thực thi nghiêm ngặt khung an toàn vốn Basel III và Thông tư số 13/2010/TT-NHNN. Cơ quan Thanh tra, Giám sát Ngân hàng cần bắt buộc các ngân hàng thương mại duy trì bộ đệm bảo toàn vốn 2,5% bên cạnh vốn cấp 1 tối thiểu 6%, đồng thời thực hiện trích lập đầy đủ 100% dự phòng rủi ro nợ xấu trước khi xem xét bất kỳ kế hoạch phân phối lợi nhuận nào.

Thứ tư, chuẩn hóa năng lực quản trị và xóa bỏ sở hữu chéo. Ngân hàng Nhà nước cùng Bộ Tài chính cần thiết lập các tiêu chuẩn năng lực quốc tế bắt buộc đối với hội đồng quản trị và ban điều hành, minh bạch hóa 100% cơ cấu cổ đông lớn, đồng thời kiểm tra dòng tiền góp vốn để triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng vốn ảo và sở hữu chéo trước năm 2015.

Thứ năm, phát triển thị trường vốn để giảm tải sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần đẩy mạnh quy mô thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu nâng quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt 50% GDP vào năm 2015 và 70% GDP vào năm 2020 nhằm đa dạng hóa kênh cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế can thiệp sớm (Prompt Corrective Action), ban hành các thông tư kiểm soát chính sách phân phối cổ tức và thiết kế các đề án tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng hiệu quả hơn.

Thứ hai, thành viên hội đồng quản trị và ban điều hành các ngân hàng thương mại. Tài liệu là cẩm nang hữu ích để xây dựng chiến lược quản trị vốn tự có, xác định tỷ lệ lợi nhuận giữ lại tối ưu nhằm củng cố hệ số CAR, đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích giữa cổ đông lớn và người gửi tiền.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật sâu sắc về lý thuyết bất đối xứng thông tin, chi phí đại diện và mô hình định giá quyền chọn bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển.

Thứ tư, các chuyên viên phân tích tài chính và nhà đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán. Luận văn cung cấp phương pháp luận và các chỉ báo cảnh báo sớm giúp nhà đầu tư nhận diện các dấu hiệu rút vốn, làm đẹp báo cáo tài chính và rủi ro thanh khoản tiềm ẩn đằng sau các con số cổ tức cao bất thường của các ngân hàng niêm yết.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các ngân hàng Việt Nam lại tăng chi trả cổ tức trong giai đoạn khủng hoảng 2009-2011?

Do áp lực từ các khoản lỗ tiềm tàng và nguy cơ bị sáp nhập, các cổ đông lớn đã tận dụng sự bảo trợ ngầm của nhà nước để rút vốn đầu tư ban đầu thông qua cổ tức tiền mặt. Tỷ lệ cổ tức trên lợi nhuận toàn ngành đã tăng mạnh từ 33,4% năm 2009 lên 41,2% năm 2011, với tổng số tiền cổ tức chi trả lên tới 31.000 tỷ đồng trong 3 năm.

Nhóm ngân hàng yếu kém tài chính có hành vi chi trả cổ tức khác biệt như thế nào so với nhóm bình thường?

Nhóm ngân hàng yếu kém chi trả cổ tức cao hơn đột biến so với nhóm lành mạnh nhằm phát tín hiệu giả tạo về khả năng thanh khoản. Năm 2011, tỷ lệ trả cổ tức của nhóm yếu kém lên tới 135% (đạt 320% nếu tính cả khoản lỗ 347,4 tỷ đồng của TPB), trong khi nhóm ngân hàng bình thường chỉ duy trì mức 39%.

Sự bảo trợ của chính phủ dẫn đến rủi ro đạo đức trong việc trả cổ tức như thế nào?

Chính sách cam kết không để ngân hàng đổ vỡ đã triệt tiêu động cơ giám sát của người gửi tiền và biến bảo hiểm tiền gửi thành công cụ bảo hộ rủi ro cho chủ ngân hàng. Các chủ sở hữu tự do quyết định chia cổ tức tiền mặt cao để hưởng lợi, trong khi toàn bộ rủi ro thâm hụt vốn được chuyển sang cho người nộp thuế.

Chính sách cổ tức của ngân hàng Việt Nam khác biệt gì so với các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ trong khủng hoảng?

Ngân hàng Hoa Kỳ tuân thủ nghiêm ngặt quy định cắt giảm cổ tức khi nhận vốn cứu trợ, kéo tổng mức chi trả cổ tức hàng quý giảm mạnh từ 11,19 tỷ USD năm 2007 xuống 0,78 tỷ USD năm 2009. Ngược lại, các ngân hàng Việt Nam lại gia tăng mạnh tỷ lệ chi trả bình quân trọng số từ 35,5% lên 52,8% cùng thời kỳ.

Cơ chế quản lý nào là cấp thiết nhất để ngăn chặn tình trạng rút vốn qua cổ tức tại các ngân hàng?

Ngân hàng Nhà nước cần áp dụng ngay cơ chế can thiệp sớm tương tự quy định PCA của FDIC và chuẩn mực an toàn vốn Basel III. Cơ chế này yêu cầu đình chỉ hoàn toàn việc chia cổ tức bằng tiền mặt khi ngân hàng có CAR dưới mức chuẩn, tỷ lệ nợ xấu vượt 3% hoặc chưa trích lập đủ 100% dự phòng rủi ro.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã làm rõ bản chất của việc chi trả cổ tức cao tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2009-2011 là hệ quả trực tiếp của rủi ro đạo đức phát sinh từ sự bảo trợ ngầm của chính phủ.
  • Hành vi tăng tỷ lệ trả cổ tức lên tới 41,2% năm 2011 và đạt 135% tại nhóm ngân hàng yếu kém đã chứng minh động cơ rút vốn của các cổ đông lớn khi giá trị vốn hóa kỳ vọng bị suy giảm nghiêm trọng.
  • Chính sách cổ tức tiền mặt thiếu kiểm soát đã làm suy yếu bộ đệm an toàn vốn, gia tăng rủi ro nợ xấu thực tế lên mức gần 10% GDP và chuyển dịch toàn bộ tổn thất sang người gửi tiền cùng người nộp thuế.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng cần khẩn trương thiết lập khung pháp lý cấm chia cổ tức đối với các tổ chức tín dụng yếu kém, đồng thời triển khai toàn diện chuẩn mực Basel III trong giai đoạn 2013-2015.
  • Để bảo vệ sự an toàn và bền vững của hệ thống tài chính quốc gia, các cơ quan điều hành chính sách, giới nghiên cứu và lãnh đạo các định chế tài chính cần nghiêm túc tiếp cận các hàm ý chính sách từ luận văn để xây dựng kỷ luật thị trường minh bạch và vững chắc.