phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày thành bốn chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm soát chi vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách nhà nƣớc. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Đánh giá công tác kiểm soát chi vốn đầu tƣ XDCB của KBNN quận Thanh Xuân giai đoạn 2010 -2014 Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi vốn đầu tƣ XDCB qua KBNN quận Thanh Xuân 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƢ XDCB QUA KBNN 1. Những vấn đề cơ bản về vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN 1.
Khái niệm, đặc điểm của vốn đầu tư XDCB từ NSNN - Tại điều 1, chƣơng I Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 01/2002/QH 11 do Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 thì : “ Ngân sách Nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyển quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. - Theo Luật Đầu tƣ số 59/2005/QH 11 thì: “ Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ ” - Luật đầu tƣ số 59/2005/QH 11 cũng định nghĩa : “ Vốn đầu tƣ là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tƣ theo hình thức đầu tƣ trực tiếp hoặc đầu tƣ gián tiếp”.TS Phan Thị Cúc (2010), Tài chính công, Trƣờng Đại học Công nghiệp Tp Hồ Chí Minh thì: “Đầu tƣ xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, nhằm từng bƣớc tăng cƣờng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế”. - Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là khoản khoản vốn ngân sách nhà nƣớc dành cho đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế không có khả năng thu hồi và các khoản chi đầu tƣ khác theo quy định của luật ngân sách đƣợc hình thành từ các khoản thu ngân sách nhà nƣớc bao gồm: thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ các hoạt động kinh tế khác của nhà nƣớc, các 5 khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Vai trò của vốn đầu tư XDCB từ NSNN - Vốn đầu tƣ có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế,vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định kinh tế của mọi quốc gia.
Do vậy các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô cần điều hành sao cho hạn chế các tác động xấu, phát huy tác động tích cực,duy trì đƣợc sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế. - Vốn đầu tƣ tạo ra năng lực sản xuất mới, hình thành phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng tích lũy cho nền kinh tế. - Vốn đầu tƣ quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, giải quyết các vấn đề mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, phát huy tối đa các lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của từng vùng lãnh thổ. Phân loại vốn đầu tư XDCB từ NSNN Phân loại theo nguồn vốn: Theo Điều 2, phần I thông tƣ 86/2011/TT-BTC thì vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN gồm : “ vốn trong nƣớc của các cấp NSNN” và “ vốn Vốn vay nợ nƣớc ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nƣớc ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nƣớc (phần ngân sách nhà nƣớc)”.
Vậy ta có thể hiểu: - Vốn trong nƣớc: Vốn ngân sách nhà nƣớc dành để chi cho đầu tƣ phát triển, chủ yếu để đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, chi cho các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nƣớc và các khoản chi đầu tƣ phát triển khác theo quy định của pháp luật. 6 - Vốn ngoài nƣớc: chủ yếu là vốn viện trợ chính thức ODA. Là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của chính phủ hoặc của các tổ chức quốc tế viện trợ cho các nƣớc đang phát triển theo 2 phƣơng thức: viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại ( tín dụng ƣu đãi). Phân loại theo tính chất đầu tư kết hợp nguồn vốn đầu tư: - Vốn đầu tƣ từ nguồn ngân sách tập trung: Là vốn đầu tƣ cho các dự án bằng nguồn vốn đầu tƣ phát triển thuộc ngân sách nhà nƣớc do cơ quan trung ƣơng và địa phƣơng quản lý.
- Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tƣ: Theo điều 18 thông tƣ 86/2011/TT – BTC thì “Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tƣ trong dự toán NSNN của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp chỉ đƣợc sử dụng cho các trƣờng hợp đầu tƣ cải tạo mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có (bao gồm cả việc xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp)”.Có nghĩa là vốn ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi thƣờng xuyên cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế mang tính chất đầu tƣ nhƣ duy tu, bảo dƣỡng, sửa chữa các công trình giao thông, nông nghiệp, thủy lợi, ngƣ nghiệp, lâm nghiệp và các dự án chƣơng trình quốc gia. Phân loại theo cấp ngân sách: Điều 4, chƣơng I Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 01/2002/QH 11 do Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 có quy định: “Ngân sách nhà nƣớc gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng”. Vậy thì: - Ngân sách trung ƣơng: Vốn đầu tƣ thuộc ngân sách nhà nƣớc do các Bộ, cơ quan ngang bộ,cơ quan thuộc chính phủ, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nƣớc quản lý. 7 - Ngân sách địa phƣơng: Vốn đầu tƣ thuộc ngân sách nhà nƣớc do các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng và các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quản lý.
Phân loại theo trình tự XDCB thì vốn đầu tư XDCB được chia thành: - Vốn chuẩn bị đầu tƣ: là những khoản vốn chi cho khảo sát thiết kế, lập, thẩm định tổng dự toán, dự toán công trình - Vốn thực hiện đầu tƣ: là các khoản vốn hợp thành giá trị công trình đƣợc nghiệm thu bao gồm: chi xây dựng công trình, chi mua sắm, gia công, vận chuyển, lắp đặt thiết bị, chi phí lập thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tƣ hoàn thành và một số khoản chi khác phục vụ cho quá trình thực hiện đầu tƣ 1. Kiểm soát chi vốn đầu tƣ XDCB qua Kho bạc Nhà nƣớc 1.1 Khái niệm kiểm soát chi vốn đầu tư XDCB Trong “Từ điển Tiếng Việt” của Nhà xuất bản Đà Nẵng của Trung tâm Từ điển học Vietlex xuất bản năm 2009 đƣa ra khái niệm về kiểm soát nhƣ sau:“ Kiểm soát có nghĩa là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”. “Kiểm soát là công việc đo lƣờng, đánh giá và điều chỉnh hoạt động của các bộ phận trong hệ thống nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch đã đề ra nhằm thực hiện mục tiêu này đã và đang đƣợc hoàn thành”(Bùi Hữu Đức, 2013, trang 186) Kiểm soát là một hoạt động đƣợc thể hiện ở tất cả các giai đoạn của công tác quản lý. Do đó, kiểm soát đƣợc quan niệm là một chức năng của quản lý.
Trong mọi hoạt động, để đảm bảo hiệu quả hoạt động của mình, tất cả mỗi đơn vị đều tự kiểm tra hoạt động trong tất cả các khâu, rà soát các tiềm năng, xem xét các dự báo, đối chiếu các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời. Các công việc rà soát đó là kiểm soát. 8 Kiểm soát chi không phải công cụ riêng có của Nhà nƣớc, mà bất kỳ thành phần kinh tế nào, trong bất kỳ hoạt động kinh tế nào cũng đều phải kiểm soát để đảm bảo chi đúng nguyên tắc, đúng chế độ, tiết kiệm chi phí với mục đích cuối cùng là sử dụng tối ƣu hiệu quả nguồn vốn. Kiểm soát chi đầu tƣ XDCB là việc cơ quan cấp phát kinh phí NSNN cho đầu tƣ XDCB thực hiện thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát toàn bộ các hoạt động, các khoản chi từ NSNN cho đầu tƣ xây dựng công trình, mua sắm, lắp đặt thiết bị gắn với công trình XDCB… đảm bảo chi đúng đối tƣợng đúng, mục tiêu của dự án đã đƣợc duyệt, các khoản chi phải tuân thủ đúng chế độ quản lý tài chính hiện hành, đúng định mức, đơn giá XDCB đƣợc cấp có thẩm quyền ban hành.
Sự cần thiết kiểm soát chi vốn đầu tư XDCB Kiểm soát chi đầu tƣ XDCB có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi các lý do sau đây: Thứ nhất, do yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nƣớc, trong quá trình đổi mới đất nƣớc , trong quá trình đổi mới cơ chế tài chính nói chung và cơ chế kiểm soát chi đầu tƣ XDCB phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả. Điều này là một tất yếu khách quan , bởi vì nguồn lực của ngân sách nhà nƣớc bao giờ cũng có hạn, nó là nguồn lực của đấtnƣớc, là tiền của và công sức lao động của nhân dân đóng góp, do đó không thể chi tiêu một cách lãng phí. Vì vậy kiểm soát chặ chẽ các khoản chi NSNN thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nƣớc, các cấp lãnh đạo, các ngành , của toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác này sẽ có ý nghĩa lớn trong việc thực hành tiết kiệm, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, chống các hiện tƣợng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế.
9 Thứ hai, do hạn chế của bản thân cơ chế quản lý chi đầu tƣ XDCB: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế,công tác chi đầu tƣ XDCB ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Điều này làm cho cơ chế quản lý chi đầu tƣ XDCB nhiều khi không theo kịp các biến động và phát triển của hoạt động chi đầu tƣ XDCB.