Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN 1.1 Lý thuyết về đại diện và nguồn gốc của chi phí đại diện.1 Lý thuyết người sở hữu và người đại diện Lý thuyết người sở hữu và người đại diện sau đây được gọi là lý thuyết đại diện, ra đời vào đầu những năm 1970 trong bối cảnh việc quản trị doanh nghiệp gắn liền với những hành vi của người chủ sở hữu và người làm thuê (người quản lý) thông qua các hợp đồng. Tuy nhiên những khái niện liên quan đến nó đã có một lịch sử lâu dài và đa dạng. Những nghiên cứu đầu tiên tập trung vào vấn đề thông tin không hoàn hảo trong hợp đồng của ngành bảo hiểm (Spence và Zeckhauser, 1971; Ross, 1973), nó nhanh chóng trở thành lý thuyết liên quan đến hợp đồng đại diện trong các ngành khác và được nghiên cứu bởi Jensen & Meckling, 1976 và một số nhà nghiên cứu khác vào đầu những năm 1970 là: Armen Alchian, Harold Demsetz, Harris, … Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người sở hữu quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc đó. Lý thuyết nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người quản lý làm việc vì lợi ích cao nhất cho người sở hữu khi họ có lợi thế về thông tin hơn và có những lợi ích khác với lợi ích của những người sở hữu này.
Lý thuyết này kết luận rằng: dưới những điều kiện thông tin không hoàn hảo, đặc điểm của hầu hết các thị trường, hai vấn đề về đại diện sẽ xuất hiện là: lựa chọn bất lợi và mối nguy cơ về đạo đức. Lựa chọn bất lợi là trường hợp người sở hữu không thể biết chắc liệu người đại diện cho mình có đủ khả năng thực hiện công việc mà họ đã được trả tiền, hay liệu khả năng làm việc của người đại diện có tương xứng với số tiền họ bỏ ra hay không. Mối nguy về đạo đức là trường hợp người sở hữu không chắc chắn liệu người đại diện có nỗ lực tối đa cho công việc được giao, hay liệu họ có trục lợi cá nhân khi họ biết rõ những thông tin mà không phải cổ đông hay ông chủ nào cũng biết? Kiểm soát chi phí đại diện trong các công ty cổ phần tại Việt Nam Trang 6/64 (*) Chủ sở hữu và người đại diện Khi các hình thức tổ chức doanh nghiệp quá phong phú bằng các hình thức tập đoàn lớn, tổng công ty lớn, liên doanh, liên kết, cổ phần, góp vốn đầu tư tư nhân, …thì phần lớn các tổ chức đều có cơ cấu là quyền sở hữu và quyền quản lý tách rời nhau. Điều dễ hiểu từ mô hình đó là một hoặc một nhóm người có vốn đầu tư vào một tổ chức nào đó (gọi là chủ sở hữu), họ không thể đứng ra trực tiếp quản lý, mà họ thuê các nhà quản lý chuyên nghiệp để thay họ làm quản lý, điều hành tổ chức đó (gọi là nhà quản lý hay người đại diện).
Từ đây, nảy sinh vấn đề về lợi ích của nhà quản lý và lợi ích của chủ sở hữu không thống nhất, phát sinh các mâu thuẫn lợi ích trong nội bộ của các tổ chức. Nhà quản lý không cố gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Các mâu thuẫn này tồn tại phức tạp do sự phân chia quyền quản lý và quyền sở hữu tài sản. Bên cạnh đó một nguyên nhân lớn nhất không thể không kể đến là nguồn thông tin.
Nhà quản lý nắm rõ nhất thông tin về hoạt động của doanh nghiệp nhưng việc cung cấp cho chủ sở hữu đến đâu là yếu tố chủ quan từ nhà quản lý và ngược lại đối với chủ sở hữu. Tức là thông tin họ tiếp nhận một cách không thống nhất. Đó là những mâu thuẫn mục tiêu phát sinh từ sự bất cân xứng thông tin và là nguồn gốc xuất hiện chi phí đại diện. Trong phạm vi luận văn, tác giả đi sâu đề cập và nghiên cứu về chi phí đại diện phát sinh trong các công ty cổ phần tại Việt Nam.
(*) Chủ sở hữu và người đại diện là ai? Chủ sở hữu là người sở hữu các tài sản của doanh nghiệp, có quyền sử dụng và định đoạt tài sản đó. Trong công ty cổ phần, chủ sở hữu là các cổ đông. Người đại diện là người được giao quyền quản lý công ty, đảm bảo mục tiêu ban đầu của chủ sở hữu. Mục tiêu chung của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, mang lại lợi nhuận cao nhất.
Bằng việc điều hành công việc ở tầm vĩ mô hay vi mô thì người quản lý phải thể hiện được năng lực quản trị của họ để đạt được điều này. Trong công ty cổ phần, nhà quản lý là người đại diện cho các cổ đông. Trong các công ty Nhà nước, chính phủ là đại diện chủ sở hữu toàn dân, mà chính Kiểm soát chi phí đại diện trong các công ty cổ phần tại Việt Nam Trang 7/64 phủ lại là một thể chế có những cá nhân, tập thể được chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện quản lý vốn nhà nước trong các công ty. Trong các công ty tư nhân thì nhà quản lý và chủ sở hữu là một nên không phát sinh chi phí đại diện.
Trong công ty TNHH thì nhà quản lý là đại diện cho phần trăm góp vốn của các thành viên góp vốn nếu doanh nghiệp thuê nhà quản lý và nhà quản lý cũng là chủ sở hữu nếu một trong số thành viên được giao quản lý doanh nghiệp. (*) Phân loại Để phân tích được yếu tố tâm lý chủ quan và khách quan dẫn đến những quyết định mà nó tạo ra chi phí đại diện. Phân loại các nhân tố ảnh hưởng là cách chúng ta hiểu rõ bản chất mối quan hệ giữa sở hữu và quản lý. Chủ sở hữu đồng thời là người quản lý Trường hợp này, chủ sở hữu cũng là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động của công ty.
Mục tiêu lợi nhuận đồng nhất giữa người chủ sở hữu và người đại diện, do đó họ sẽ tìm mọi cách để đem lại hiệu quả tối đa cho công ty cũng tức là đem lại lợi ích cho họ. Thông thường trường hợp này xảy ra ở các công ty tư nhân hay một số trường hợp công ty TNHH mà thành viên cũng là nhà quản lý. Chủ sở hữu không đồng thời là người quản lý Trường hợp này, người quản lý là người được thuê để quản lý công ty. Người quản lý nắm quyền điều hành công ty và họ ý thức được lợi ích họ làm ra cho công ty phần lớn thuộc về chủ sở hữu thuê mướn họ, lợi ích của họ được hưởng rất nhỏ.
Do đó mâu thuẫn về lợi ích giữa người quản lý và người chủ sở hữu tất nhiên sẽ phát sinh. Mô hình này thường xảy ra ở các công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH. Người sở hữu ủy thác quyền điều hành của công ty cho Hội đồng Quản trị, Ban giám đốc quản lý thay họ. Khi đó chủ sở hữu nắm bắt hoạt động kinh doanh một cách thụ động và khó có thể can thiệp vào hoạt động của công ty.
Trong khi đó người quản lý không có tài sản nhưng lại nắm được tài sản, nắm mọi thông tin trong công ty, có quyền điều hành, sử dụng các tài sản được giao phó. Kiểm soát chi phí đại diện trong các công ty cổ phần tại Việt Nam Trang 8/64 1.2 Bất cân xứng thông tin. Như đã nói ở trên, sự bất cân xứng thông tin tạo ra những mâu thuẫn mục tiêu giữa nhà quản lý và chủ sở hữu. Vì vậy tôi trình bày rõ thêm về Bất cân xứng thông tin như sau: nhà quản lý là người nắm bắt thông tin đầy đủ nhất về hoạt động sản xuất kinh doanh, về nguồn tài trợ, các dự án đầu tư,.
của công ty. Trong khi đó thông tin mà nhà đầu tư biết được thì phần lớn là rất khác biệt so với thông tin mà các nhà quản lý nắm giữ. Khi đó, khả năng rất lớn là nhà đầu tư sẽ có những quyết định không đúng đắn. Điều chúng ta dễ thấy đó là sự thao túng cổ phiếu của một số cổ đông.
Bằng cách này họ sẽ làm cho giá cổ phiếu của công ty tăng cao. Các nhà đầu tư sẽ không có đầy đủ thông tin để nhận biết điều này. Các nhà đầu tư sẽ thông qua giá cổ phiếu trên thị trường mà có thể biết được công ty hoạt động hiệu quả hay không. Nhưng sự tăng giá này chỉ do một số cổ đông liên kết với nhà đầu cơ tạo ra để chuộc lợi.
Và mục tiêu là họ bán cổ phiếu với giá cao cho các nhà đầu tư trước khi các nhà đầu tư kịp nhận biết được điều gì đang xảy ra. Nhà quản lý thì biết nhiều về tiềm năng, rủi ro và các giá trị của công ty mình hơn là nhà đầu tư từ bên ngoài. Chúng ta có thể chứng minh điều này bằng cách quan sát các thay đổi giá cổ phần do các công bố của nhà quản lý. Khi một công ty công bố một gia tăng của cổ tức thường xuyên, giá cổ phần thường tăng, vì các nhà đầu tư diễn dịch việc gia tăng này như một dấu hiệu về sự tin tưởng của họ về sự phát triển của công ty làm tăng thu nhập trong tương lai của phần vốn họ đầu tư.
Theo lập luận của Modigliani và Miller, một sự gia trăng trong cổ tức đã chuyển một loại thông tin nào đó đến cổ đông. Tương tự, một cắt giảm cổ tức được xem như truyền đạt các thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong thực tế các thay đổi trong chi trả cổ tức báo hiệu cho nhà đầu tư về đánh giá của ban điều hành về lợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. Các thay đổi trong cổ tức được coi như cung cấp các tín hiệu rõ ràng về triển vọng tương lai của công ty.
Thông tin không thể chuyển tải đầy đủ bằng các phương tiện khác nhau như báo cáo thường niên và phần trình bày của ban điều hành trước các nhà phân tích chứng khoán chẳng hạn. Kiểm soát chi phí đại diện trong các công ty cổ phần tại Việt Nam Trang 9/64 Khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp hay các hoạt động tương lai do các giám đốc của doanh nghiệp hoạch định.