Báo cáo: Vận dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học Sinh học 11 tại PTTH Tràng An

Báo cáo vận dụng kĩ thuật mảnh ghép hiệu quả trong dạy học Sinh học 11. Gồm cơ sở lý luận, quy trình thiết kế, ví dụ và kết quả thực nghiệm.

Trường đại học

Trường Đại học Hoa Lư

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo khoa học và công nghệ cấp cơ sở

2024

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và định nghĩa kĩ thuật mảnh ghép dạy học

Kĩ thuật mảnh ghép (Jigsaw technique) là một phương pháp dạy học hiệu quả được áp dụng rộng rãi trong giáo dục hiện đại. Đây là kĩ thuật học tập hợp tác giúp học sinh tiếp cận kiến thức thông qua hình thức chia sẻ và tương tác nhóm. Kĩ thuật này dựa trên nguyên tắc rằng mỗi thành viên trong nhóm là một "mảnh ghép" có nhiệm vụ học tập một phần của nội dung và sau đó chia sẻ kiến thức đó với các thành viên khác. Trong dạy học Sinh học lớp 11, kĩ thuật mảnh ghép giúp phát triển năng lực tự học, kỹ năng giao tiếp và tư duy phê phán của học sinh. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong việc nâng cao sự tham gia và trách nhiệm của mỗi học sinh trong quá trình học tập.

1.1. Định nghĩa kĩ thuật mảnh ghép

Kĩ thuật mảnh ghép là một phương pháp học tập hợp tác trong đó học sinh được chia thành các nhóm nhỏ, mỗi thành viên chịu trách nhiệm học tập một phần nội dung. Sau đó, học sinh sẽ trở lại nhóm gốc để chia sẻ kiến thức đã học. Điều này tạo ra một chu trình học tập liên tục và tương tác giữa các thành viên trong nhóm.

1.2. Tầm quan trọng trong giáo dục Sinh học

Dạy học Sinh học lớp 11 đòi hỏi học sinh phải hiểu sâu về các khái niệm phức tạp như chuyển hóa vật chất, năng lượng và sinh sản. Kĩ thuật mảnh ghép giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách có hệ thống, từng bước, qua đó tăng khả năng lĩnh hội và ghi nhớ thông tin.

II. Quy trình thực hiện kĩ thuật mảnh ghép hiệu quả

Để áp dụng kĩ thuật mảnh ghép thành công trong dạy học Sinh học 11, cần tuân theo một quy trình cụ thể và khoa học. Quá trình thực hiện được chia thành hai vòng chính: vòng nhóm chuyên gia và vòng mảnh ghép. Trong vòng nhóm chuyên gia, những học sinh có nhiệm vụ học cùng một nội dung sẽ tập hợp lại để thảo luận và hiểu rõ phần kiến thức của mình. Vòng mảnh ghép là giai đoạn mà các học sinh trở về nhóm gốc để chia sẻ kiến thức đã học được. Kĩ thuật dạy học mảnh ghép yêu cầu giáo viên chuẩn bị kỹ lưỡng, phân công nhiệm vụ rõ ràng và hướng dẫn học sinh thực hiện từng bước một cách chính xác.

2.1. Giai đoạn chuẩn bị và phân công nhiệm vụ

Giáo viên cần chia nội dung bài học thành các phần độc lập, có liên hệ với nhau. Mỗi nhóm chuyên gia sẽ học một phần khác nhau. Phiếu học tập cần được thiết kế chi tiết, hướng dẫn học sinh biết cần học những gì. Việc chia nhóm phải đảm bảo sự cân bằng về năng lực học sinh.

2.2. Vòng nhóm chuyên gia và chia sẻ kiến thức

Các thành viên trong nhóm chuyên gia làm việc cùng nhau để hiểu sâu về nội dung được phân công. Giáo viên theo dõi, hỏi đáp và hướng dẫn từng nhóm. Sau đó, các thành viên nhóm chuyên gia sẽ trở về nhóm gốc để giảng dạy những gì họ đã học cho các bạn khác.

III. Ưu điểm của kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học Sinh học 11

Kĩ thuật mảnh ghép mang lại nhiều lợi ích đáng kể cho học sinh và giáo viên trong quá trình dạy học Sinh học lớp 11. Trước hết, phương pháp này tăng cường sự tham gia của từng học sinh vì mỗi người đều có trách nhiệm học tập và giảng dạy cho bạn. Thứ hai, nó giúp phát triển kỹ năng giao tiếp và hợp tác giữa các học sinh. Thứ ba, kĩ thuật mảnh ghép giúp học sinh hiểu sâu hơn về nội dung bài học vì họ phải giải thích và trả lời câu hỏi của bạn. Cuối cùng, phương pháp này tạo môi trường học tập tích cực và thúc đẩy tư duy phê phán. Theo kết quả thực nghiệm, dạy học Sinh học bằng kĩ thuật mảnh ghép giúp nâng cao điểm số và hứng thú học tập của học sinh.

3.1. Phát triển năng lực và kỹ năng học sinh

Kĩ thuật mảnh ghép giúp học sinh phát triển nhiều năng lực quan trọng như: tự học, giao tiếp, hợp tác nhóm và tư duy phê phán. Học sinh được nâng cao khả năng lĩnh hội kiến thức thông qua việc giảng dạy lẫn nhau. Phương pháp này cũng tạo điều kiện để phát triển năng lực Sinh học theo chuẩn giáo dục phổ thông 2018.

3.2. Tăng tính tích cực và hứng thú học tập

Học sinh thấy được tầm quan trọng của vai trò riêng của mình trong nhóm, từ đó tăng tính tích cực học tập. Sự kỳ vọng của bạn bè tạo động lực học tập mạnh mẽ. Dạy học Sinh học trở nên sinh động, không nhàm chán, giúp học sinh có hứng thú cao hơn với các khái niệm khó.

IV. Hạn chế và cách khắc phục khi vận dụng kĩ thuật mảnh ghép

Mặc dù kĩ thuật mảnh ghép có nhiều ưu điểm, nhưng trong quá trình thực hiện cũng gặp một số khó khăn cần khắc phục. Một hạn chế là yêu cầu quản lý thời gian cẩn thận vì phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian hơn so với dạy học truyền thống. Đôi khi học sinh chưa chủ động trong học tập hoặc không tham gia đầy đủ trong hoạt động nhóm. Ngoài ra, thiết kế nội dung phù hợp cũng là thách thức lớn. Để khắc phục những hạn chế này, giáo viên cần lên kế hoạch dạy học chi tiết, chuẩn bị phiếu học tập rõ ràng, đánh giá thường xuyên quá trình học tập của học sinh, và tạo ra môi trường lớp học khuyến khích sự tham gia của tất cả mọi người.

4.1. Những thách thức trong vận dụng thực tiễn

Giáo viên dạy Sinh học gặp khó khăn trong quản lý nhóm học sinh và đảm bảo tất cả thành viên cùng tham gia. Thiết kế hoạt động dạy học theo kĩ thuật mảnh ghép cũng đòi hỏi kỹ năng cao. Một số học sinh có thể lười học hoặc không thích hợp tác nhóm, ảnh hưởng đến hiệu quả chung.

4.2. Giải pháp và cách khắc phục hiệu quả

Giáo viên nên thiết kế kế hoạch giáo dục rõ ràng với thời gian cụ thể cho mỗi giai đoạn. Sử dụng phiếu học tập chi tiết và có các câu hỏi gợi mở giúp hướng dẫn học sinh. Đánh giá thường xuyên và công khai lợi ích của kĩ thuật mảnh ghép để khuyến khích học sinh tham gia tích cực.

18/12/2025
Vận dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học sinh học 11 tại trường phổ thông thực hành sư phạm tràng an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về quan điểm dạy học, phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của phương pháp dạy học cụ thể. Chẳng hạn: dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học phát triển năng lực.

Phương pháp dạy học là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học. Chẳng hạn: Phương pháp dạy học trực quan, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề. Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống/hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ/nội dung cụ thể của bài học. Chẳng hạn: kĩ thuật dạy học 321, kĩ thuật dạy học mảnh ghép, kĩ thuật dạy học khăn trải bàn, kĩ thuật dạy học KWLH, kĩ thuật dạy học theo Trạm.

Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học, phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học có thể được thể hiện ở sơ đồ sau: Hình 1. Ba bình diện của phương pháp dạy học Trong 3 bình diện của PPDH thì KTDH là bình diện nhỏ nhất. Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ: Trong phương pháp thảo luận nhóm có các KTDH như kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh,.

Đặc điểm chung của kĩ thuật dạy học Một số KTDH sẽ có ưu thế và thuận lợi để hình thành và phát triển một loại năng lực nào đó. Chẳng hạn, dạy học giải quyết vấn đề phù hợp với năng lực giải quyết vấn đề toán học, dạy học (bằng) mô hình hoá toán học sẽ phù hợp với năng lực mô hình hoá toán học, dạy học toán qua tranh luận khoa học phù hợp với năng lực giao tiếp toán học,. Do đó, GV cần có sự lựa chọn KTDH phù hợp trong giờ 7 dạy để nhắm đến một hoặc một vài năng lực cụ thể. Bên cạnh đó, GV cần linh hoạt vận dụng KTDH tích cực; kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng KTDH truyền thống; kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.

Phân loại kĩ thuật dạy học Dựa vào nội dung và cách thức sử dụng các KTDH tích cực trong dạy học có thể chia các KTDH tích cực thành 2 nhóm sau: [4], [5], [6]. Các kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm - Kĩ thuật “Động não” - Kĩ thuật “Khăn trải bàn” - Kĩ thuật “Thảo luận viết” - Kĩ thuật “Phòng tranh” - Kĩ thuật “XYZ” - Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy” - Kĩ thuật “Bể cá” - Kĩ thuật “Ổ bi” - Kĩ thuật “Mảnh ghép” - Kĩ thuật “Tia chớp” b. Các kĩ thuật tổ chức hoạt động cá nhân - Kĩ thuật “5W1H” - Kĩ thuật “KWLH” 1. Kĩ thuật mảnh ghép 1.

Khái niệm Kĩ thuật mảnh ghép là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm: - Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề). - Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh. - Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2). - Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân.

Cách tiến hành kĩ thuật mảnh ghép KTMG được tiến hành theo 02 giai đoạn (02 vòng) như sau (hình 1) [4] [6] Hình 1. Cách tiến hành kĩ thuật mảnh ghép Lớp học được chia thành các nhóm. Mỗi nhóm có khoảng từ 03 đến 06 HS (chuyên gia), sao cho số nhóm được chia bằng số nhiệm vụ được giao và số chuyên 8 gia bằng hoặc lớn hơn số nhóm chuyên gia. Ví dụ: có 03 nhiệm vụ học tập là nhiệm vụ A, nhiệm vụ B và nhiệm vụ C thì sẽ có 03 nhóm chuyên gia và số chuyên gia trong mỗi nhóm phải lớn hơn hoặc bằng 03.

Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (ví dụ: nhóm 1- nhiệm vụ A; nhóm 2 – nhiệm vụ B; nhóm 3 – nhiệm vụ C,. có thể có nhóm cùng nhiệm vụ). Mỗi cá nhân trong nhóm làm việc độc lập trong một khoảng thời gian để hoàn thành phiếu học tập, hoặc ghi lại câu trả lời cho câu hỏi hay chủ đề. tùy thuộc vào nhiệm vụ của giáo viên giao cho nhóm.

Các nhóm thảo luận và thống nhất ý kiến. Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2. Vòng 2: “Nhóm mảnh ghép” Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 1, mỗi thành viên từ các nhóm “chuyên gia” khác nhau hợp lại thành các nhóm mới, gọi là “nhóm mảnh ghép”, sao cho các nhóm có tối thiểu một thành viên đến từ mỗi nhóm chuyên gia. Từng thành viên từ các nhóm “chuyên gia” trong nhóm “mảnh ghép” lần lượt trình bày lại nội dung tìm hiểu của nhóm mình.

Đảm bảo tất cả thành viên trong nhóm “mảnh ghép” nắm bắt được đầy đủ toàn bộ nội dung của các nhóm chuyên gia giống như nhìn thấy một “bức tranh” tổng thể. Sau đó nhiệm vụ mới được giao cho các nhóm “mảnh ghép”. Nhiệm vụ này mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu từ các nhóm “chuyên gia”. Bằng cách này, người học có thể nhận thấy những phần vừa thực hiện không chỉ để giải trí hoặc trò chơi đơn thuần mà thực sự là những nội dung học tập quan trọng.

Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả. GV rút thăm ngẫu nhiên để gọi HS báo cáo (điểm tính cho cả nhóm) và chốt lại kiến thức. Quy trình thực hiện kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học: * Vòng 1: Vòng chuyên gia Bước 1: GV chia nhóm chuyên gia và giao nhiệm vụ cho nhóm chuyên gia Bước 2: HS nhóm chuyên làm việc cá nhân Bước 3: HS nhóm chuyên gia thảo luận nhóm và thống nhất ý kiến Bước 4: HS nhóm chuyên gia dạy cho nhau * Vòng 2: Vòng mảnh ghép Bước 5: Tách nhóm chuyên gia. GV có thể sử dụng thẻ màu hoặc đếm số.

Bước 6: Tạo nhóm mảnh ghép bằng cách hướng dẫn HS di chuyển theo sơ đồ Bước 7: Chuyên gia chia sẻ 9 Bước 8: Báo cáo trước lớp. GV gọi ngẫu nhiên nhóm/ học sinh báo cáo bằng thẻ bài hoặc quay số ngẫu nhiên. Bước 9: GV đánh giá và chốt kiến thức. Ưu điểm và hạn chế của kĩ thuật mảnh ghép [4], [5], [6], * Ưu điểm: Khi sử dụng kĩ thuật mảnh ghép sẽ mang lại một số ưu điểm như: - Giải quyết được nhiệm vụ phức hợp dựa trên học tập hợp tác hiệu quả.

- Kích thích sự tham gia tích cực của HS trong hoạt động nhóm, nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác. - Phát triển năng lực giao tiếp cho mỗi HS thông qua việc chia sẻ trong nhóm mảnh ghép. - Tạo cơ hội cho HS hiểu sâu một vấn đề, giúp HS không những hoàn thành nhiệm vụ mà còn phải chia sẻ cho người khác. * Hạn chế - Tốn thời gian để tổ chức hoạt động cho HS thực hiện nhiệm vụ học tập với hai vòng (vòng chuyên gia, vòng các mảnh ghép).

- Khi sử dụng kĩ thuật này, trong quá trình di chuyển, HS có thể gây mất trật tự trong lớp học. Một số lưu ý khi sử dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học - Số nhóm chuyên gia = k (x) số nội dung (k là số cụm ví dụ 1, 2 hay 3 cụm) - Số thành viên trong nhóm ghép ≥ số nội dung. Chỉ được đủ hoặc thừa chuyên gia, không được thiếu chuyên gia. - Có nhiều cách lập nhóm chuyên gia – mảnh ghép: đếm số, thẻ màu, thẻ hình.

- Lưu ý về nội dung + Nội dung độc lập với nhau (mảnh ghép nguyên bản): Mỗi nhóm chuyên gia chuẩn bị 01 nội dung, cụ thể mỗi chuyên gia trong nhóm tự ghi vào vở kiến thức để dạy cho các bạn trong nhóm mảnh ghép hoặc chuẩn bị theo mẫu phiếu học tập mà GV đã thiết kế. Sau đó, tạo nhóm mảnh ghép, các chuyên gia dạy lại cho nhau. Tạo điều kiện tối đa để tất cả HS đều được chia sẻ. Nếu nhóm chuyên gia cùng nhau làm một sản phẩm mà mỗi người không tự có sản phẩm riêng thì cần kết hợp với kĩ thuật trạm để trình bày (sản phẩm nào thì chuyên gia tạo ra sản phẩm đó trình bày).

+ Nội dung liên quan đến nhau: Các nhóm chuyên gia đều phải chuẩn bị tất cả các nội dung của bài (có thể theo các hình thức khác nhau như sơ đồ tư duy, poster, mô hình, phiếu học tập …). Tạo nhóm ghép – bốc thăm hoặc quy định sẵn vị trí của nội dung HS hay “hàng” di chuyển đến vị trí nào thì chỉ trình bày nội dung ở vị trí đó. Môn Sinh học trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 10 1. Đặc điểm của môn Sinh học Môn Sinh học hình thành, phát triển năng lực sinh học và góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung cho HS.

Sinh học là môn học được lựa chọn trong nhóm môn Khoa học tự nhiên ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Sinh học được xây dựng, phát triển kế thừa các nội dung từ các môn học ở giai đoạn giáo dục cơ bản. Nội dung môn Sinh học phản ánh các thuộc tính cơ bản của tổ chức sống ở các cấp độ phân tử, tế bào, cơ thể, quần thể, quần xã, hệ sinh thái, sinh quyển. Từ nội dung về các cấp độ tổ chức sống, môn Sinh học được khái quát thành các đặc tính chung của thế giới sống như: trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản, cảm ứng, di truyền, biến dị và tiến hoá.

Thông qua các mạch nội dung dạy, môn Sinh học trình bày các thành tựu công nghệ sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt, xử lí ô nhiễm môi trường, nông nghiệp và thực phẩm sạch; trong y - dược học. Đó là các cơ sở nhằm định hướng cho học sinh lựa chọn ngành nghề. Sinh học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, cho nên có quan hệ chặt chẽ, trực tiếp với các môn Vật lí, Hoá học, Toán học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ