phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng, 12 tiết.tho an tien si luan an tien si1 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gm (LUAN.tho 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu về chính sách và chính sách khu ến khích đầu tƣ 1. Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Nghiên cứu về chính sách nói chung có các tác giả: James Anderson, nhà kinh tế học ngƣời Anh - Frank Ellis, J.Tinbergen - nhà kinh tế học của Hà Lan.
Theo các ông, không có định nghĩa thống nhất về chính sách: Chính sách là hành động có mục đích để đạt các mục tiêu nào đó ho c chính sách là đƣờng lối hành động mà Chính phủ lựa chọn hay chính sách là thuật ngữ ngụ ý sự can thiệp của nhà nƣớc về kinh tế. Nghiên cứu về CSKK đầu tƣ, các tác giả tiếp cận đến chính sách công là Frank Ellis, William Jenkin, Thomas R. Các tác giả cho rằng chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đ định của đảng cầm quyền. Các nghiên cứu của các tác giả trong nước Nghiên cứu về chính sách nói chung, đƣợc đề cập khá nhiều trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, trong giáo trình chính sách kinh tế - x hội của Khoa Khoa học quản lý của Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân và các công trình nghiên cứu (sách) của tác giả V V n Ph c, Trần Thị Minh Châu.
Các nghiên cứu tập trung làm rõ khái niệm, vai trò của chính sách về các cách tiếp cận nghiên cứu chính sách dƣới các góc độ: Triết học, kinh tế, x hội học. Nghiên cứu về chính sách khuyến khích đầu tƣ, chủ yếu tập trung vào chính sách công. Các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu Hải, Đ ng Ngọc Lợi, V n Tất Thu,. đều đ làm rõ khái niệm chính sách công, bản chất của chính sách công và vai trò của chính sách công.tho an tien si luan an tien si1 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gm (LUAN.tho 12 Các nghiên cứu trực tiếp về chính sách khuyến khích đầu tƣ của các tác giả: Bùi Anh Tuấn, Trần Thị Minh Châu, Trần Nguyễn Tuyên, Đỗ Hải Hồ,.
đ đề cập đến quan niệm về đầu tƣ, chính sách đầu tƣ, vai trò của đầu tƣ trong phát triển kinh tế - x hội, đầu tƣ trong nƣớc và ngoài nƣớc. Các nghiên cứu về chính sách khu ến khích doanh nghiệp tƣ nhân đầu tƣ phát triển c ng nghiệp chế iến n ng sản và thuỷ sản Chính sách khuyến khích DNTN đầu tƣ phát triển CNCB là một chính sách cụ thể của chính sách mang tính tổng hợp - chính sách khuyến khích đầu tƣ phát triển nông nghiệp - do đó, còn rất ít các nghiên cứu chuyên về đề tài này. Song, xét theo các khía cạnh liên quan ho c một số m t nào đó trong CSKK DNTN đầu tƣ phát triển CNCB nông sản và thuỷ sản thì đ có một số nghiên cứu. Luận án tổng quan nghiên cứu vấn đề này theo các nhóm dƣới đây: 1.
Nghiên cứu về doanh nghiệp tư nhân thuộc thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trước hết, các nghiên cứu về khái niệm doanh nghiệp và DNTN. Một số tác giả có quan niệm: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tƣ cách pháp nhân, thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, ho c theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với nƣớc ngoài. Theo mục 7, điều 1, Chƣơng 1, Luật Doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc cấp giấy đ ng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số ho c tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm ho c cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích để sinh lợi [48].
Nhƣ vậy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế vị lợi, m c dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có tác động hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. "Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất, đơn vị kinh tế và đơn vị x hội cơ sở" [53].tho an tien si luan an tien si1 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gm (LUAN.tho 13 Doanh nghiệp tƣ nhân, theo Điều 183, Luật Doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp tƣ nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và phải chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp [48]. Về quy mô DNTN, quy mô sở hữu và vấn đề điều hành quản lý DNTN. Doanh nghiệp tƣ nhân gắn với hình thức sở hữu tƣ nhân (SHTN), loại hình DNTN có thể tồn tại với những quy mô khác nhau, bao gồm cả quy mô nhỏ, vừa và nhỏ.
Quy mô kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào n ng lực của chủ sở hữu, quy mô sở hữu của bản thân họ và khả n ng huy động các nguồn lực từ bên ngoài. Chủ sở hữu có thể trực tiếp thực hiện quyền sở hữu và điều hành quá trình sản xuất kinh doanh ho c uỷ quyền cho ngƣời khác thực hiện các công việc này dƣới hình thức hợp đồng thuê quản lý điều hành. Quá trình sản xuất kinh doanh do những ngƣời lao động làm thuê thực hiện [53 và 69]. Thứ hai, vai trò của doanh nghiệp (có vai trò của DNTN).
Theo Ngô Kim Thanh (2013), nền kinh tế của mỗi quốc gia đƣợc cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau, trong đó, hệ thống doanh nghiệp đƣợc coi là yếu tố quan trọng hàng đầu. Sự phát triển có hiệu quả và bền vững của nền kinh tế quốc dân, suy đến cùng, phụ thuộc vào sự phát triển hiệu quả và bền vững của hệ thống doanh nghiệp. Đến lƣợt mình, sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp chịu sự tác động trực tiếp của môi trƣờng kinh tế vĩ mô. Mức độ đạt đƣợc của hệ thống mục tiêu kinh tế - x hội của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộc vào môi trƣờng kinh doanh và khả n ng thích ứng của doanh nghiệp với hoàn cảnh môi trƣờng kinh tế [53].
Các nghiên cứu đều có sự thống nhất cao là thừa nhận doanh nghiệp nhƣ là một hình thức tổ chức sản xuất của cải trực tiếp có tính tiên tiến và hiệu quả nhất. Đồng thời, trên thực tế, doanh nghiệp đ khẳng định vai trò chủ chốt trong việc tạo nên sự giàu có và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Vì thế, ƣu tiên phát triển doanh nghiệp và tinh thần doanh nghiệp đ đƣợc in đậm dấu ấn ở những quốc gia thịnh vƣợng [57]. Trong các nghiên cứu của Hà Huy Thành (2014), Ngô Kim Thanh (2013), Nguyễn Kế Tuấn (2013), đ khẳng định vai trò của doanh nghiệp (có DNTN) nhƣ sau: (LUAN.tho an tien si luan an tien si1 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gm (LUAN.tho 14 Trong sự phát triển kinh tế - x hội, doanh nghiệp có vị trí đ c biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP).
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế, đơn vị sản xuất và đơn vị x hội cơ sở. Trong thời kỳ đổi mới, hoạt động của doanh nghiệp đ có bƣớc phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế - x hội, góp phần quyết định vào phục hồi và t ng trƣởng kinh tế, t ng kim ngạch kinh tế, t ng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề x hội, nhƣ: tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo. Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân; cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phƣơng, cơ cấu nhiều thành phần kinh tế. Có thể nói, vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về m t kinh tế, mà còn quyết định đến sự ổn định "lành mạnh hoá các vấn đề x hội của đất nƣớc".
Nghiên cứu về doanh nghiệp đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp (có công nghiệp chế biến nông, thuỷ sản) Tiến sĩ Nguyễn Đỗ Anh Tuấn và các cộng sự Viện IPSARD (2016) - Viện Chiến lƣợc và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn đ thực hiện nghiên cứu "Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới". Nghiên cứu này đ chỉ ra rằng: "Doanh nghiệp đầu tƣ vào nông nghiệp còn thiếu và yếu; khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng; n ng lực cơ giới hoá và áp dụng khoa học công nghệ (KHCN) yếu, ít đầu tƣ vào chế biến tinh, chế biến sâu; yếu kém về n ng lực liên kết với các đối tác, khả n ng tìm kiếm, tiếp cận thông tin thị trƣờng, thiếu thông tin về các rào cản kỹ thuật, các quy định thƣơng mại quốc tế. Các yếu tố này đ làm n ng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp của doanh nghiệp thấp. và quay trở lại là hạn chế đầu tƣ và ứng dụng KHCN của doanh nghiệp vào nông nghiệp.
Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Lan và cộng sự (2016) về hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV ứng dụng KHCN vào nông nghiệp, nông thôn, (LUAN.tho an tien si luan an tien si1 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gm (LUAN.tho 15 cho thấy 3 yếu tố chủ quan nội tại của doanh nghiệp tác động mạnh đến ứng dụng KHCN của doanh nghiệp, đó là vốn 71,5% đánh giá là có ảnh hƣởng rất mạnh; nguồn nhân lực 30% doanh nghiệp đánh giá là ảnh hƣởng rất mạnh và 50% doanh nghiệp e ngại tính rủi ro hay sự thất bại của việc ứng dụng KHCN trong sản xuất kinh doanh.