phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: 7 Chƣơng 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc. Chƣơng 2 – Những tiến triển của ACFTA và tác động đối với quan hệ thƣơng mại Việt – Trung Chƣơng 3 – Những giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ thƣơng mại Việt – Trung trong bối cảnh thực hiện ACFTA. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ HÌNH THÀNH KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN - TRUNG QUỐC 1.1 Các lý thuyết về tự do hoá thƣơng mại 1.1 Lý thuyết về thƣơng mại quốc tế Ngay từ giữa thế kỷ 16, trƣờng phái trọng thƣơng đã chú ý tới vai trò quan trọng của ngoại thƣơng trong việc làm tăng của cải của quốc gia. Đến thế kỷ 18, đại biểu xuất sắc của kinh tế chính trị tƣ sản cổ điển Anh Adam Smith đã đƣa ra khái niệm "lợi thế tuyệt đối" để lý giải nhận định trên.
Theo ông các nƣớc trên thế giới buôn bán với nhau vì họ khác nhau và vì họ cùng có lợi.Với lý thuyết "Lợi thế tuyệt đối", A.dam Smith đã chỉ ra rằng các nƣớc có thể dựa vào sự chuyên môn hoá sản xuất và các điều kiện tự nhiên khác nhau của mình để lựa chọn mặt hàng sản xuất phù hợp và cho năng suất cao. Sau đó, thông qua trao đổi quốc tế thì các nƣớc đều có lợi. Ngoài những khác biệt về điều kiện thiên nhiên và vị trí địa lý, giữa các nƣớc còn có sự khác biệt về năng suất lao động, nhu cầu thị trƣờng, khả năng cung ứng và sử dụng các nguồn lực. Để thể hiện đầy đủ sự khác biệt giữa các nƣớc theo những tiêu chí nhƣ vậy, các nhà kinh tế đã đƣa ra quan điểm về lợi thế so sánh hay lợi thế tƣơng đối.
Quan điểm này đƣợc thể hiện thông qua nhiều mô hình khác nhau, trong số đó phải kể đến mô hình Ricardo, mô hình các yếu tố chuyên biệt của Paul Samuelson, mô hình Heckscher- Ohlin, mô hình thương mại chuẩn. Chúng đƣợc coi là những mô hình cơ bản để giải thích về nguồn gốc những lợi ích từ thƣơng mại. Ra đời vào đầu thế kỷ 19, mô hình Ricardo đƣợc coi là mô hình đơn giản nhất lý giải về nguồn gốc những lợi ích từ thƣơng mại. Mô hình này giả 9 định rằng chỉ có một yếu tố duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất - đó là lao động và nó đƣợc di chuyển tự do từ ngành này sang ngành khác, các nƣớc khác nhau chỉ vì năng suất lao động trong các ngành công nghiệp khác nhau và mức lợi tức không đổi theo qui mô.
Nếu không có thuế quan và chi phí vận chuyển không đáng kể, các nƣớc thƣờng xuất khẩu hàng hoá mà họ sản xuất có hiệu quả và nhập khẩu hàng hoá mà họ sản xuất tƣơng đối kém hiệu quả. Điều này hàm ý rằng: “các nƣớc sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra với chi phí tƣơng đối, hay chi phí cơ hội thấp hơn các nƣớc khác” [12, 327]. Nhƣ vậy, việc chuyên môn hoá sản xuất dựa trên cơ sở lợi thế so sánh sẽ giúp cho các nƣớc có điều kiện trao đổi hàng hoá với nhau và làm cho họ cùng có lợi. Những lợi ích từ thƣơng mại có thể đƣợc thể hiện thông qua việc mở rộng khả năng tiêu dùng của các bên trao đổi và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Nhƣng nếu so sánh với thực tiễn thƣơng mại quốc tế, mô hình này còn nhiều hạn chế và đôi khi còn đƣa ra những phán đoán sai lệch nhƣ: Thứ nhất, việc chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn mà mô hình đòi hỏi là không thể có đƣợc trong thực tiễn. Thứ hai, do giả định rằng lao động có thể di chuyển tự do và không tốn kém giữa các ngành, mô hình Ricardo đã đƣa ra phán đoán không sát với thực tế khi cho rằng thƣơng mại không tác động lên sự phân phối thu nhập trong nội bộ các nƣớc. Thứ ba, mô hình Ricardo đã bỏ qua vai trò của lợi thế nhờ qui mô - một nguồn gốc của trao đổi quốc tế. Để góp phần khắc phục những hạn chế trong mô hình Ricardo, Paul Samuelson và Ronald Jones đã lý giải nguồn gốc của thƣơng mại và các lợi ích tiềm tàng của nó thông qua mô hình các yếu tố chuyên biệt.
Mô hình này giả định rằng có nhiều yếu tố khác ngoài lao động tham gia vào quá trình sản xuất, trong đó lao động là yếu tố linh hoạt, tức có thể tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau, còn các yếu tố khác là chuyên biệt, tức chúng chỉ 1 tham gia vào một ngành sản xuất nhất định nào đó. Với bất kỳ mức giá nào của sản phẩm (tức không phải do ngƣời sản xuất quyết định), mô hình các yếu tố chuyên biệt cho thấy sự có mặt của các yếu tố chuyên biệt trong quá trình sản xuất đã tạo điều kiện cho các nƣớc có thể thay đổi mức cung hàng hoá ra thị trƣờng, khi họ thay đổi lƣợng yếu tố chuyên biệt đƣợc sử dụng. Do có sự khác nhau trong cung ứng các yếu tố giữa các nƣớc, nên mỗi nƣớc sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất mặt hàng nào cần nhiều yếu tố chuyên biệt mà nó sẵn có (nƣớc có nhiều vốn sẽ tập trung sản xuất hàng công nghiệp, còn nƣớc có nhiều đất đai thì sản xuất hàng thực phẩm). Khi đó, thông qua thƣơng mại, các nƣớc có thể trao đổi với nhau những hàng hoá mà họ có điều kiện sản xuất tốt hơn.2 Mô hình thƣơng mại chuẩn Mô hình thƣơng mại chuẩn sẽ cho chúng ta một bức tranh sát với thực tế hơn về thƣơng mại quốc tế, khi nó đặt thƣơng mại trong mối quan hệ với sản xuất và tiêu dùng.
Trong mô hình thƣơng mại chuẩn, chuyên môn hoá không hoàn toàn đã đƣợc sử dụng để xác định khả năng sản xuất của các nƣớc. Điều này có nghĩa là, mỗi nƣớc sẽ sản xuất nhiều hơn những mặt hàng mà nó có lợi thế so sánh, trong khi nó vẫn sản xuất những mặt hàng khác nhƣng với số lƣợng hạn chế. Trong mô hình này, giả thuyết nhu cầu tƣơng đối là không đổi đã bị loại bỏ, nó đƣợc xác định từ sở thích tiêu dùng của các cá nhân và bị giới hạn bởi khả năng thu nhập của họ. Khi có thƣơng mại, mức cung tƣơng đối hàng hoá của thế giới đƣợc xác định từ khả năng sản xuất của tất cả các nƣớc tham gia thƣơng mại và mức cầu tƣơng đối - từ sở thích của chúng.
Sự tăng trƣởng kinh tế ở một nƣớc (sự mở rộng khả năng sản xuất thông qua sự gia tăng các nguồn lực hoặc cải thiện hiệu quả sử dụng chúng) gây tác động lên phúc lợi của các nƣớc còn lại thông qua điều kiện mậu dịch - mức giá của hàng xuất khẩu so tƣơng đối với hàng 1 nhập khẩu, theo hai hƣớng khác nhau. Khi các yếu tố khác không đổi, nếu điều kiện mậu dịch của một nƣớc đƣợc cải thiện hơn, thì sự cải thiện đó thúc đẩy sự tăng trƣởng ban đầu ở trong nƣớc đó, nhƣng lại gây tổn thƣơng cho các nƣớc khác. Ngƣợc lại, khi điều kiện mậu dịch của nƣớc này giảm đi, thì sự giảm đi đó sẽ làm mất đi một số tác động thuận lợi đến tốc độ tăng trƣởng trong nƣớc, nhƣng lại có lợi cho các nƣớc còn lại. Hƣớng tác động lên điều kiện mậu dịch này phụ thuộc vào bản chất của sự tăng trƣởng.
Thông qua mô hình thƣơng mại chuẩn, có thể thấy rõ thƣơng mại không những tác động mạnh lên phân phối thu nhập trong nội bộ một nƣớc mà nó còn tác động lên phân phối thu nhập quốc tế thông qua điều kiện mậu dịch. Mỗi nƣớc có thể đƣợc lợi hoặc bị thiệt hại từ thƣơng mại quốc tế tuỳ thuộc vào xu hƣớng tăng trƣởng kinh tế, việc áp dụng thuế quan nhập khẩu hay trợ cấp xuất khẩu. Qua các mô hình thƣơng mại quốc tế, có thể đi đến kết luận rằng các nƣớc buôn bán với nhau hoặc vì họ khác biệt về các nguồn lực, về công nghệ, hoặc vì họ khác biệt nhau về lợi thế kinh tế nhờ qui mô, hoặc vì cả hai lý do đó. Thƣơng mại luôn mang lại lợi ích cho các nƣớc tham gia và các lợi ích này là tiềm tàng.3 Lý thuyết về chủ nghĩa khu vực mở Từ những năm 1980 quá trình liên kết và hợp tác kinh tế ở các khu vực và trên phạm vi toàn cầu phát triển mạnh, tự do hoá kinh tế, thƣơng mại và đầu tƣ trở thành xu hƣớng bao trùm.
Lý thuyết Chủ nghĩa khu vực mở đƣợc APEC khởi xƣớng đã trở thành một trào lƣu kinh tế đƣợc rất nhiều nƣớc thực hiện. Tổ chức APEC ra đời nhƣ một đáp ứng đúng lúc đối với yêu cầu và lợi ích của của các nền kinh tế ở Châu Á- Thái Bình Dƣơng vốn đang ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau hơn. Không giống nhƣ các tổ chức khu vực khác (đặc biệt là EU), ngay từ ban đầu, APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ 1 thống ƣu đãi thuế quan, liên minh thuế quan hay thị trƣờng chung, mà nhấn mạnh tới việc tăng cƣờng hệ thống thƣơng mại đa phƣơng mở. Điều này đƣợc lý giải bởi hai lý do.
Một là, APEC là tập hợp của các nền kinh tế rất đa dạng về trình độ phát triển, chế độ chính trị- xã hội cũng nhƣ điều kiện lịch sử văn hoá. Vì thế, các nƣớc đang phát triển nhƣ ASEAN, NIEs không muốn thành lập khu vực tự do hoá và bị lệ thuộc một cách bất bình đẳng vào các nền kinh tế lớn hơn, có trình độ phát triển cao hơn nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia và Canada. Hai là, các nền kinh tế APEC đặc biệt là các nƣớc Đông Á phụ thuộc rất lớn vào môi trƣờng kinh tế thế giới. Sự tăng trƣởng của các nền kinh tế Nhật Bản, NIEs và ASEAN trong những năm 1970 và 1980 chủ yếu nhờ vào sự thành công của chiến lƣợc hƣớng vào xuất khẩu, do vậy, họ rất muốn duy trì một hệ thống thƣơng mại toàn cầu mở và ổn định.
Địa phƣơng chủ nghĩa, cát cứ, khu vực. sẽ là điều bất lợi trƣớc hết đối với những thành viên APEC có nền kinh tế, thƣơng mại phát triển cao. Sự phục hồi và phát triển của lý thuyết chủ nghĩa tự do mới Vào cuối những năm 70 của thế kỷ 20 cho đến nay, có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ của những lý thuyết kinh tế chủ nghĩa tự do mới.