Mở đầu Khảo sát ảnh hƣởng của ba chất Honokiol, Magnolol và Derrone lên sự tăng trƣởng của một số dòng tế bào ung thƣ nuôi cấy đơn lớp 2D. Nghiên cƣ́u ảnh hƣởng của Honokiol lên mô hình 3D khối cầu đa bào các tế bào ung thƣ. Bƣớc đầu nghiên cứu cơ chế tác động của Honokiol lên hệ thống vi sợi và tác động của ba chất lên hoạt động của enzyme Aurora kinaza ở tế bào ung thƣ. Nguyễn Thị Ngọc Ánh K19 Sinh học thực nghiệm 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Tổng quan CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.
Tổ ng quan về ung thƣ 1. Một số đặc điểm của ung thư Trong quá trình đa giai đoạn hình thành khối u, tế bào ung thƣ (TBUT) thu nhận và biểu hiện nhiều đặc điểm, trong đó có sáu khả năng sinh học nổi bật tạo nên đặc tính phức tạp về mặt tổ chức của bệnh, bao gồm: duy trì tín hiệu tăng sinh; trốn tránh các yếu tố ức chế khối u; chống lại sự chết của tế bào; cho phép nhân lên gần nhƣ bất tử; cảm ứng hình thành mạch máu và hoạt hóa quá trình xâm lấn và di căn. Nguyên nhân sâu xa của những đặc điểm đặc trƣng này là sự bất ổn của hệ gen trong TBUT dẫn đến những biến đổi về mặt di truyền, đồng thời cũng hỗ trợ các chức năng trên. Ngoài ra, những nghiên cứu gần đây đề xuất thêm hai đặc trƣng khác của ung thƣ bao gồm sự tái lập trình trao đổi năng lƣợng và sự trốn tránh hệ thống miễn dịch.
Tuy nhiên, cần những nghiên cứu sâu hơn để hai đặc trƣng mới này đƣợc công nhận rộng rãi [14]. Hình 1: Sáu đặc trưng cơ bản của ung thư Nguyễn Thị Ngọc Ánh K19 Sinh học thực nghiệm 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Tổng quan Về mặt hình thái, TBUT có sự thay đổi khá rõ nét so với tế bào bình thƣờng: Về nhân: Nhân tăng kích thƣớc, đa dạng, nhiều thùy, đặc biệt có những nhân khổng lồ phân chia mạnh gọi là nhân quái, nhân chia. Màng nhân dày lên và đƣờng viền không đều. Về tỷ lệ giữa nhân và nguyên sinh chất: Nhân to lên trong khi nguyên sinh chất hẹp lại.
Về nguyên sinh chất: Có nhiều tổn thƣơng thoái hóa nhƣ nhiều hang, hốc… Nguyên sinh chất chứa các chất chế tiết, thể vùi. Không còn khả năng ức chế tiếp xúc nên dễ bong ra khỏi u. Về mặt chức năng, TBUT biệt hóa kém, không thực hiện đƣợc những chức năng bình thƣờng và dễ hoại tử. Đặc biệt, chúng tiết ra các chất chỉ điểm đƣợc gọi là marker nhƣ µFP, CA125 (ung thƣ buồng trứng), CA25 (ung thƣ đại tràng), HCG (ung thƣ nhau thai, tinh hoàn)… Khi quan sát quần thể TBUT, các nhà khoa học đã đƣa ra ba học thuyết khác nhau nhằm giải thích nguồn gốc quần thể này: Thuyết đơn dòng: Là quan niệm kinh điển cho rằng khối u phát sinh từ một tế bào mẹ nhân lên.
Ví dụ: Ở bệnh bạch cầu tủy trên phụ nữ da đen thấy đồng nhất loại tế bào thƣơng tổn NST số 10. Các tế bào này đều tiết men Glucose-6-phosphate dehydroglubuline. Thuyết đa dòng: Dựa trên kết quả quan sát hình thái và chức năng cho thấy tổ chức ung thƣ có nhiều loại tế bào nên khi chuẩn đoán tế bào học dễ nhầm lẫn và có nhiều marker sinh học. Thuyết về kém ổn định gen của TBUT: Có thể ban đầu là một dòng, do gen ung thƣ không ổn định nên có các tế bào biến dị sinh ra hàng loạt các tế bào hỗn hợp.
Ví dụ: u lympho ác tính tế bào lớn, tế bào nhỏ hoặc các loại ung thƣ phổi thể hỗn hợp, ung thƣ mô liên kết thể hỗn hợp. Nguyễn Thị Ngọc Ánh K19 Sinh học thực nghiệm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Tổng quan 1. Các giai đoạn phát triển của ung thư Theo Douglas và Robert Weinberg, quá trình tiến triển của ung thƣ có thể chia làm 6 giai đoạn chính: Giai đoạn khởi phát: Các TBUT nhận đƣợc các tín hiệu thúc đẩy sự tăng sinh và phân bào. Các tín hiệu này có thể xuất hiện do sự thay đổi của các yếu tố ngoại bào hoặc do sự thay đổi bên trong hệ thống truyền tín hiệu nội bào dẫn tới sự tăng sinh và phân bào.
Thậm chí, trong một số trƣờng hợp đặc biệt, các tín hiệu kích thích phân bào có thể đƣợc tạo ra từ chính các TBUT. Khi đó, tế bào đƣợc kích thích phân chia không giới hạn. Quá trình này diễn ra nhanh và hoàn tất trong một vài giây, không thể đảo ngƣợc đƣợc. Trong cuộc đời một con ngƣời, có nhiều tế bào trong cơ thể có thể trải qua quá trình khởi phát, nhƣng không phải tất cả các tế bào đều phát sinh bệnh.
Đa số các tế bào khởi phát hoặc không tiến triển, hoặc chết đi, hoặc bị cơ chế miễn dịch vô hiệu hóa. Giai đoạn thúc đẩy: Các tế bào trở nên “vô cảm” một cách bất thƣờng với các tín hiệu ức chế phân bào. Trong các tế bào bình thƣờng, sự phân bào thƣờng đƣợc kích hoạt bởi các tín hiệu nhất định; và tồn tại song song với chúng là các tín hiệu ức chế phân bào. Bình thƣờng, hai cơ chế này cùng tồn tại và phối hợp với nhau ở mức cân bằng, vì vậy sự phân bào diễn ra ổn định và có tổ chức.
Ở các TBUT thì sự ngăn cản phân bào bị tê liệt, khi đó tế bào sẽ luôn đƣợc chuyển từ pha G1 sang S để tiến hành sao chép ADN và bƣớc vào một chu trình tế bào mới bất kể các sai hỏng ADN có đƣợc khắc phục hay không. Các tế bào sau giai đoạn tăng trƣởng này sẽ tiếp tục phát triển thành các khối u ác tính. Giai đoạn chuyển biến: Nhƣ ta đã biết, protein p53 giữ vai trò quan trọng trong quá trình bảo vệ cơ thể chống lại sự tích lũy sai hỏng ADN có thể gây nguy hiểm cho cơ thể. Khi p53 bị mất chức năng này thì con đƣờng apoptosis của tế bào không hoạt động.
Vì vậy tế bào hỏng có thể sống và tiếp tục nhân lên nhanh chóng. Những tế bào này có xu hƣớng tạo ra các thế hệ tế bào con Nguyễn Thị Ngọc Ánh K19 Sinh học thực nghiệm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Tổng quan có mức độ sai hỏng còn cao hơn chính nó. Hậu quả là mỗi tế bào con hình thành đều có nguy cơ chuyển thành các TBUT. Nhƣ vậy có thể nói, khả năng thoát khỏi cơ chế chết theo chƣơng trình là “cột mốc” quan trọng để một TBUT phát triển thành khối u ác tính.
Giai đoạn lan tràn: Các TBUT có khả năng sao chép vô tận. Ở ngƣời, mỗi tế bào soma thƣờng chỉ có khả năng sao chép trung bình khoảng 60 – 70 lần. Tuy nhiên các TBUT có thể vƣợt quá số lần phân bào này nhờ việc ADN phần đầu mút nhiễm sắc thể đƣợc kéo dài nhờ hoạt động mạnh của enzyme ADN telomeraza. Khi các TBUT đạt đến giai đoạn này, chúng đƣợc gọi là các tế bào bất tử.
Giai đoạn này có thể ngắn vài tháng hoặc cũng có thể kéo dài vài năm. Trong giai đoạn này, khối u bành trƣớng, gia tăng có thể từ 100 đến 1 triệu tế bào nhƣng vẫn còn quá nhỏ để các phƣơng pháp khoa học phát hiện đƣợc. Giai đoạn củng cố: Các tế bào phát triển hệ thống tự nuôi dƣỡng. Các mô trong cơ thể đa bào đều cần một hệ thống mạch máu cung cấp chất dinh dƣỡng.
Các tế bào khối u tiền ác tính thƣờng tăng trƣởng chậm do chúng đƣợc nuôi dƣỡng bởi hệ tuần hoàn bình thƣờng. Nhƣng ở các TBUT, khi khối u phát triển đến một mức nhất định thì xuất hiện sự hình thành mạch máu mới. Lúc này các khối u đƣợc nuôi dƣỡng và phát triển rất mạnh. Đây là một bƣớc “củng cố” các TBUT ác tính hình thành mạch máu mới nuôi dƣỡng các khối u, giúp khối u phát triển mạnh mẽ và gây nguy hiểm cho cơ thể.
Giai đoạn xâm lấn và di căn: Ở giai đoạn này, các TBUT có khả năng xâm lấn vào các vùng mô khác và hình thành khối u mới. Hơn 90% số bệnh nhân bị ung thƣ đều chết vào giai đoạn khi các TBUT đã di căn tới các phần khác nhau của cơ thể. Khi các khối u di căn, các TBUT rời khỏi khối u nguyên phát và di chuyển dọc theo đƣờng máu hoặc đƣờng bạch huyết tới các vị trí khác nhau trong cơ thể trƣớc khi chúng trú ngụ ở vị trí mới và hình thành khối ung thƣ mới. Di căn theo đƣờng bạch huyết thƣờng gặp nhiều trong ung thƣ biểu mô, có thể lan tràn theo đƣờng bạch huyết tại chỗ và đôi khi làm tắc, rồi Nguyễn Thị Ngọc Ánh K19 Sinh học thực nghiệm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học Tổng quan lan đến mạch bạch huyết vùng.
Trong phƣơng thức di căn theo đƣờng kế cận, các TBUT đi theo mạch máu và thần kinh, theo lối ít khi bị cản trở nhƣ ung thƣ dạ dày lan qua lớp thanh mạc vào ổ bụng, đến buồng trứng… Di căn theo đƣờng máu thƣờng gặp nhiều ở ung thƣ mô liên kết. Khi đó, tế bào kết thúc ở mao mạch và tăng trƣởng ở đó. Nhƣ vậy kết quả di căn là sự hình thành các khối u thứ cấp ở vị trí có thể cách rất xa vị trí khối u nguyên phát ban đầu. Khi ung thƣ đã tiến triển đến giai đoạn này thì sự kiểm soát và điều trị cực kỳ khó khăn.
Đây là giai đoạn cuối cùng và nguy hiểm nhất trong quá trình phát triển của ung thƣ. Với khối u lành tính, giai đoạn này không xảy ra. Các tế bào trong khối u lành tính sinh sản chậm và bám vào các mô liên kết tại chỗ, khối u có ranh giới rõ ràng và không gây cảm giác đau cho ngƣời bệnh nếu kích thƣớc khối u không quá to hay chèn ép vào dây thần kinh. Do đó khối u lành không gây nguy hiểm cho ngƣời bệnh và dễ chữa trị [14, 32, 36].
Kể từ khi ung thƣ xuất hiện, lịch sử loài ngƣời đã sử dụng và phát triển nhiều phƣơng pháp khác nhau để chống lại căn bệnh này nhƣ giải phẫu, vật lý trị liệu, hóa trị liệu, miễn dịch trị liệu, điều trị hƣớng đích… Trƣớc đây, thuốc chống ung thƣ đƣợc đƣa vào nhóm phƣơng pháp hóa trị liệu, trị liệu hóc môn và miễn dịch trị liệu.