phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của Luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng. Chƣơng I trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, trong đó bao gồm tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận và các lý thuyết sử dụng, các khái niệm và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu. Chƣơng II mô tả các kết quả thu đƣợc từ cuộc khảo sát về không gian công cộng (bao gồm cả quan niệm của họ về không gian công cộng, thái độ và sự đánh giá , nhu cầu và nguyện vọng của họ). Chƣơng III trình bày về nhu cầu, nguyện vọng của ngƣời dân, đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm từng bƣớc hoàn thiện không gian công cộng trong các khu đô thị mới, sao cho các không gian này vừa mang tính hiện đại, vừa kế thừa đƣợc các giá trị cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Các lý thuyết xã hội học đƣợc vận dụng trong nghiên cứu này Nhƣ chúng ta đều biết, để có thể nắm bắt hiện thực của đời sống xã hội, ngành xã hội học đã hình thành nên nhiều lý thuyết khác nhau: lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết mâu thuẫn xung đột, lý thuyết tƣơng tác biểu trƣng, lý thuyết sinh thái học văn hóa, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, v…v…. Để giải quyết đề tài “Không gian công cộng dƣới góc nhìn của cƣ dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây” trong khuôn khổ của một luận văn cao học, chúng tôi chỉ lựa chọn hai lý thuyết để ứng dụng: đó là lý thuyết cấu trúc chức năng và lý thuyết xung đột. - Lý thuyết cấu trúc - chức năng Lý thuyết cấu trúc - chức năng có lịch sử phát triển khá dài với nhiều tác giả lớn nhƣ: Bronislaw Malinowski, Radcliffe – Brown, Talcott Parsons, Robert Merton, v.v…Ở đây chúng tôi cũng chỉ vận dụng quan điểm của Robert Merton mà thôi.
Công trình khoa học nổi tiếng nhất của Merton là cuốn “Lý thuyết xã hội và cấu trúc xã hội” (Social Theory and Social structure). Theo đó thì nghiên cứu xã hội theo cấu trúc - chức năng là sự giải thích một hiện tƣợng xã hội bằng cách chỉ ra hệ quả (chức năng) của nó đối với những cấu trúc mà nó là một bộ phận cấu thành. Nói cho dễ hiểu là mỗi bộ phận hay thành phần của cấu trúc tổng thể đều giữ một hoặc nhiều chức năng. Các chức năng rối loạn sẽ dẫn đến sự bất ổn của cấu trúc.
Việc thực hiện đúng chức năng của các thành phần tạo nên cấu trúc sẽ đảm bảo cho cả hệ thống ổn định và bền vững. Giống nhƣ quan niệm của Durkheim và Parsons, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Merton cho rằng các cấu trúc văn hoá mà cụ thể là hệ các giá trị xã hội là những yếu tố cơ bản để lý giải cơ chế hoạt độngvà phối hợp hoạt động của các thiết chế xã hội. Một đóng góp lớn của Merton đối với chủ thuyết chức năng trong xã hội học là việc phát hiện ra sự loạn phản chức năng còn gọi là phi chức năng hay phản chức năng. Khác với Parsons luôn coi mọi hệ quả của một thiết chế xã hội là chức năng với nghĩa là những tác dụng tốt, có lợi cho toàn bộ cấu trúc xã hội, Merton chỉ ra những phản chức năng của thiết chế xã hội.
Phản chức năng là những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối loạn, làm giảm khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc. Để nhận diện sự loạn chức năng hay phản chức năng cần trả lời câu hỏi: hệ quả của một hiện tƣợng xã hội đem lại lợi ích hay gây tổn hại tới lợi ích của ai? Cần thấy rằng hệ quả có thể là chức năng, tức là có lợi cho nhóm ngƣời này nhƣng lại là phản chức năng, tức là có hại cho nhóm ngƣời kia. Một đóng góp quan trọng khác của Merton là việc phân loại chức năng trội và chức năng lặn dựa vào mức độ biểu hiện của chúng. Merton chỉ ra những nhu cầu chức năng cần phải đáp ứng để xã hội vận hành một cách bình thƣờng (cấu trúc chức năng thay thế) và gọi chúng là “những điều kiện tiên quyết về mặt chức năng đối với xã hội”.
Ông cho rằng không nhất thiết mỗi thiết chế xã hội chỉ đáp ứng một loại nhu cầu xã hội, trên thực tế trong xã hội luôn có “các cấu trúc chức năng thay thế nhau” để thoả mãn các yêu cầu chức năng mà xã hội đặt ra. Một chức năng có thể do hai hay nhiều hơn các tổ chức, thiết chế xã hội cùng có khả năng thực hiện. Các thiết chế xã hội luôn luôn có khả năng thay thế lẫn nhau trong việc đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho sự vận hành và hoạt động của xã hội. Vận dụng lý thuyết chức năng - cấu trúc vào nghiên cứu không gian công cộng trong khu đô thị mới ở Hà Nội thì có thể giúp lý giải đƣợc nhiều điều.
Chẳng hạn, nhiều vỉa hè, mặt phố ở các khu đô thị mới đang bị sử dụng sai chức năng (điểm đỗ xe, mở quán nƣớc ….), các sân chơi cho trẻ còn thiếu, các cửa hàng chƣa đáp ứng đủ cho ngƣời làm nội trợ, v.v…Lý thuyết cấu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trúc - chức năng cũng giúp cho việc nhìn nhận và tìm ra các giải pháp (về mặt chức năng của cấu trúc tổng thể) nhằm hoàn thiện không gian công cộng trong các khu đô thị mới hiện nay. - Lý thuyết xung đột Cũng nhƣ lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết xung đột cũng có một lịch sử phát triển khá lâu dài. Các đại biểu lớn của lý thuyết này là Karl Marx, và tiếp sau đó là Loser, Dahrendort, Gurvitch, v.v…Ngƣời ta cho rằng mâu thuẫn và xung đột xã hội là một hiện tƣợng mang tính phổ biến và đƣợc lặp đi lặp lại trong mọi xã hội và mọi nền văn hóa. Lý thuyết xung đột cho rằng xung đột có thể xảy ra trên mọi phƣơng diện của đời sống xã hội: mục đích, đánh giá, lợi ích, hệ tƣ tƣởng….Các cách thức thực hiện hành vi xung đột vừa đa dạng vừa bị chi phối bởi nhiều động cơ khác nhau.
Việc phân tích, tìm hiểu làm rõ động cơ của các hành vi xung đột sẽ giúp cho việc quản lý xã họi tiếp cận đƣợc các giải pháp khoa học, qua đó đƣa các quan hệ xã hội trở về trạng thái bình thƣờng và ổn định để phát triển. Vận dụng lý thuyết xung đột vào nghiên cứu không gian công cộng trong các khu đô thị mới ở Hà Nội hiện nay, chúng tôi thấy đôi khi xuất phát từ các lợi ích, nhu cầu, thị hiếu khác nhau nên các nhóm xã hội khác nhau cũng có thể xảy ra mâu thuẫn, xung đột về không gian công cộng. Cụ thể ở đây là xung đột giữa ban quản lý dự án với ngƣời dân tại các khu chung cƣ về phí dịch vụ quá cao hay việc sử dụng sai mục đích khu đất trong quy hoạch, mâu thuẫn xung đột giữa ngƣời dân bình thƣờng với những ngƣời làm dịch vụ (nhƣ mở quán, trông xe…) v. Việc phân tích các loại hình và nguyên nhân xung đột sẽ giúp hiểu thêm những mặt tích cực cũng nhƣ những khó khăn trong việc quản lí và khai thác không gian công cộng hiện nay.
Trong nghiên cứu này, tác giả thử vận dụng hai lý thuyết trên làm cơ sở để giải thích cho việc sử dụng không gian công cộng của ngƣời dân trong các khu đô thị mới. Mỗi cách tiếp cận trên đều có những mặt mạnh và mặt yếu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, sự phối hợp cả hai cách tiếp cận trên sẽ giúp chúng tôi hạn chế bớt những thiếu sót của từng cách tiếp cận đơn lẻ, qua đó chúng tôi hi vọng phản ánh đƣợc về không gian đô thị đúng nhƣ những gì nó đang diễn ra trong thực tế. Định nghĩa và thao tác hóa khái niệm làm việc - Định nghĩa các khái niệm làm việc + Khái niệm “không gian công cộng” Không gian công cộng có nhiều cấp độ khác nhau từ vĩ mô nhƣ không gian công cộng của đô thị, khu vực đô thị, đơn vị ở đến vi mô nhƣ ngôi nhà, ngõ phố, thậm chí là một hành lang đi lại trong các chung cƣ.
Trong nghiên cứu này thuật ngữ không gian công cộng đƣợc giới hạn và hiểu nhƣ sau: “Không gian công cộng có thể hiểu là không gian diễn ra các hoạt động mang tính tập thể giữa một cộng đồng hay một nhóm ngƣời có xu hƣớng kết hợp với nhau và liên kết với nhau vì lợi ích, giá trị và nhu cầu chung” [32, tr.96] + Khái niệm “khu đô thị mới” Nhìn trên quy mô thế giới, ngƣời ta thấy những khu định cƣ đô thị mới phát triển phổ biến trên khắp thế giới thông qua lịch sử nhân loại, thƣờng là tự phát bởi sự tăng trƣởng “hữu cơ” của các làng xóm và sự phát triển dần dần của cây xanh. Đầu tiên là thành phố vƣờn của Howard (1850-1928) với các đặc trƣng: Quy mô đất đai khoảng 400ha với nhà ở thấp tầng có vƣờn: Dân số khoảng 32.000 ngƣời; thành phố đƣợc bao quanh bởi các khu cây xanh và đất đai sản xuất nông nghiệp; Tiếp cận với các đô thị lân cận (cũ) bằng các tuyến đƣờng sắt chạy nhanh và các tuyến ô tô khác. Thiết bị phục vụ cơ sở đảm bảo yêu cầu toàn dân, tạo điều kiện cho cuộc sống văn hóa, xã hội thành phố phát triển. Đất đai xây dựng thuộc quyền sở hữu chung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển xây dựng toàn thể các điểm dân cƣ Theo quan điểm của một số nƣớc nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp… thì khu đô thị mới phải có diện tích từ 400 ha trở lên và cách xa đô thị cũ không quá 30 km2.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP “Khu đô thị mới” là khu xây dựng mới tập trung theo dự án đầu tƣ phát triển hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, đồng bộ và phát triển nhà của toàn khu, đƣợc gắn với một đô thị hiện có hoặc với một đô thị mới đang hình thành, có ranh giới và chức năng đƣợc xác định phù hợp với qui hoạch xây dựng đô thị đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt.