Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Thuật ngữ “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” đã xuất hiện khá lâu và là chủ đề nghiên cứu được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu về AEG có thể kể đến như các nghiên cứu thực nghiệm về bản chất của AEG ở các nước khác nhau {Porter (1993) tại New Zealand; Best và cộng sự (2001) tại Singapore; Fadzly và cộng sự (2004) Malaysia; Dixon và cộng sự (2006) tại Egypt; …} hay các nghiên cứu về việc giảm thiểu AEG {Gary S. Monroe và David Woodliff (1993); Javed Siddiqui và công sự (2009); …}; hay các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc ra quyết định {Noghondari và Foong (2009), (2013); Rien Agustin F (2014), …}. Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu nổi bật trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Nổi bật trong các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc quyết định của các đối tượng sử dụng BCTC hoặc đối tượng có lợi ích liên quan, bao gồm một số nghiên cứu nổi bật sau: Amirhossein Taebi Noghondari & Soon Yau Foong (2009) kiểm tra tác động của kiến thức kế toán và kinh nghiệm liên quan của những nhân viên ngân hàng ở Iran về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, và điều tra xem liệu có khoảng cách trung gian trong mối quan hệ giữa các nhân tố cá nhân – thực hiện quyết định cho vay.
Bảng câu hỏi được phân phát cho 113 nhân viên tín dụng từ 5 ngân hàng thương mại lớn ở Iran và có 111 bảng hỏi thu về được dùng để phân tích. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua thống kê mô tả, phân tích hồi quy theo hình thức hồi quy nhiều lần để kiểm tra giả thuyết. Kết quả chỉ ra rằng tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn giữa các nhân viên tín dụng ở các ngân hàng Iran, và kiến thức kế toán được tìm thấy giảm thiểu đáng kể mức độ của khoảng cách này. Vì thế cần nâng cao kiến thức về kế toán cho nhân viên tín dụng qua các chương trình đào tạo tại ngân hàng.
Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu này đã tìm ra mối quan hệ nghịch biến giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 của nhân viên tín dụng ở Iran. Phân tích cũng đã chỉ ra rằng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là trung gian giữa mối quan hệ kiến thức cá nhân – chất lượng quyết định. Amirhossein Taebi Noghondari & Soon Yau Foong (2013) nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của kiến thức/kinh nghiệm cá nhân liên quan đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của nhân viên tín dụng ở 4 ngân hàng thương mại lớn tại Malaysia, và ảnh hưởng của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định cho vay. Hơn nữa, vai trò trung gian của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán cũng được kiểm tra.
Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM bằng phần mềm AMOS, kết quả chỉ ra rằng nhân tố kiến thức/kinh nghiệm cá nhân liên quan cụ thể là trình độ chuyên môn kế toán, kinh nghiệm liên quan đến kế toán, kinh nghiệm liên quan đến nghề nghiệp có thể thu hẹp đáng kể khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Quan trọng hơn, khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tác động nghịch biến đến chất lượng quyết định cho vay. Vai trò trung gian của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán cũng được kiểm tra. Rien Agustin F (2014) dựa trên tranh luận rằng có khoảng cách giữa những người sử dụng BCTC và KTV, liên quan đến trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC.
Trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC là một trong những nhân tố chủ yếu có thể ảnh hưởng đến nhân viên ngân hàng, là người sử dụng BCTC khi thực hiện quyết định tín dụng. Tác giả đã sử dụng tranh luận này để điều tra sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa nhân viên ngân hàng và KTV ở Indonesia. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua kiểm định sự khác biệt qua kiểm định Independent T-test giữa các nhóm khảo sát, kết quả cho thấy bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Indonesia. Dựa trên kết quả nghiên cứu này đề nghị giáo dục kế toán nên đóng một vai trò lớn trong việc giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Indonesia.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Fazel Tamoradi, Jaber Mohamad Mosaee (2015) mục đích nhằm nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và những người sử dụng thông tin tài chính liên quan đến sự đảm bảo của BCTC, lợi ích của việc ra quyết định dựa trên thông tin tài chính đã được kiểm toán, và độ tin cậy của thông tin. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua kiểm định t-test với hai mẫu độc lập. Kết quả cho thấy có sự mơ hồ giữa vai trò của KTV và nhận thức của những người sử dụng. Tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa kỳ vọng của những người sử dụng và KTV về trách nhiệm kiểm toán, sự bảo đảm và lợi ích của việc ra quyết định.
Bên cạnh các nghiên cứu nổi bật liên quan đến vấn đề nghiên cứu, trong phần tổng quan các nghiên cứu nước ngoài tác giả cũng hệ thống hóa các nghiên cứu nổi bật liên quan về sự tồn tại của AEG ở những nước phát triển và đang phát triển, cụ thể như sau: Cơ sở cho các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán phải kể đến công trình nghiên cứu có thể nói là tiên phong đầu tiên của Lee TA (1970) được tiến hành ở Anh. Các đối tượng khảo sát gồm KTV, công ty được kiểm toán và các đối tượng có lợi ích từ kiểm toán. Kết quả cho thấy rằng KTV dường như đã nhầm lẫn và không xác định rõ mục tiêu kiểm toán. Tiếp theo đó là nghiên cứu của Beck GW (1974) được tiến hành ở Úc.
Kết quả cho thấy cổ đông có mâu thuẫn về tính độc lập của KTV, cổ đông tin rằng nếu KTV sở hữu cổ phần trong công ty được kiểm toán thì lợi ích của KTV sẽ được kết hợp chặt chẽ hơn với những lợi ích của cổ đông. Beck cho rằng những bên liên quan có kỳ vọng cao hơn về hoạt động kiểm toán hơn là những gì mà KTV đang thực hiện. Low AM (1980) đã kiểm tra khoảng cách kỳ vọng tại Úc nhằm kiểm tra mức độ phát hiện và trách nhiệm công bố sai sót, gian lận và các hành vi bất hợp pháp theo nhận thức của KTV và những người sử dụng BCTC. Kết quả là cả hai nhóm có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhận thức hoàn toàn khác nhau.
Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu của Beck (1974). Low và các cộng sự (1988) đã kiểm tra mức độ của khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán trong môi trường công ty khách hàng tại Singapore. Kết quả chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán là đưa ra ý kiến về BCTC. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toán như là sự bảo đảm về tính chính xác về BCTC của một đơn vị.
Hơn nữa, nhận thức của các nhà phân tích trong việc ngăn chặn và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía KTV khắt khe hơn là những gì mà KTV phải thực hiện. (1993) đã tiến hành một cuộc khảo sát thực nghiệm ở New Zealand để xác định ý kiến trách nhiệm của KTV hiện có theo quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn trách nhiệm. Bà tiến hành cuộc khảo sát qua mail gửi đến hai nhóm đối tượng: nhóm cộng đồng tài chính và nhóm công chúng. Kết quả nghiên cứu cho thấy người sử dụng BCTC vẫn có sự hiểu lầm về kiểm toán và trách nhiệm của KTV.
Nghiên cứu này cung cấp hiểu biết mới về cấu trúc, thành phần, mức độ của khoảng cách kiểm toán giữa kỳ vọng-thực hiện, nhưng quan trọng hơn, nó báo hiệu một cách tiếp cận toàn diện hợp lý theo hướng thu hẹp khoảng cách này. Epstein MJ, Hill J (1995) nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa các nhà đầu tư và KTV. Kết quả cho thấy rằng các nhà đầu tư kỳ vọng nhiều hơn về mức độ bảo đảm liên quan đến gian lận và sai sót; các nhà đầu tư thiếu sự hiểu biết liên quan đến sự khác biệt về khả năng của KTV trong phát hiện sai phạm do gian lận và sai sót gây ra; các nhà đầu tư không hiểu được sự khó khăn trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu do gian lận và sai sót trong kiểm toán BCTC. Nghiên cứu của Hia Chye Koh và E-Sah Woo (1998) cho rằng có một sự lo ngại khi KTV và công chúng có niềm tin khác nhau về trách nhiệm của KTV và các thông điệp được truyền đạt qua các BCKT.
Trong những năm gần đây, nhiều công ty lớn sụp đổ đã làm cho khoảng cách kỳ vọng kiểm toán càng lớn. Rõ ràng, nhận thức không hợp lý của công chúng là một nguyên nhân chính của khoảng cách này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Và điều phù hợp với các nghiên cứu trước về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng quan lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán theo cách: định nghĩa khoảng cách kỳ vọng, bản chất và cấu trúc của khoảng cách kỳ vọng, và những cách để làm giảm khoảng cách kỳ vọng.
Tác giả hi vọng rằng đó là một nỗ lực có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.J, Buckby, S & Tan, C (2001) thu thập bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Singapore. Động lực để thực hiện do ở Singapore thiếu hụt nghiên cứu về vấn đề này trong những năm gần đây. Nghiên cứu cung cấp chi tiết hơn về bản chất và phạm vi của AEG. Kết quả của nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn ở Singapore về trách nhiệm của KTV.
Có sự khác biệt đáng kể về trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện tất cả các gian lận và sai sót; trong khi đó KTV lại cho rằng không có trách nhiệm trong việc phát hiện và ngăn chặn gian lận và sai sót.