mở đầu cho cuộc hồi sinh này là Young (1773-1829), ông chỉ trích thuyết hạt , vì theo ông thuyết hạt không thể giải thích những hiện tượng quang học diễn ra trên mặt phân cách hai môi trường. 1801 Young nêu lên thuyết sóng dựa trên giả thuyết :” Ete là chất loãng đàn hồi chứa đây trong vũ trụ khi một vật phát sáng nó sẽ gây ra trong ête chuyển động Young sóng. đảm giác về những màu sắc khác nhau thi phụ thuộc vào những tần số dao động khác nhau mà ánh sáng gây cho võng mo”. Năm 1802, dựa trên nguyên lý chồng chất sóng , ông tìm ra được định luật đơn giản và tổng quát của hiện tượng giao thoa ánh sáng và ông đã khẳng định diéu đó bằng thực nghiệm thông qua thí nghiệm về hai khe Young .Tuy nhiên Young đã coi ánh sáng là sóng dọc do đó thuyết sóng của ông đã gặp bế tắc khi giải thích hiện tượng phân cực ánh sáng.
Bế tắc đó đã được giải quyết khi 1816, Fresnel (1788-1827) đã đưa ra quan niệm táo bao , coi ánh sáng là sóng ngang chứ không phải sóng doc. Từ đó ông đã giải quyết thành công hiện tượng phân cực do Malus tìm ra. Fresnel- nhà Vật lý pháp đã phản đối kịch liệt thuyết hạt , vì cho rằng thuyết hạt đã đặt ra nhiều giả thuyết khi giải thích hiện tượng. Cùng với những công trình nhiễu xạ của Fraunhofer (1787-1826) và những kết quả thực nghiệm của một số nhà bác học khác đo vận tốc ánh sáng trong nước và không khí đã cho thấy lý thuyết sóng ánh sáng là đúng , phù hợp với thực nghiệm.
Đây là sự kiện thực. nghiệm khẳng định sự đúng đắn của thuyết sóng. Chính vì vay , giai đoạn này thuyết sóng lại vượt qua ===. SOTH : Frang Si Di 1] gOWD : Cb Hguyen Thi Chấp Lugu odn tấf ughi¢p thuyết hạt.
Sau này năm 1873 một lần nữa Maxwell khẳng định ánh sáng chính là một loại sóng điện từ. Đến cuối thế ki XIX , Hertz tìm ra hiện tượng quang điện ,Roentgen nhà Vật lý người Đức tìm ra tia X. thì thuyết sóng lại gặp khó khăn không giải thích nổi. Dựa trên quan điểm lượng tử của Planck, năm 1905, Einstein đã xây dựng thuyết lượng tử , cho rằng ánh sáng là những dòng hạt nhưng không phải như quan niệm của Descartes và Newton mà là hạt lượng tử.
Năm 1909, Einstein tiếp tục phát triển quan điểm của mình ông đã tổng hợp hai lý thuyết sóng và hạt thành một. Ông cho rằng ánh sáng thể hiện tính chất sóng ở tần số thấp và tính chất hạt ở tần số cao. Trong trường hợp tổng quát ánh sáng có lưỡng tính sóng hạt. Như vậy ánh sáng được con người biết đến từ rất lâu, đã trãi qua giai đoạn đấu tranh loại trừ giữa quan điểm sóng và quan điểm hạt để từ đó hoàn thiện din din bản chất của ánh sáng.
Và cuối cùng , nhà bác học lỗi lạc Albert Einstein đã đặt dấu chấm cho kết luận "ánh sáng có lưỡng tính sóng hạt “_ một chân lý không thể phủ nhận được. Nói tóm lại , bằng những vi du cụ thé ở trên đã chứng minh được rằng tri thức khoa học của loài người nói chung và tri thức Vật lý học nói riêng là một quá trình tiến lên từ những cái chưa biết , từ những cái rời rac , chưa hoàn chỉnh đến cái hoàn chỉnh , chính xác hơn. Đó chính là tính lịch sử của tri thức. =—ằễ—— SOTH : Trang Si Dai 12 ởOFWD : Cé Uguyén Thi Thép Lugn sấu tốt ughi¢p = DHA®TM HAI KHÁI QUAT VE TRUONG ĐIỆN TU > Danh từ “điện” bắt nguồn từ chữ Hylap _ là hổ phách.
Hổ phách được cọ xát có khả năng thu được điện tích và hút được các vật nhẹ. > Danh từ “từ” bắt nguồn từ tên gọi thành phố Manhézia ở Tiểu A. Ở đó người Trung Quốc đã khám phá được quặng sắt Manhêtit FeO và Fe;Oy, có tính chất là hút được các vật bằng sắt và truyền cho chúng các từ tính. > Học thuyết về điện và từ được tách thành các phần: * Hoc thuyết về các điện tích đứng yên và các điện trường không đổi có liên hệ với chúng_ nh điện học: * Học thuyết về các điện tích chuyển động đều - dòng điện một chiều và từ học.
* Hoc thuyết vé các điện tích chuyển động không đều và các trường biến thiên do chúng tạo nên - dòng điện biến thiên và Điện động lực học hay lý thuyết về Trường điện từ. > Điện trường là dang vật chất đặc biệt tổn tại xung quanh các điện tích. Mọi điện tích đặt trong điện trường đều chịu tác dụng của một lực điện. > Từ trường là dạng vật chất đặc biệt tổn tại xung quanh các điện tích chuyển động, nó sẽ tác dụng lực từ lên các điện tích chuyển động trong nó.
> Điện trường và từ trường biến thiên có mối quan hệ tương hổ, chuyển hóa qua lại lẫn nhau, hoà quyện vào nhau tạo thành một thể thống nhất_ Trường điện từ. > Trường điện từ là một vật chất cơ bản, chuyển động với vận tốc c trong mọi hệ quy chiếu quán tính trong chân không. Nó thể hiện sự tồn tại và vận động qua tương tác với một dạng vật chất khác là những hạt hoặc những môi trường vật chất mang điện. > Trường điện từ là một thực thể Vật lý, nó tổn tại một cách khách quan ngoài nhận thức trực giác của con người.
Con người không thể nhìn thấy, chạm vào nó. —ễ—ễễ--------------ễ—— SOTH : “rang Si Di 13 GOxD : 9â Haugen Thi Thép Lugn oan tốt ughi¢p * Thuộc tính vận động của Trường điện từ thé hiện ở những tác dụng động lực học của trường với các vật thể, môi trường và sự lan truyền tác dụng ấy. *® Vận động của Trường điện từ có tính quy luật khách quan được thể hiện bằng hệ phương trình Maxwell. Vận tốc chuyển động của trường điện từ là c bất biến trong mọi hệ quy chiếu quán tính.
Đó là điều khác biệt cơ bản giữa Trường điện từ và thực thể Vật lý khác. Đồng thời là chìa khóa gỡ ra mối quan hệ kì diệu của không gian và thời gian, giữa điện va từ. > Trường điện từ là thực thể Vật lý có hai mặt, thể hiện cụ thể là điện trường và từ trường. Chúng lập thành nhóm đủ những mặt cụ thể của Trường điện từ.
Tuy nhiên, không thể coi đó là hai tổ chức cấu trúc cơ bản hợp thành. Sở đĩ như vậy vì hai mặt điện trường và từ trường có tính chất hoàn toàn tương đối. Trong những hệ quy chiếu khác nhau chúng có những giá trị khác nhau, thậm chí chúng chuyển hóa qua lại lẫn nhau. Ta không thể tách rời hai mặt điện trường và từ trường vì khi đó chúng không miêu tả và cắt nghĩa được một số hiện tượng, ngay cả những hiện tượng thường gặp như động lượng, năng lượng, áp lực điện từ.
Ta phải coi “Điện từ trường như một thực thể thống nhất, không chia cắt được” mới cắt nghĩa được những điều ấy. > Trường điện từ lan truyền ra ngoài không gian dưới dạng sóng - sóng điện từ là một sóng ngang, với vận tốc c v=e—= Jeu. Trạng thaí của trường được dat trưng bởi vector cường độ điện trường E và vector cường độ từ trường H tại mọi điểm trong không gian. > Với sự phân bố cho trước trong không gian các điện tích và dòng điện ,sự biến thiên của trường theo thời gian được xác định đơn trị bằng hệ phương trình Maxwell.
> Trường điện từ tuân theo nguyên lý chồng chập, nghĩa là hai sự phân bố khả dĩ của các vector cường độ E và H và E, ,H; tương đương với một trường tổng cộng có vector cường độ : E,+E H,+H > Trường không định xứ chính xác, đó chính là điểm khác biệt nhất của trường với các vật chất khác. Các thực thể Vật lý khác là những ——ỄỄ—_Ễ_Ễ_—Ễ_—Ễ_—_—__ẼẼ——__—_—_— SOTH : Trang đi Di 14 thành tạo gián đoạn chứa đầy một thể tích xác định , còn trường phân bố liên tục. > Lý thuyết Trường điện từ sau này được Lorentz phát triển và nhờ đó nó trở nên lý thuyết hiện đại _ Thuyết electron. > Trường điện từ có tính tương đối, nó phụ thuộc vào hệ quy chiếu ta khảo sát, nó bất biến đối với phép biến đổi Lorentz.
> Khi mở rộng lý thuyết của Maxwell, người ta thấy với những tương tác cực nhanh hoặc ở những dai tần cực cao, lý thuyết Trường điện từ được miêu tả bằng lý thuyết Điện động lực học lượng tử Trường điện từ bức xạ. Trong đó có sự thống nhất giữa hai hình thức vận động sóng và hạt photon. Khi ấy photon là cấu trúc cơ bản của trường với năng lượng, động lượng lượng tử hóa. —PẺỒỄƑPEPEEE®-——————ễễễễễ-— (0720 : Trang Si Da 15 2⁄20) : ©a VL +t They Thé; Ludn odn tất nghi¢ PHAN BA LICH SU PHAT TRIEN LY THUYET TRUONG ĐIỆN TU A : CAC QUAN NIEM VỀ HIỆN TƯỢNG ĐIỆN TỪ Ở THẾ KY THỨ XVII TRỞ VỀ TRƯỚC I/ Trước thế ky XVII Phan lớn các hiện tượng trong tự nhiên đều có liên hệ với sự biểu hiện của một tính chất đặc biệt của các vật vĩ mô do các hạt đó tạo thành - đó là sự có mặt của điện tích ở trong chúng.
Các hiện tượng đó gọi là hiện tượng điện và hiện tượng từ. Nghành khoa học điện từ có thể nói là nghành cơ bản hoàn chỉnh cuối cùng của Vật lý học cổ điển. Nhưng những hiểu biết của con người về điện và từ có thể nói là rất sớm. Người Hylạp cổ đã làm quen với những hiện tượng điện rất sớm, khoảng 4500 năm về trước, tức là khoảng thiên niên ky thứ III trước Công Nguyên.
Những hình ảnh của cá nheo điện (loài các sống ở thượng nguồn sông Nil) trên tượng đất ở Xôka đã chứng minh điều này. Ho cũng biết được rằng hổ phách khi cọ xát có khả năng thu được điện tích và hút được các vật nhẹ. Đó có thể là phát hiện của Phalet Mile. Các thầy thuốc khoảng năm 600 trước Công Nguyên chính là những người sử dụng “điện” trong thực tế sớm hơn cả.
Thay thuốc nổi tiếng của Roma Ch’Galie đã dùng điện của một con Rái cá biển để chữa bệnh cho con người. Ở Địa Trung Hải, người Roma biết về một loại cá đuối tương đối lớn có cách kiếm ăn rất kỳ lạ: Không đuổi theo con mỗi, cũng không nhảy ra từ chổ nấp mà chúng chỉ nằm yên một chỗ chờ con mỗi đi ngang qua, lập tức con méi run & ray lên và chết trong nháy mắt.