Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, bên cạnh những thành tựu về kinh tế, văn hóa và xã hội, các hiện tượng tiêu cực và tội phạm xã hội cũng có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Trong nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng, tội đánh bạc là một trong những hành vi vi phạm phổ biến. Xuất phát ban đầu từ các trò chơi giải trí dân gian vào các dịp lễ Tết truyền thống, cờ bạc đã dần biến tướng thành hoạt động sát phạt kinh tế nhằm thu lợi bất chính, gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho trật tự an toàn xã hội và phá vỡ các chuẩn mực đạo đức.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy hành vi đánh bạc ngày càng gia tăng về số lượng, quy mô và phương thức thủ đoạn phạm tội. Bên cạnh các hình thức truyền thống như đá gà, đánh bài, xóc đĩa, lắc tài xỉu, hoạt động đánh bạc trên không gian mạng phát triển mạnh mẽ với các đường dây cá độ bóng đá, cổng game trực tuyến quy mô hàng nghìn tỷ đồng, sử dụng phương thức thanh toán tinh vi thông qua tiền ảo và ví điện tử xuyên quốc gia. Đối tượng tham gia trải rộng ở nhiều tầng lớp dân cư, thậm chí có sự tham gia của cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất. Tội đánh bạc còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác như tham nhũng, ma túy, mại dâm, cướp và trộm cắp tài sản.
Về mặt lập pháp, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã thay thế BLHS năm 1999 với nhiều điểm mới nhằm khắc phục hạn chế cũ. Tuy nhiên, việc áp dụng Điều 321 BLHS năm 2015 vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vẫn gặp phải một số vướng mắc liên quan đến định tội danh, xác định số tiền dùng đánh bạc, quyết định hình phạt và phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS). Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả Nguyễn Hồ Khánh Linh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Hình sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Tài Tuệ, với đề tài: "Tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015".
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề pháp lý và TNHS đối với người phạm tội đánh bạc; phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và xét xử tại các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó chỉ ra các điểm hạn chế, vướng mắc và kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm này.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về tội đánh bạc theo luật hình sự Việt Nam, đồng thời làm sáng tỏ những đặc điểm pháp lý của tội đánh bạc và phân biệt tội đánh bạc với một số tội phạm khác có liên quan.
- Phân tích các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội đánh bạc.
- Phân tích thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự về tội đánh bạc trên địa bàn cả nước; nêu nhận xét, đánh giá về những vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội đánh bạc.
Đối tượng nghiên cứu của công trình bao gồm các vấn đề lý luận chung, các quy định của BLHS Việt Nam hiện hành, thực tiễn áp dụng tội đánh bạc trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và thực trạng công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm đánh bạc trên phạm vi cả nước.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tội đánh bạc dưới góc độ pháp lý hình sự theo quy định tại Điều 321 BLHS năm 2015.
- Phạm vi thời gian và không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn cả nước trong giai đoạn 06 năm, từ năm 2018 đến hết năm 2023 (số liệu thống kê từ ngày 01/01/2018 đến hết Quý 1/2023 và tháng 4/2023 theo báo cáo tổng kết của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân các cấp gửi về các cơ quan trung ương).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về tội phạm học và khoa học luật hình sự Việt Nam, tiếp thu các quan điểm học thuật của các học giả trong nước và quốc tế như Larry J. Siegel (2001, 2007), GS. Lê Cảm, GS.TS. Võ Khánh Vinh, PGS. Trịnh Quốc Toản, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, TS. Trần Văn Thắng... Tác giả tiếp cận khái niệm tội phạm theo BLHS năm 2015 gắn với việc cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền con người, quyền công dân và việc mở rộng chủ thể chịu TNHS bao gồm cả pháp nhân thương mại. Về mặt hành vi, đánh bạc được xác định dựa trên ba yếu tố cấu thành: sự tính toán, cơ hội (may rủi) và lợi nhuận, thể hiện qua việc tham gia trò chơi trái phép được thua bằng tiền hoặc tài sản có tính chất sát phạt.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích bao gồm:
- Các văn bản pháp luật lịch sử và hiện hành của Việt Nam: Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Thông tư số 301/VHH-HS và Thông tư số 2098/VHH-HS năm 1957 của Bộ Tư pháp; Bản tổng kết số 09/NCPL ngày 08/01/1968 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC); Sắc luật số 03-SL/76 và Chỉ thị số 54/TATC ngày 06/7/1977; BLHS năm 1985 (Điều 200); BLHS năm 1999 (Điều 248, Điều 249, sửa đổi bổ sung năm 2009); BLHS năm 2015 (Điều 9, Điều 12, Điều 35, Điều 52, Điều 53, Điều 321, Điều 322, Điều 324);
- Các văn bản dưới luật và văn bản giải thích pháp luật: Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Nghị định số 03/2017/NĐ-CP về kinh doanh casino; Nghị định số 144/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự; Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 của TANDTC;
- Luật hình sự của một số quốc gia: BLHS Nhật Bản năm 1908 (sửa đổi năm 2011, Điều 185, 186); BLHS nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1979 (sửa đổi các năm 1997, 1999, 2001, 2002, 2005, Điều 303); BLHS Thụy Điển (Điều 14 Chương 16).
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tội phạm. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: Làm rõ quá trình hình thành, phát triển của các quy định pháp luật về tội đánh bạc từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu sự khác biệt giữa tội đánh bạc với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đồng thời so sánh quy định của BLHS Việt Nam với pháp luật hình sự Nhật Bản, Trung Quốc và Thụy Điển.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP), dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung và những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu xét xử, điều tra, truy tố tội đánh bạc trong giai đoạn 2018 - 2023.
Nguồn dữ liệu thực tế được trích xuất từ báo cáo tổng kết của các cơ quan tư pháp trung ương gồm: Công văn số 1785/C02-P1 ngày 19/5/2023 của Cục Cảnh sát Hình sự - Bộ Công an; số liệu thống kê từ Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học - TANDTC; cùng các bản án thực tiễn tại TAND cấp huyện (như Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 04/8/2023 của TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
Chương này tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý của tội đánh bạc, khảo cứu lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam và đối chiếu quy định pháp luật hình sự quốc tế.
Tác giả đưa ra định nghĩa tổng quát: “Tội đánh bạc là hành vi tham gia trò chơi được tổ chức trái pháp luật (dưới bất kỳ hình thức nào), được thua bằng tiền hay hiện vật từ năm triệu đồng trở lên, hoặc dưới năm triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc và gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng”.
Bốn đặc điểm đặc trưng của tội đánh bạc được phân tích gồm:
- Tính nguy hiểm cho xã hội lớn: Khách thể bị xâm phạm là trật tự, an toàn công cộng (phạm vi rộng lớn); phương tiện phạm tội là tiền hoặc hiện vật dùng vào việc đánh bạc.
- Đặc điểm lỗi: Lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm và tính trái pháp luật của hành vi nhưng vẫn mong muốn thực hiện nhằm sát phạt kinh tế.
- Chủ thể của tội phạm: Đa dạng về độ tuổi, giới tính, học vấn và nghề nghiệp. Về độ tuổi, nhóm từ 38 đến dưới 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất, nhóm từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ tương đối. Về giới tính, nam giới chiếm đa số; nữ giới ít hơn và chủ yếu tham gia dưới hình thức ghi số đề, bài tứ sắc. Về học vấn, người có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất, nhóm trung học phổ thông chiếm tỷ lệ khá cao. Về nghề nghiệp, chiếm đa số là nông dân, tiểu thương buôn bán, lao động tự do, người không có nghề nghiệp ổn định; ngoài ra còn có cán bộ, công chức (dẫn chứng vụ kỷ luật Bí thư Đảng ủy và Phó Chủ tịch UBND xã Minh Châu, huyện Đông Hưng, Thái Bình năm 2018 do đánh bạc tại trụ sở).
- Tính đa dạng về phương thức, thủ đoạn phạm tội: Các đối tượng lựa chọn địa điểm kiên cố, khép kín, trá hình cơ sở kinh doanh hợp pháp, phân công bảo vệ cảnh giới; đặc biệt là xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang không gian mạng thông qua mạng internet và các thiết bị thông minh.
Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội đánh bạc được chia thành các giai đoạn:
- Giai đoạn phong kiến đến trước năm 1945: Quy định trong Quốc triều hình luật (thời Lê), Luật Gia Long (thời Nguyễn, ban thưởng cho người tố giác), các lệnh nghiêm cấm thời vua Lê Huy Tông (1698), Minh Mạng, Thiệu Trị.
- Giai đoạn từ năm 1945 đến trước BLHS năm 1985: Sắc lệnh số 168/SL (1948) quy định hình phạt tù từ 1 đến 3 năm và phạt tiền từ 5.000 đến 50.000 đồng, không cho hưởng án treo; Thông tư số 301/VHH-HS và 2098/VHH-HS (1957) thu hẹp đối tượng xử lý hình sự vào những người chuyên sống bằng nghề cờ bạc; Bản tổng kết số 09/NCPL (1968) của TANDTC xác định ranh giới xử lý hình sự dựa trên động cơ sát phạt nhau; Sắc luật số 03-SL/76 tại miền Nam quy định mức phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm (khoản tăng nặng đến 15 năm).
- Giai đoạn BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999: Điều 200 BLHS năm 1985 gộp tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc/gá bạc trong cùng điều luật và chưa định lượng số tiền; Điều 248 BLHS năm 1999 đã tách riêng hai tội danh, quy định mức định lượng từ 2 triệu đồng trở lên (đến năm 2009 bổ sung cụm từ "trái phép").
Về pháp luật hình sự quốc tế, tác giả phân tích hai nhóm quan điểm: nghiêm cấm tuyệt đối (Nhật Bản, Trung Quốc) và hợp pháp hóa có quản lý (Mỹ, Anh, Pháp, Campuchia).
| Quốc gia |
Điều luật quy định |
Khung hình phạt chính |
Hình phạt bổ sung |
Điểm đặc thù so với Việt Nam |
| Việt Nam |
Điều 321 BLHS 2015 |
Khoản 1: Phạt tiền 20-100 triệu, cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc tù 6 tháng - 3 năm. Khoản 2: Tù 3-7 năm. |
Phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ |
Định lượng tiền cụ thể (từ 5 triệu đồng); chế tài nghiêm khắc hơn (tối đa 7 năm tù). |
| Nhật Bản |
Điều 185, 186 BLHS 1908 (sửa đổi 2011) |
Đánh bạc thông thường: Phạt tiền dưới 50 vạn Yên. Đánh bạc nhiều lần: Phạt tù dưới 3 năm. Mở sòng bạc: Tù 3 tháng đến dưới 5 năm. |
Không quy định |
Hình phạt chính chủ yếu là phạt tiền; mức phạt tù tối đa chỉ đến 3 năm; không quy định tình tiết định khung tăng nặng trong cùng điều luật. |
| Trung Quốc |
Điều 303 BLHS 1979 (sửa đổi 2005) |
Tù đến 3 năm, cải tạo lao động hoặc quản chế, kèm theo phạt tiền. |
Phạt tiền |
Không định lượng giá trị cụ thể trong cấu thành cơ bản; quy định chung hành vi đánh bạc làm nghề và mở sòng bạc trong cùng điều luật; hình phạt tối đa 3 năm tù. |
| Thụy Điển |
Điều 14 Chương 16 BLHS |
Phạt tiền hoặc phạt tù đến 2 năm. |
Không nêu rõ |
Không nêu rõ số lượng tiền dùng đánh bạc; mức chế tài nhẹ hơn Việt Nam. |
Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đánh bạc
Chương 2 đi sâu phân tích các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm theo Điều 321 BLHS năm 2015:
- Dấu hiệu định tội (Khoản 1 Điều 321):
- Chủ thể: Cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS). Đối với hành vi có giá trị tiền/hiện vật dưới 5.000.000 đồng, nhân thân xấu (đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án chưa được xóa án tích về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc) là dấu hiệu bắt buộc để định tội (minh họa qua Bản án số 47/2023/HS-ST của TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử bị cáo Phạm Văn H dùng 250.000 đồng đánh kéo phé nhưng trước đó đã có 1 tiền sự về hành vi đánh bạc). Về yếu tố quốc tịch, người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam phải chịu TNHS theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp miễn trừ ngoại giao hoặc trường hợp người nước ngoài chơi casino hợp pháp theo Điều 11 Nghị định số 03/2017/NĐ-CP.
- Khách thể: Trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội.
- Mặt khách quan: Hành vi đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức (xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh, tiến lên, đá gà, tài xỉu, máy trò chơi điện tử, cá cược thể thao, bán số lô, số đề...). Định lượng giá trị tiền/hiện vật từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (hoặc dưới 5.000.000 đồng kèm điều kiện về tiền án, tiền sự).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp với động cơ sát phạt kinh tế.
- Dấu hiệu định khung hình phạt (Khoản 2 Điều 321 - Phạt tù từ 3 đến 7 năm):
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (Điểm a): Cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên, lấy kết quả phạm tội làm nghề sinh sống và nguồn sống chính (vận dụng Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP). Tác giả dẫn chứng trường hợp kiểm lâm Khe Gát (Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng) thường xuyên đánh bạc tại nơi làm việc chỉ bị coi là phạm tội nhiều lần chứ không mang tính chuyên nghiệp do không lấy cờ bạc làm nguồn sống chính.
- Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên (Điểm b): Căn cứ vào tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và trên người các con bạc có căn cứ chứng minh dùng vào việc đánh bạc. Tác giả phân tích sự chuyển dịch sang sử dụng tiền ảo (BTC, ETH, USDT) qua ví điện tử Remitano, Binance liên kết với tài khoản game (dẫn chứng vụ án Huỳnh Long Bạch và Huỳnh Long Nhu cầm đầu qua 2 trang web swiftconline.live và nagaclubs với quy mô 87.612 tỷ đồng, gần 4 tỷ USD do Công an TP. Hồ Chí Minh triệt phá).
- Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội (Điểm c): Thiết lập các cổng game bài, trang web trực tuyến (dẫn chứng vụ án cổng game fbslive.com quy mô hơn 100 tỷ đồng tại Hà Tĩnh và cổng game 9666club quy mô 3.600 tỷ đồng với 25.000 tài khoản tại Nam Định). Tác giả lưu ý: Theo Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018, việc người phạm tội chỉ dùng điện thoại, tin nhắn SMS, Zalo, Viber, Email để liên lạc ghi đề, cá độ đơn thuần mà không hình thành trò chơi trực tuyến được thua thì không thuộc trường hợp định khung tăng nặng theo Điểm c Khoản 2.
- Tái phạm nguy hiểm (Điểm d): Căn cứ Khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015. Do tội đánh bạc tại Khoản 1 là tội ít nghiêm trọng, Khoản 2 là tội nghiêm trọng, nên người đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý mà lại phạm tội đánh bạc thì chỉ thuộc trường hợp "tái phạm", không phải "tái phạm nguy hiểm". Tình tiết tái phạm nguy hiểm chỉ áp dụng khi người phạm tội đã bị kết án tái phạm chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội đánh bạc.
- Hình phạt áp dụng:
- Hình phạt chính: Khoản 1 gồm phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khoản 2 áp dụng hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
- Hình phạt bổ sung (Khoản 3): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (chỉ áp dụng khi hình phạt chính không phải là hình phạt tiền).
- Phân biệt tội đánh bạc với một số tội danh khác:
- Với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322): Tội tổ chức đánh bạc đòi hỏi hành vi chỉ huy, điều hành, cưỡng ép, phân công, bố trí lối thoát, canh gác, quy mô từ 10 người hoặc 2 chiếu bạc trở lên với số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên (hoặc tổng số tiền từ 20.000.000 đồng trở lên). Tội gá bạc đòi hỏi hành vi dùng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho người khác đánh bạc nhằm thu tiền bất chính (tiền hồ/tiền xâu).
- Với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174): Điểm mấu chốt nằm ở tính chất may rủi, ngẫu nhiên khách quan của việc thắng thua. Tội đánh bạc là quá trình các bên tham gia sát phạt bình đẳng dựa trên yếu tố may rủi; trong khi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủ đoạn gian dối (như bài thửa đánh dấu sẵn, thiết bị điện tử bịp) để người phạm tội hoàn toàn làm chủ và định đoạt kết quả thắng thua nhằm chiếm đoạt tiền của người khác.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với tội đánh bạc
Chương này tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2018 - 2023, phân tích số liệu thống kê từ các cơ quan tiến hành tố tụng và chỉ ra các vướng mắc, bất cập.
Theo số liệu từ Công văn số 1785/C02-P1 ngày 19/5/2023 của Cục Cảnh sát Hình sự - Bộ Công an, từ ngày 01/01/2018 đến hết Quý 1/2023, các cơ quan điều tra trên toàn quốc đã khởi tố tổng cộng 27.659 bị can về các tội cờ bạc. Trong đó, tội đánh bạc chiếm 24.490 vụ với 119.260 bị can (chiếm xấp xỉ 90% tổng số vụ án và bị can thuộc nhóm tội cờ bạc), tội tổ chức đánh bạc chiếm 2.399 bị can.
Số liệu khởi tố tội đánh bạc của Cơ quan Cảnh sát điều tra qua từng năm:
| Năm |
Số vụ án khởi tố |
Số bị can khởi tố |
Biến động so với năm trước |
| 2018 |
3.530 |
11.186 |
Năm đầu tiên thi hành BLHS 2015 (sửa đổi 2017) |
| 2019 |
4.355 |
22.907 |
Tăng 825 vụ; số bị can tăng 11.721 (gấp đôi năm 2018) |
| 2020 |
5.646 |
28.942 |
Tiếp tục tăng; tăng 1.035 bị can |
| 2021 |
5.086 |
26.086 |
Giảm nhẹ 560 vụ và 2.856 bị can so với năm 2020 |
| 2022 |
4.854 |
24.861 |
Giảm nhẹ 291 vụ và 1.225 bị can so với năm 2021 |
| Quý 1/2023 |
960 |
5.278 |
Dự báo xu hướng giảm nhẹ |
| Tổng cộng |
24.490 |
119.260 |
Chiếm xấp xỉ 90% cơ cấu tội phạm cờ bạc toàn quốc |
Về phía Viện kiểm sát nhân dân, trong giai đoạn từ 01/01/2018 đến 30/4/2023, VKSND các cấp đã thụ lý, giải quyết 33.979 bị can về tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Về phía Tòa án nhân dân, các cấp Tòa án đã thụ lý và đưa ra xét xử hàng chục nghìn vụ án đánh bạc trên cả nước.
Khóa luận chỉ ra các hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng:
- Xác định số tiền dùng đánh bạc: Chưa có văn bản hướng dẫn mới thay thế Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP áp dụng cho BLHS năm 2015, dẫn đến việc tính số tiền đánh bạc của người chơi và chủ cái trong các đường dây cá độ bóng đá, số lô đề còn thiếu đồng nhất.
- Áp dụng tình tiết định khung sử dụng mạng internet, phương tiện điện tử (Điểm c Khoản 2 Điều 321): Thực tiễn áp dụng giữa các địa phương còn lúng túng trong việc phân định ranh giới giữa việc dùng ứng dụng viễn thông liên lạc thông thường với việc vận hành hệ thống đánh bạc trực tuyến.
- Áp dụng tình tiết "có tính chất chuyên nghiệp": Việc thiếu hướng dẫn cụ thể riêng cho Điều 321 BLHS năm 2015 buộc các cơ quan tố tụng phải vận dụng hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, gây khó khăn trong chứng minh yếu tố "lấy việc đánh bạc làm nguồn sống chính".
- Xử lý tài sản kỹ thuật số và tiền ảo: Pháp luật Việt Nam chưa công nhận tiền ảo là phương tiện thanh toán hợp pháp, dẫn đến khó khăn trong việc thu thập chứng cứ điện tử, kê biên, phong tỏa và xử lý tang vật là các đồng tiền mã hóa (BTC, ETH, USDT) trong các cổng game trực tuyến.
Nguyên nhân của các tồn tại bao gồm: sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin vượt trước tiến độ ban hành văn bản pháp luật; văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 321 BLHS năm 2015 chậm được ban hành; trình độ nghiệp vụ công nghệ cao của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế; và công tác thanh tra, kiểm tra phòng chống tiêu cực trong các lực lượng chức năng đôi lúc chưa triệt để.
Từ đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện pháp luật: Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần sớm ban hành Nghị quyết mới hướng dẫn áp dụng Điều 321 và Điều 322 BLHS năm 2015; xây dựng quy chế pháp lý về quản lý và xử lý chứng cứ điện tử, tiền ảo trong hoạt động tư pháp hình sự; hướng dẫn cụ thể cách xác định tình tiết định khung tăng nặng.
- Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ: Tăng cường trang bị phương tiện kỹ thuật số, đào tạo chuyên sâu về kỹ năng điều tra tội phạm công nghệ cao cho đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán.
- Tăng cường phối hợp liên ngành: Phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án với các ngân hàng thương mại và các nhà mạng viễn thông để kịp thời phong tỏa dòng tiền bất chính.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và phòng ngừa tiêu cực: Tăng cường tuyên truyền pháp luật trong quần chúng nhân dân; kiểm tra, xử lý nghiêm các biểu hiện bao che, bảo kê, tiếp tay cho tội phạm cờ bạc.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về tội đánh bạc, phân tích toàn diện 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 321 BLHS năm 2015 và các tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2. Công trình cung cấp bức tranh thực tiễn thông qua các số liệu thống kê tư pháp chính thức giai đoạn 2018 - Quý 1/2023 từ Cục Cảnh sát Hình sự (24.490 vụ / 119.260 bị can khởi tố về tội đánh bạc), VKSND tối cao (33.979 bị can thụ lý) và TAND tối cao.
So với các công trình nghiên cứu trước đây vốn thường tập trung vào phạm vi hẹp ở từng địa phương hoặc nghiên cứu chung nhóm tội cờ bạc dưới thời kỳ BLHS năm 1999, khóa luận của tác giả Nguyễn Hồ Khánh Linh có những đóng góp học thuật cụ thể:
- Đánh giá toàn diện 06 năm thi hành quy định về tội đánh bạc theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) trên bình diện toàn quốc.
- Phân tích chuyên sâu các mô hình đánh bạc công nghệ cao mới phát sinh (cổng game online, mô hình đa cấp, tiền kỹ thuật số USDT/ETH) gắn với việc áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 321 và Công văn số 196/TANDTC-PC.
- Đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật có tính thực tiễn cao, đặc biệt là yêu cầu cấp thiết ban hành Nghị quyết mới của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để thay thế Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn về phạm vi dữ liệu: số liệu thống kê của Cơ quan Cảnh sát điều tra chỉ thu thập đến hết Quý 1/2023 và số liệu của VKSND, TAND đến tháng 4/2023, chưa bao quát trọn vẹn cả năm 2023 và các năm tiếp theo. Ngoài ra, do tập trung chủ yếu vào khía cạnh luật hình sự thực định tại Điều 321, đề tài chưa mở rộng phân tích sâu các khía cạnh tố tụng hình sự đặc thù như kỹ thuật thu thập chứng cứ điện tử xuyên biên giới hoặc cơ chế tương trợ tư pháp quốc tế trong dẫn độ tội phạm đánh bạc trực tuyến.
Các hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
- Nghiên cứu cơ chế pháp lý xử lý các loại tài sản mã hóa, tiền kỹ thuật số dùng làm phương tiện thanh toán trong tội phạm đánh bạc trực tuyến.
- Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thu thập, giám định và chuyển hóa chứng cứ dữ liệu điện tử đối với các đường dây đánh bạc xuyên quốc gia.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Luật Hình sự và Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Nội dung phân tích dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung (đặc biệt là tình tiết phạm tội qua mạng internet và xác định tái phạm nguy hiểm) cùng các tiêu chí phân biệt tội đánh bạc với tội tổ chức đánh bạc, gá bạc (Điều 322) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) có giá trị thực tiễn đối với cán bộ điều tra, kiểm sát viên và thẩm phán trong công tác định tội danh và quyết định hình phạt.
Câu hỏi thường gặp
1. Người sử dụng điện thoại di động, nhắn tin qua Zalo, SMS để ghi số đề, cá độ bóng đá có bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tại Điểm c Khoản 2 Điều 321 BLHS năm 2015 không?
Không. Căn cứ theo Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 của TANDTC, việc sử dụng mạng internet, mạng viễn thông hay phương tiện điện tử chỉ với tư cách là phương tiện liên lạc đơn thuần (như gọi điện, nhắn tin qua Zalo, Viber, SMS, Email để ghi số đề, cá độ) mà không hình thành nên các trò chơi trực tuyến được thua bằng tiền/hiện vật thì không thuộc trường hợp định khung tăng nặng theo Điểm c Khoản 2 Điều 321 BLHS năm 2015.
2. Người có tiền án về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội đánh bạc thì có bị áp dụng tình tiết "tái phạm nguy hiểm" theo Điểm d Khoản 2 Điều 321 không?
Không. Căn cứ Khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015, điều kiện để cấu thành tái phạm nguy hiểm đòi hỏi hành vi phạm tội mới cũng phải là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Do tội đánh bạc quy định tại Khoản 1 Điều 321 là tội ít nghiêm trọng (phạt tù tối đa 3 năm) và Khoản 2 là tội nghiêm trọng (phạt tù tối đa 7 năm), nên trường hợp này chỉ bị áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm" thông thường chứ không đủ điều kiện định khung "tái phạm nguy hiểm".
3. Tiêu chí cốt lõi nào dùng để phân biệt tội đánh bạc với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các ván chơi có hành vi gian dối?
Tiêu chí cốt lõi là tính chất ngẫu nhiên, may rủi của kết quả được thua. Tội đánh bạc là quá trình các bên tham gia sát phạt bình đẳng dựa trên yếu tố may rủi khách quan. Ngược lại, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) sử dụng hành vi gian dối (như sử dụng bộ bài thửa đánh dấu sẵn hoặc thiết bị điện tử gian lận) làm công cụ chủ động chi phối, sắp đặt toàn bộ kết quả thắng thua nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
4. Khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với tội đánh bạc theo Điều 321 BLHS năm 2015 được quy định như thế nào?
Hình phạt chính gồm 2 khung: Khoản 1 áp dụng mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; Khoản 2 áp dụng hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với các trường hợp định khung tăng nặng. Hình phạt bổ sung (Khoản 3) là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (chỉ áp dụng khi hình phạt chính không phải là hình phạt tiền).
5. Cơ cấu số liệu khởi tố tội cờ bạc của Cục Cảnh sát Hình sự giai đoạn 2018 - Quý 1/2023 phản ánh thực trạng gì về tội đánh bạc?
Trong tổng số 27.659 bị can thuộc nhóm tội cờ bạc bị khởi tố, tội đánh bạc chiếm 24.490 vụ với 119.260 bị can, tương đương xấp xỉ 90% tổng số vụ án và bị can. Số liệu này phản ánh tội đánh bạc chiếm tỷ trọng áp đảo so với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (2.399 bị can), thể hiện tính chất phổ biến và phức tạp của hành vi tham gia đánh bạc trong xã hội.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Hồ Khánh Linh đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và quy định pháp lý về tội đánh bạc theo Điều 321 BLHS năm 2015. Thông qua nguồn dữ liệu thống kê tư pháp toàn quốc giai đoạn 2018 - 2023, công trình đã phản ánh thực trạng áp dụng pháp luật, phân tích những vướng mắc phát sinh từ các hình thức cờ bạc công nghệ cao và đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện lập pháp cũng như nâng cao năng lực thực thi. Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo có giá trị tư liệu khoa học và ý nghĩa tham khảo thực tiễn đối với hoạt động đào tạo luật học và công tác tư pháp hình sự tại Việt Nam.