Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tín chấp theo quy định của pháp luật Việt Nam" do tác giả Phan Thị Hương Giang thực hiện (chuyên ngành Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Hoàng Ngọc Hưng) nghiên cứu chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng biện pháp tín chấp trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự giữ vai trò là công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi của bên có quyền. Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Khác với các biện pháp bảo đảm mang tính đối vật (dựa trên tài sản như thế chấp, cầm cố), tín chấp và bảo lãnh là các biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân (không bằng tài sản). Tín chấp là công cụ pháp lý đặc thù gắn liền với chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, tạo điều kiện cho các cá nhân, hộ gia đình nghèo – nhóm chủ thể yếu thế không có tài sản bảo đảm – được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và thoát nghèo bền vững.

Tuy nhiên, quy định về biện pháp bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị – xã hội tại Điều 344 BLDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn bộc lộ hạn chế, thiếu đồng bộ và thiếu quy định điều chỉnh trực tiếp, dẫn đến vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tín chấp, phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, chỉ ra bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi. Để đạt mục đích trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác lập cơ sở lý luận về biện pháp bảo đảm bằng tín chấp theo pháp luật Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về tín chấp (về chủ thể, đối tượng, nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên).
  3. Đánh giá thực tiễn thực hiện, chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quan điểm lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh biện pháp tín chấp, thực tiễn áp dụng đối với cá nhân, hộ gia đình nghèo và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình cho vay có bảo đảm bằng tín chấp tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào quy định pháp luật dân sự hiện hành (trọng tâm là BLDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành), đặt trong mối liên hệ với các chính sách tín dụng xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững.

Về cơ sở pháp lý, tác giả phân tích và đối chiếu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) và Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015, trọng tâm tại Điều 344 và Điều 345).
  • Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 45 và Điều 46).
  • Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (Điều 4).
  • Luật Công đoàn năm 2012, Điều lệ của các tổ chức chính trị – xã hội (Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).
  • Các văn bản quy định về chuẩn nghèo và tín dụng chính sách: Nghị định số 78/2002/NĐ-CP, Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, Quyết định số 12/QĐ-HĐQT của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), Thông tư số 43/2016/TT-NHNN và Thông tư số 18/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành, bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ khái niệm, đặc điểm, cấu trúc quan hệ pháp luật tín chấp và quyền, nghĩa vụ của các bên.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Phân biệt tín chấp với các biện pháp bảo đảm bằng tài sản và biện pháp bảo lãnh; so sánh quy định tín chấp trong BLDS 2015 với quy định cho vay tiêu dùng tín chấp tại các công ty tài chính.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn và thống kê mô tả: Phân tích số liệu chuẩn nghèo qua các thời kỳ, số liệu điều tra mức sống dân cư và báo cáo giảm nghèo của Tổng cục Thống kê, cùng thực tiễn hoạt động của NHCSXH và thực tiễn xét xử của Tòa án.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm hệ thống văn bản luật, số liệu thống kê quốc gia giai đoạn 2010–2022, cùng các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước như TS. Phạm Văn Tuyết, TS. Lê Kim Giang, TS. Vũ Thị Hồng Yến, ThS. Hoàng Thu Nhường, ThS. Mùi Thị Hiện, TS. Lê Ngọc Thắng, NCS. Đoàn Thị Ngọc Hải.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về tín chấp

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chế định tín chấp trong luật dân sự. Tác giả định nghĩa tín chấp là hình thức vay tiền mà trong đó tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở dùng uy tín của mình để bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình chính sách cần được hỗ trợ vay một khoản tiền tại các tổ chức tín dụng để tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ.

Khóa luận phân tích các đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm (tính phụ thuộc vào nghĩa vụ chính, tính xử lý khi có vi phạm) và chỉ ra các đặc điểm riêng biệt của tín chấp:

  • Về chủ thể: Bên bảo đảm phải là tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở; bên được bảo đảm là cá nhân, hộ gia đình nghèo; bên nhận bảo đảm là các tổ chức tín dụng.
  • Về quy mô và mục đích khoản vay: Khoản tiền vay thường nhỏ, phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh quy mô hộ hoặc trang trải đời sống thiết yếu.
  • Về xử lý nghĩa vụ: Khi bên vay không trả được nợ, tổ chức chính trị – xã hội cơ sở không phải dùng tài sản của mình để trả thay (như trong bảo lãnh) mà có trách nhiệm đôn đốc, phối hợp xử lý, lập hồ sơ đề xuất giãn nợ, giảm lãi suất hoặc xóa nợ theo quy định trong trường hợp bất khả kháng.
  • Về đối tượng: Đối tượng của tín chấp là "uy tín" – một giá trị nhân thân phi vật chất, không thể quy đổi thành tiền hay kê biên, xử lý phát mại như tài sản thông thường.

Về hình thức và nội dung, Điều 345 BLDS 2015 quy định việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị – xã hội về điều kiện, hoàn cảnh người vay. Nội dung thỏa thuận gồm mức vốn vay, mục đích, thời hạn (ngắn hạn dưới 12 tháng, trung hạn từ trên 12 đến 60 tháng, dài hạn từ trên 60 đến 120 tháng), lãi suất ưu đãi (thường ở mức 0,2%, 0,25%, 0,5%, 0,55%/tháng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay) theo quy định tại Quyết định số 12/QĐ-HĐQT và các văn bản điều hành.

Tác giả phân biệt rõ hai khái niệm thường bị đồng nhất trên thực tế:

  • Tín chấp theo BLDS 2015: Biện pháp bảo đảm bằng uy tín của đoàn thể chính trị – xã hội nhằm phục vụ an sinh xã hội cho người nghèo.
  • Cho vay tín chấp (cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm) theo Thông tư 43/2016/TT-NHNN: Hoạt động thương mại thuần túy của các công ty tài chính, cấp hạn mức dựa trên điểm tín dụng cá nhân (CIC, bảng lương, hợp đồng lao động), quy mô dư nợ tối đa 100 triệu đồng/khách hàng với mức lãi suất cao hơn nhiều do mức độ rủi ro tín dụng lớn.

Chương này cũng phân loại rủi ro trong quan hệ hợp đồng tín chấp thành rủi ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh, thay đổi chính sách, người vay chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự) và rủi ro chủ quan từ ba phía (tổ chức tín dụng thẩm định lỏng lẻo; bên vay sử dụng vốn sai mục đích hoặc chây ỳ; đoàn thể cơ sở buông lỏng quản lý, giám sát).

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về tín chấp

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh ba yếu tố cấu thành quan hệ tín chấp: chủ thể, đối tượng và nội dung quyền, nghĩa vụ.

Về bên được bảo đảm (cá nhân, hộ gia đình nghèo): Khóa luận phân tích tiến trình thay đổi tiêu chí chuẩn nghèo tại Việt Nam từ đơn chiều (dựa trên thu nhập quy ra gạo hoặc tiền) sang chuẩn nghèo đa chiều.

Giai đoạn áp dụng Văn bản căn cứ Tiêu chí chuẩn nghèo khu vực nông thôn Tiêu chí chuẩn nghèo khu vực thành thị
1993 – 1995 Bộ LĐ-TB&XH Thu nhập quy đổi dưới 15 kg gạo/người/tháng Thu nhập quy đổi dưới 20 kg gạo/người/tháng
1995 – 1997 Bộ LĐ-TB&XH Miền núi/hải đảo: < 15 kg gạo; Đồng bằng/trung du: < 20 kg gạo Thu nhập quy đổi dưới 25 kg gạo/người/tháng
1997 – 2000 Công văn 175/LĐTBXH Miền núi: < 15 kg (55.000 đ); Đồng bằng: < 20 kg (70.000 đ) Dưới 25 kg gạo/người/tháng (tương đương 90.000 đ)
2001 – 2005 QĐ 1143/2000/QĐ-LĐTBXH Miền núi: 80.000 đ/tháng; Đồng bằng: 100.000 đ/tháng Thu nhập từ 150.000 đ/người/tháng trở xuống
2006 – 2010 QĐ 170/2005/QĐ-TTg Thu nhập bình quân từ 200.000 đ/người/tháng trở xuống Thu nhập bình quân từ 260.000 đ/người/tháng trở xuống
2011 – 2015 QĐ 09/2011/QĐ-TTg Thu nhập bình quân từ 400.000 đ/người/tháng trở xuống Thu nhập bình quân từ 500.000 đ/người/tháng trở xuống
2016 – 2020 QĐ 59/2015/QĐ-TTg Thu nhập $\le$ 700.000 đ, hoặc 700.000–1.000.000 đ và thiếu hụt $\ge$ 3 chỉ số DVXH cơ bản Thu nhập $\le$ 900.000 đ, hoặc 900.000–1.300.000 đ và thiếu hụt $\ge$ 3 chỉ số DVXH cơ bản
2022 – 2025 NĐ 07/2021/NĐ-CP Thu nhập $\le$ 1.500.000 đ/người/tháng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản trở lên Thu nhập $\le$ 2.000.000 đ/người/tháng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản trở lên

Ghi chú: Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022–2025 theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP bao gồm 06 dịch vụ xã hội cơ bản (việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin) và 12 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt.

Khóa luận trích xuất số liệu thực tế về giảm nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 14,2% (2010) xuống còn 11,76% (2011), 9,6% (2012), 7,8% (2013), 5,07% (2014) và dưới 5% (2015). Năm 2022, tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước là 4,3% (vùng dân tộc thiểu số là 23,7%, giảm 12,8 điểm phần trăm so với năm 2016; nhóm người Kinh và Hoa là 2%).

Vùng kinh tế – xã hội Tỷ lệ nghèo đa chiều năm 2021 (%) Tỷ lệ nghèo đa chiều năm 2022 (%) Mức giảm bình quân/năm giai đoạn 2016–2021 (điểm %)
Trung du và miền núi phía Bắc 12,1 12,1 Giảm 1,92
Tây Nguyên 10,1 11,4 Giảm 1,69
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 5,7 5,0 Giảm 1,17
Đồng bằng sông Cửu Long 3,8 4,7 Giảm 0,96
Đồng bằng sông Hồng 1,2 0,9 Giảm 0,37
Đông Nam Bộ 0,2 0,7 Giảm 0,15

Về bên bảo đảm: Theo Điều 45 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, bên bảo đảm là tổ chức ở cấp xã, phường, thị trấn của 6 đoàn thể: (1) Hội Nông dân Việt Nam, (2) Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, (3) Công đoàn cơ sở, (4) Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, (5) Hội Cựu chiến binh Việt Nam, (6) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tác giả phân tích địa vị pháp lý, cơ cấu 4 cấp của từng tổ chức và lý giải nguyên nhân nhà làm luật chỉ trao quyền bảo đảm tín chấp cho các tổ chức này (do mạng lưới cơ sở sâu rộng, khả năng nắm bắt hoàn cảnh hộ gia đình và mức độ uy tín xã hội cao).

Về bên nhận bảo đảm: Bao gồm các tổ chức tín dụng theo Luật Các TCTD 2010 (Ngân hàng thương mại, Ngân hàng hợp tác xã, TCTD phi ngân hàng, Tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân), trong đó chủ thể trung tâm là Ngân hàng Chính sách xã hội. NHCSXH được thành lập theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP và Quyết định 131/2002/QĐ-TTg, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, vốn điều lệ ban đầu 5.000 tỷ đồng, mạng lưới gồm Hội sở chính, 63 Chi nhánh cấp tỉnh, 626 Phòng giao dịch cấp huyện và hệ thống Điểm giao dịch đặt tại trụ sở UBND xã.

Về đối tượng và quyền nghĩa vụ: Đối tượng của tín chấp là uy tín của đoàn thể cơ sở. Quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định chi tiết tại Điều 46 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP:

  • Tổ chức chính trị – xã hội: Có quyền từ chối bảo đảm nếu người vay không đủ điều kiện; có nghĩa vụ xác nhận hoàn cảnh, phối hợp giải ngân, giám sát sử dụng vốn và đôn đốc trả nợ.
  • Tổ chức tín dụng: Có quyền yêu cầu đoàn thể phối hợp kiểm tra, đôn đốc; có nghĩa vụ giải ngân và thực hiện thu hồi nợ.
  • Người vay: Có quyền nhận tiền vay, nghĩa vụ sử dụng vốn đúng mục đích đã cam kết và hoàn trả nợ gốc, lãi đúng hạn.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về tín chấp ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 chỉ ra các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng và đề xuất định hướng hoàn thiện:

  1. Vướng mắc về cơ chế pháp lý xử lý vi phạm: Do đối tượng bảo đảm là uy tín (phi tài sản), khi người vay không trả được nợ hoặc cố tình chây ỳ, TCTD không có tài sản để xử lý thu hồi nợ, cũng không thể yêu cầu đoàn thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tài sản thay thế. Việc khởi kiện ra Tòa án thường kéo dài và khó thi hành án do người vay không có tài sản giá trị.
  2. Trách nhiệm của tổ chức chính trị – xã hội chưa gắn liền với chế tài cụ thể: Vai trò của tổ chức đoàn thể cơ sở mới dừng lại ở việc đôn đốc, giám sát mang tính tinh thần; chưa có chế tài pháp lý ràng buộc trách nhiệm khi đoàn thể xác nhận sai đối tượng hoặc thiếu trách nhiệm trong kiểm tra vốn vay.
  3. Sự thiếu đồng bộ giữa BLDS 2015 và pháp luật chuyên ngành ngân hàng: Tồn tại sự nhầm lẫn giữa biện pháp tín chấp theo luật dân sự và nghiệp vụ cho vay tín chấp (cho vay không có TSBĐ) của các TCTD thương mại, dẫn đến khó khăn trong áp dụng văn bản pháp luật.

Khóa luận đưa ra các nhóm giải pháp:

  • Tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLDS 2015 và các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về cơ chế xử lý rủi ro nợ tín chấp, quy định rõ hơn giới hạn trách nhiệm phối hợp của tổ chức chính trị – xã hội.
  • Hoàn thiện quy chế phối hợp ủy thác giữa NHCSXH và các tổ chức chính trị – xã hội cơ sở, nâng cao năng lực thẩm định và giám sát của Tổ tiết kiệm và vay vốn.
  • Tăng cường cơ chế hỗ trợ xử lý nợ do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh) thông qua việc gia hạn nợ, khoanh nợ, xóa nợ theo quy định của Chính phủ, đồng thời kiên quyết áp dụng các biện pháp chế tài đối với trường hợp chiếm dụng vốn, cố tình không trả nợ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ bản chất pháp lý của biện pháp tín chấp theo Điều 344 BLDS 2015 là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân, phi tài sản, phân biệt với biện pháp bảo lãnh và nghiệp vụ cho vay tiêu dùng không tài sản bảo đảm của các công ty tài chính theo Thông tư 43/2016/TT-NHNN.
  • Hệ thống hóa đầy đủ tiến trình tiêu chí xác định chuẩn hộ nghèo qua 8 giai đoạn lịch sử (từ năm 1993 đến chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022–2025 theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP) và cấu trúc nguồn lực giảm nghèo khoảng 120 nghìn tỷ đồng (gồm 35% vốn Trung ương, 41% vốn xã hội hóa địa phương, 24% quỹ Vì người nghèo).
  • Phân định rõ cơ cấu và quyền hạn của 6 tổ chức chính trị – xã hội cơ sở đóng vai trò là bên bảo đảm và mô hình tổ chức của NHCSXH (63 chi nhánh tỉnh, 626 phòng giao dịch huyện) đóng vai trò là bên nhận bảo đảm.
  • Chỉ ra 2 nhóm nguyên nhân rủi ro (khách quan và chủ quan từ 3 bên) và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng cơ chế thực thi bảo đảm tín chấp tại Việt Nam.

So với các công trình nghiên cứu trước đó, khóa luận cập nhật các văn bản pháp lý mới như Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, đồng thời cập nhật số liệu khảo sát mức sống dân cư và tỷ lệ nghèo đa chiều đến năm 2022.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, do đó việc phân tích thực tiễn chủ yếu tập trung vào khung pháp lý dân sự và mô hình cho vay chính sách xã hội của NHCSXH đối với cá nhân, hộ nghèo; chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu hồ sơ các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tín chấp tại hệ thống Tòa án các cấp.

Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai có thể tập trung vào:

  • Đánh giá toàn diện thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín chấp tại Tòa án nhân dân các cấp và cơ chế thi hành án dân sự đối với các khoản vay tín chấp không có khả năng thu hồi.
  • Nghiên cứu khả năng mở rộng hoặc điều chỉnh chế định tín chấp đối với các đối tượng yếu thế khác ngoài hộ nghèo trong bối cảnh phát triển tài chính toàn diện và kinh tế số.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng tại các cơ sở đào tạo luật khi nghiên cứu về chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
  • Cán bộ nghiệp vụ tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội, cán bộ các tổ chức chính trị – xã hội cấp cơ sở (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh) tham gia vào hoạt động quản lý Tổ tiết kiệm và vay vốn.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước tham khảo phần tổng hợp tiêu chí chuẩn nghèo qua các thời kỳ và hệ thống hóa quyền, nghĩa vụ các bên theo Nghị định 21/2021/NĐ-CP.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật hiện hành, những tổ chức nào được quyền đứng ra bảo đảm bằng tín chấp?
Theo Điều 344 BLDS 2015 và Điều 45 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, chỉ có tổ chức ở cấp xã, phường, thị trấn của 6 tổ chức chính trị – xã hội sau mới được đứng ra bảo đảm bằng tín chấp: Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Công đoàn cơ sở (trừ trường hợp Điều lệ của tổ chức có quy định khác).

2. Điểm khác biệt cốt lõi về đối tượng của biện pháp tín chấp so với 8 biện pháp bảo đảm khác trong BLDS 2015 là gì?
Đối tượng của biện pháp tín chấp là "uy tín" của tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở. Đây là giá trị nhân thân phi vật chất, không phải là tài sản hay quyền tài sản. Do đó, khi người vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tổ chức tín dụng không thể xử lý phát mại đối tượng bảo đảm và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm cũng không phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay bằng tài sản của mình.

3. Sự khác nhau giữa "tín chấp theo BLDS 2015" và "cho vay tín chấp tiêu dùng" theo Thông tư 43/2016/TT-NHNN là gì?
Tín chấp theo BLDS 2015 là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ mang tính an sinh xã hội, bắt buộc phải có sự tham gia của tổ chức chính trị – xã hội cơ sở đứng ra bảo đảm cho cá nhân, hộ nghèo vay vốn tại các TCTD (chủ yếu là NHCSXH) với lãi suất ưu đãi (0,2% – 0,55%/tháng). Trong khi đó, cho vay tín chấp theo Thông tư 43/2016/TT-NHNN là nghiệp vụ cho vay tiêu dùng thương mại không có tài sản bảo đảm của các công ty tài chính, dựa trên uy tín cá nhân của người vay (chứng minh qua thu nhập, điểm tín dụng CIC), hạn mức tối đa 100 triệu đồng và lãi suất cho vay thương mại cao hơn nhiều do bù đắp rủi ro tín dụng.

4. Mức cho vay và thời hạn vay vốn đối với hộ nghèo được nêu trong khóa luận là bao nhiêu?
Theo Quyết định số 12/QĐ-HĐQT của NHCSXH, mức cho vay tối đa đối với một hộ nghèo đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh là 100 triệu đồng (trong đó sửa chữa nhà ở tối đa không quá 3 triệu đồng/hộ, điện thắp sáng tối đa không quá 1,5 triệu đồng/hộ, nước sạch tối đa không quá 10 triệu đồng/công trình/hộ, hỗ trợ học phí học tập). Thời hạn cho vay gồm: ngắn hạn (đến 12 tháng), trung hạn (trên 12 đến 60 tháng), và dài hạn (trên 60 đến 120 tháng) hoặc tính theo thời hạn sự kiện (như thời hạn đi xuất khẩu lao động).

5. Tiêu chí xác định hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022–2025 tại Nghị định 07/2021/NĐ-CP gồm những gì?
Theo Điều 3 Nghị định 07/2021/NĐ-CP, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống (ở nông thôn) hoặc từ 2.000.000 đồng trở xuống (ở thành thị), đồng thời bị thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên trong tổng số 12 chỉ số thuộc 06 dịch vụ xã hội cơ bản (việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Hương Giang đã khái quát toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý điều chỉnh biện pháp bảo đảm bằng tín chấp tại Việt Nam theo BLDS 2015 và Nghị định 21/2021/NĐ-CP. Đề tài làm rõ vị trí đặc thù của tín chấp như một công cụ pháp lý đối nhân phục vụ chính sách an sinh xã hội, gắn kết trách nhiệm giữa tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị – xã hội cơ sở và hộ nghèo. Trên cơ sở phân tích diễn biến chuẩn nghèo đa chiều và các nguyên nhân gây rủi ro tín dụng, công trình đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật tín chấp trong thực tiễn.