Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Bước đầu tìm hiểu tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Đăk Lăk" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Thu Trang, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đàm Nguyễn Thủy Dương, tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành vào tháng 5 năm 2004).
Bối cảnh nghiên cứu của đề tài gắn liền với một thời kỳ biến động quan trọng về cả phương diện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tổ chức lãnh thổ của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và vùng Tây Nguyên nói chung vào đầu những năm 2000:
- Về kinh tế - xã hội: Đắk Lắk là địa bàn giàu tiềm năng bậc nhất Tây Nguyên về tài nguyên đất đỏ bazan và tài nguyên rừng, hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày quy mô lớn (đặc biệt là cà phê, cao su). Tuy nhiên, giai đoạn 2000–2003 chứng kiến cuộc khủng hoảng sụt giảm giá cà phê nghiêm trọng trên thị trường thế giới cùng với thiên tai, hạn hán kéo dài, gây tổn thất lớn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.
- Về an ninh chính trị: Vị trí địa lý Đắk Lắk có vai trò chiến lược ở vùng biên giới tiếp giáp Campuchia, từng chịu tác động từ âm mưu kích động của tổ chức FULRO lưu vong nhằm lập ra cái gọi là "Nhà nước Đề-Ga độc lập", gây mất ổn định an ninh trật tự và đe dọa khối đại đoàn kết dân tộc.
- Về địa giới hành chính: Khóa luận được triển khai ngay sau sự kiện bước ngoặt khi Quốc hội khóa XI ban hành Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 về việc chia tách tỉnh Đắk Lắk cũ thành hai đơn vị hành chính mới là tỉnh Đắk Lắk (mới) và tỉnh Đắk Nông (chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004).
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm rõ tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế của tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 1995–2003, từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển kinh tế địa phương đến năm 2010.
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thu thập số liệu về tình hình phát triển kinh tế của Đắk Lắk; tìm hiểu tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Xác định cơ sở khoa học của việc đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển kinh tế của tỉnh.
- Tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế của tỉnh Đắk Lắk.
- Đánh giá tổng quát và đưa ra giải pháp cụ thể cho định hướng phát triển kinh tế tỉnh Đắk Lắk đến năm 2010.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội và hiện trạng phát triển kinh tế theo ngành và lãnh thổ của tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích giai đoạn 1995–2003 và đề xuất định hướng phát triển đến năm 2010.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi không gian lãnh thổ tỉnh Đắk Lắk cũ (trước thời điểm chia tách địa giới hành chính ngày 01/01/2004) với diện tích tự nhiên 19.800 km².
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ địa lý kinh tế, vận dụng hệ thống các khái niệm lý luận, quan điểm khoa học và phương pháp nghiên cứu địa lý chuyên ngành.
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm then chốt làm cơ sở đánh giá:
- Tiềm năng: Khái niệm theo Từ điển tiếng Việt và quan niệm kinh tế học về tổng thể tiềm lực tự nhiên (vốn tự nhiên/tài nguyên thiên nhiên) và tiềm lực nhân tạo (vốn con người, vốn đầu tư khoa học - kỹ thuật).
- Thực trạng: Sự phản ánh chân thực tình hình cụ thể của nền kinh tế - xã hội địa phương.
- Tăng trưởng kinh tế và Phát triển kinh tế: Phân biệt tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu; các thước đo quy mô (GDP, GNP, GDP bình quân đầu người) và chỉ tiêu chất lượng (cơ cấu ngành, chỉ số phát triển con người - HDI, mức độ giảm nghèo).
- Hiệu quả kinh tế: Hệ thống các chỉ tiêu định lượng gồm hiệu quả sản xuất (kết quả sản xuất / chi phí sản xuất), hiệu quả vốn đầu tư (sản phẩm / vốn đầu tư), hiệu quả kinh tế - xã hội (kết quả sản xuất xã hội / chi phí lao động xã hội) và năng suất lao động (kết quả lao động / hao phí lao động sống).
- Hệ thống nhân tố ảnh hưởng: Phân chia thành nhóm nhân tố tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản) và nhóm nhân tố kinh tế - xã hội (dân số, nguồn lao động, lịch sử khai thác lãnh thổ, cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước).
Quan điểm nghiên cứu địa lý
Khóa luận quán triệt 5 quan điểm nghiên cứu cơ bản của địa lý học hiện đại:
- Quan điểm hệ thống lãnh thổ: Xem xét kinh tế Đắk Lắk như một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế Tây Nguyên và cả nước, đồng thời bản thân kinh tế tỉnh là một hệ thống gồm nhiều ngành có mối quan hệ tương hỗ.
- Quan điểm tổng hợp: Tổng hợp, xử lý thông tin liên ngành từ nhiều nguồn tư liệu để rút ra các đặc trưng không gian bản chất.
- Quan điểm lịch sử: Xem xét quá trình phát triển trong tiến trình thời gian nhằm nhận thức nguồn gốc phát sinh và dự báo xu thế tương lai.
- Quan điểm môi trường sinh thái: Phân tích mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên (đất, rừng, nước) với sự suy thoái môi trường và cân bằng sinh thái.
- Quan điểm phát sinh: Đánh giá sự hình thành và biến động của các tiềm năng qua từng thời kỳ khai thác lãnh thổ.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu địa lý kinh tế:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập và xử lý văn bản, nghị quyết, báo cáo kinh tế của các cấp chính quyền.
- Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh nhằm đối chiếu và kiểm chứng số liệu thống kê.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Trực quan hóa số liệu thống kê về biến động dân số, cơ cấu kinh tế và hiện trạng phân bố.
- Phương pháp dự báo: Phân tích xu hướng phát triển ngành để xây dựng định hướng đến năm 2010.
- Phương pháp thăm dò ý kiến: Tham vấn các nhà quản lý địa phương, chuyên gia và người dân.
- Phương pháp toán học và kinh tế học bổ trợ.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong văn bản gồm: Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2003, số liệu của Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, các báo cáo kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk, tài liệu từ Viện Chiến lược phát triển và Viện Kinh tế, cùng các văn kiện, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ (Nghị quyết 22/2003/QH11, Quyết định 168/2001/QĐ-TTg, các chương trình 132, 134, 154).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
Chương 1 thiết lập khung lý luận cho đề tài và khái quát bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn đầu những năm 2000.
- Tác giả phân tích bản chất của các tiêu chí kinh tế vĩ mô: GNP phản ánh góc độ sở hữu, GDP phản ánh góc độ lãnh thổ; cơ cấu ngành kinh tế 3 khu vực; chỉ số HDI phản ánh toàn diện sức sản xuất và chất lượng sống.
- Khái quát kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000–2002: Nền kinh tế đối mặt với thiên tai gay gắt (hạn hán ở Tây Nguyên, bão lũ miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, cháy rừng U Minh Hạ, U Minh Thượng, vụ cháy Trung tâm Thương mại Quốc tế Sài Gòn) và thị trường thế giới suy giảm. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp toàn quốc năm 2002 vẫn đạt 270.000 tỷ đồng (tăng 14,4% so với năm 2001); giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5%, sản lượng lương thực bình quân đạt 450 kg/người (tăng 17 kg); tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 268.000 tỷ đồng (tăng 12,7%). Đây là nền tảng để đối chiếu với sự phát triển của kinh tế tỉnh Đắk Lắk.
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Đắk Lắk
Chương 2 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, gồm 3 mảng chính: khái quát địa bàn, phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng phát triển.
1. Khái quát lịch sử hình thành địa bàn
Đắk Lắk trải qua nhiều biến động địa giới: thời nhà Nguyễn thuộc "Hoàng triều cương thổ"; thực dân Pháp chiếm Buôn Đôn năm 1898 và chính thức thành lập tỉnh Đắk Lắk ngày 22/11/1904. Sau năm 1975, tỉnh được hợp nhất và điều chỉnh địa giới. Đến ngày 26/11/2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH11 chia tách tỉnh Đắk Lắk cũ thành tỉnh Đắk Lắk mới và tỉnh Đắk Nông.
2. Tiềm năng phát triển kinh tế
- Vị trí địa lý: Tọa độ 11°45' – 13°45'B, 107°12' – 108°Đ; tiếp giáp Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Phước, Phú Yên, Khánh Hòa và có 240 km đường biên giới giáp Campuchia. Mạng lưới giao thông đối ngoại gồm các trục Quốc lộ 14, 26, 27, 28 và Cảng hàng không Buôn Ma Thuột.
- Địa hình và khí hậu: Diện tích tự nhiên 19.800 km² (sau chia tách còn 13.062 km²). Địa hình phân hóa thành 3 dạng: vùng núi cao chiếm 35% diện tích (đỉnh Chư Yang Sin cao 2.405 m, Chư H'mê 3.051 m); vùng cao nguyên bằng phẳng lượn sóng chiếm 53,5% (độ cao trung bình 450 m); vùng trũng thấp chiếm 11,5%. Khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình 24°C, lượng mưa 1.700–2.000 mm/năm (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 70% lượng mưa; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau gây thiếu nước gay gắt).
- Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt phân bố ở 3 hệ thống sông chính: sông Srêpôk (lưu vực 11.721 km²), sông Ba (lưu vực 11.410 km²), sông Đồng Nai, cùng hàng trăm hồ chứa và 833 con suối dài trên 10 km. Tổng lượng dòng chảy trên địa bàn khoảng 17,5 tỷ m³/năm. Trữ lượng nước ngầm tĩnh ước đạt 1.209.109 m³/ngày. Tiềm năng thủy điện đạt công suất lớn (nhà máy thủy điện Dray H'Linh công suất 12.000 KW).
- Tài nguyên đất: Toàn tỉnh có 19.800 km² chia làm 9 nhóm với 24 loại đất. Trong đó, nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất với 763.458 ha (39,01%); nhóm đất đỏ bazan đứng thứ hai với 704.494 ha (36,02% diện tích tỉnh và chiếm 55,6% tổng diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên). Đất đỏ có 75% diện tích dốc dưới 15° và 82,4% có tầng dày trên 120 cm, độ xốp 62–65%, là điều kiện lý tưởng cho cây công nghiệp dài ngày. Quỹ đất nông nghiệp đã sử dụng năm 2003 là 556.263 ha (cây hàng năm 219.288 ha, cây lâu năm 340.679 ha). Tuy nhiên, toàn tỉnh có gần 0,5 triệu ha đất trống đồi trọc bị thoái hóa (riêng đất bazan bị thoái hóa 71,7%).
- Tài nguyên sinh vật và rừng: Diện tích rừng đạt 1,2 triệu ha (độ che phủ 60%), trữ lượng trên 1.000 triệu m³ gỗ và hơn 700 triệu cây tre nứa; rừng gỗ lá rộng chiếm 837.000 ha. Động vật có 93 loài thú, 197 loài chim (32 loài ghi trong Sách Đỏ thế giới). Có các khu bảo tồn trọng yếu: Vườn quốc gia Yok Đôn, Chư Yang Sin, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô. Chất lượng rừng suy giảm: rừng giàu giảm còn 115.000 ha, rừng nghèo và cây bụi gia tăng.
- Tài nguyên khoáng sản: Quặng bôxít có trữ lượng tự nhiên 5,4 tỷ tấn (hàm lượng Al₂O₃ đạt 35–40%, tập trung ở Đắk Nông); sét cao lanh 60 triệu tấn; sét gạch ngói trên 50 triệu tấn; mỏ than nâu lộ thiên ở Krông Pắc, Krông Ana; vàng ở Ea Kar; chì ở Ea H'leo; nước khoáng Đắk Mil (trữ lượng khai thác 800 m³/ngày).
- Dân cư và nguồn nhân lực: Dân số tăng nhanh từ 343.777 người (1975) lên 957.456 người (1989), 1.093.995 người (1995) và đạt trên 2 triệu người vào cuối năm 2003 (đô thị chiếm 22,11%, nông thôn chiếm 77,89%; mật độ trung bình 103 người/km², riêng Buôn Ma Thuột đạt 960 người/km²). Tỷ lệ tăng tự nhiên giảm xuống 2,1% (2002), nhưng gia tăng cơ giới còn cao (2,8% năm 2002). Tỉnh có 44 dân tộc anh em (Kinh chiếm 70,65%, Ê Đê 13,69%, Nùng 3,9%, M'Nông 3,51%, Tày, Thái...).
- Lao động: Năm 2002 có 1,15 triệu lao động, mỗi năm tăng thêm khoảng 33.000 người. Về chất lượng, 86,3% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật; trình độ chuyên nghiệp đạt 9,8%, cao đẳng - đại học và sau đại học chỉ chiếm 3,6%. Năm 2002 có khoảng 20.000 người chưa có việc làm (chiếm 4,3% dân số toàn tỉnh).
- Hạ tầng: 19/19 huyện, thành phố có điện lưới quốc gia (187/207 xã, phường); hệ thống bưu điện phủ 100% xã/phường với gần 100.000 thuê bao cố định và hơn 10.000 thuê bao di động.
3. Thực trạng phát triển kinh tế
Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao qua các giai đoạn nhưng đang đối mặt với sự chuyển dịch cơ cấu chậm chạp:
| Chỉ tiêu kinh tế |
Giai đoạn 1991–1995 |
Giai đoạn 1996–2000 |
Năm 2001 |
Năm 2002 |
Năm 2003 |
| Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân |
9,65%/năm |
10,50%/năm |
5,96% |
6,28% |
7,26% |
| Tăng trưởng Nông - Lâm nghiệp |
9,10%/năm |
15,20%/năm |
- |
- |
- |
| Tăng trưởng Công nghiệp - Xây dựng |
8,85%/năm |
15,40%/năm |
4,50% |
17,30% |
22,00% |
| Tăng trưởng Dịch vụ |
12,25%/năm |
15,00%/năm |
- |
- |
- |
| GDP bình quân đầu người |
218 USD (1991) → 258 USD (1995) |
285,5 USD (1996) → 276 USD (2000) |
293 USD |
300 USD |
- |
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 1996–2003:
- Nông - lâm - ngư nghiệp: Chiếm tỷ trọng áp đảo, giảm nhẹ từ 78,27% (năm 1996) xuống 76,28% (năm 2003).
- Công nghiệp - xây dựng: Tăng từ 7,35% (năm 1996) lên 8,43% (năm 2003).
- Dịch vụ: Chiếm 19,39% (năm 1996) và biến động ở mức 15,29% (năm 2003).
Tình hình phát triển các ngành trọng điểm đến năm 2003:
- Nông nghiệp: Diện tích cao su đạt 28.900 ha (mủ khô 16.500 tấn, vượt 22% kế hoạch). Diện tích sắn tăng 7.900 ha với sản lượng 134.000 tấn. Ngành cà phê chịu tổn thất lớn, diện tích giảm 1.500 ha xuống còn 235.000 ha, sản lượng giảm khoảng 400.000 tấn trong niên vụ 2001–2002. Ngành nuôi ong lấy mật phát triển mạnh với sản lượng vượt 4.000 tấn mật ong xuất khẩu. Thiên tai năm 2003 gây hạn hán và ngập úng trên 107.000 ha cây trồng, thiệt hại ước tính hơn 750 tỷ đồng.
- Công nghiệp: Giá trị sản xuất năm 2003 đạt 926 tỷ đồng (đạt 106,4% kế hoạch). Đưa vào vận hành 4 nhà máy mới: 1 nhà máy tinh bột sắn, 2 nhà máy chế biến thức ăn gia súc và 1 nhà máy cán bông.
- Thương mại, du lịch, tài chính: Doanh thu thương mại năm 2003 đạt 1.278 tỷ đồng; tổng mức bán lẻ đạt 3.800 tỷ đồng; doanh thu du lịch tăng 11%, lượng khách tăng 8,5%; tổng thu ngân sách đạt 426,6 tỷ đồng. Huy động vốn ngân hàng đạt 5.980 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt 5.510 tỷ đồng (Ngân hàng người nghèo giải quyết cho 46.000 hộ vay 100 tỷ đồng, trong đó 17.500 hộ đồng bào dân tộc thiểu số vay 31 tỷ đồng). Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu giảm sút, năm 2002 chỉ đạt 180 triệu USD do tác động của giá cà phê thế giới.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế tỉnh Đăk Lăk đến năm 2010
Chương 3 xây dựng các mục tiêu và hệ thống giải pháp tổ chức lãnh thổ kinh tế:
- Mục tiêu phát triển đến 2010: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 8%/năm; trong đó nông - lâm nghiệp tăng 8,0%, dịch vụ tăng 12%, công nghiệp phấn đấu bứt phá ở mức 20–32%/năm để nâng cao tỷ trọng; giải quyết việc làm mới cho khoảng 100.000 lao động.
- Các nhóm giải pháp chủ yếu:
- Giải pháp công nghệ: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, ưu tiên hàng đầu cho công nghệ chế biến ướt cà phê tươi, chế biến sâu khoáng sản và nông sản xuất khẩu.
- Giải pháp nguồn nhân lực: Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số; phấn đấu đến 2010 tất cả trường phổ thông đủ điều kiện dạy cả ngày; áp dụng chính sách ưu đãi thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật về công tác tại địa bàn khó khăn.
- Huy động vốn và thu hút đầu tư: Áp dụng linh hoạt các hình thức BOT, BT trong xây dựng giao thông nông thôn và kiên cố hóa kênh mương; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào công nghiệp chế biến, khai thác bôxít, thủy điện và du lịch sinh thái.
- Cơ chế chính sách và tổ chức sản xuất: Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hoàn thành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; sắp xếp lại các lâm trường quốc doanh (chuyển một phần thành ban quản lý rừng phòng hộ, giao khoán đất lâm nghiệp cho nhân dân); thực hiện nghiêm túc Quyết định 168/2001/QĐ-TTg và các chương trình 132, 154 nhằm cấp đất sản xuất, ổn định định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với dữ kiện thực chứng:
- Khái quát toàn diện hệ thống số liệu tự nhiên của địa bàn Đắk Lắk trước chia tách: diện tích 19.800 km², trữ lượng 5,4 tỷ tấn quặng bôxít, 704.494 ha đất đỏ bazan (chiếm 55,6% toàn vùng Tây Nguyên), 1,2 triệu ha rừng với hơn 1.000 triệu m³ gỗ.
- Làm rõ tính chu kỳ và các điểm nghẽn của kinh tế Đắk Lắk giai đoạn 1991–2003: GDP duy trì tốc độ cao (9,65% thời kỳ 1991–1995; 10,5% thời kỳ 1996–2000; 7,26% năm 2003), nhưng nền kinh tế bộc lộ tính tổn thương cao do cơ cấu nông nghiệp chiếm tới 76,28% và phụ thuộc quá lớn vào cây cà phê (sản lượng cà phê sụt giảm 400.000 tấn kéo kim ngạch xuất khẩu năm 2002 xuống còn 180 triệu USD).
- Nhận diện các vấn đề xã hội: lực lượng lao động tăng nhanh (1,15 triệu người năm 2002) nhưng có tới 86,3% chưa qua đào tạo nghề, tỷ lệ gia tăng dân số cơ giới cao (2,8% năm 2002) tạo áp lực lớn lên tài nguyên đất đai và việc làm.
- Đóng góp khoa học của đề tài: Là công trình nghiên cứu tổng hợp địa lý kinh tế được hoàn thành đúng thời điểm diễn ra bước ngoặt lịch sử chia tách tỉnh Đắk Lắk (tháng 5/2004). Đề tài đóng góp một bức tranh tổng thể, hệ thống hóa toàn bộ tư liệu hiện trạng kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk cũ (gồm cả Đắk Lắk và Đắk Nông hiện nay), làm cơ sở dữ liệu nền cho việc theo dõi, so sánh và hoạch định chính sách phát triển lãnh thổ trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Do hoàn thành vào tháng 5 năm 2004, ngay sau thời điểm chia tách địa giới hành chính theo Nghị quyết 22/2003/QH11 (01/01/2004), nguồn số liệu thống kê phân tích trong khóa luận chủ yếu phản ánh hiện trạng của tỉnh Đắk Lắk cũ; chưa có đủ chuỗi số liệu thống kê độc lập để phân tích sâu thực trạng phát triển riêng biệt của tỉnh Đắk Lắk mới và tỉnh Đắk Nông. Bên cạnh đó, các số liệu điều tra thực địa tại các buôn làng vùng sâu, vùng xa còn hạn chế do điều kiện thời gian và phương tiện của sinh viên.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu so sánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tổ chức không gian lãnh thổ giữa hai tỉnh Đắk Lắk (mới) và Đắk Nông sau khi phân tách đơn vị hành chính.
- Đánh giá chu kỳ phục hồi của ngành sản xuất cà phê Đắk Lắk sau cuộc khủng hoảng giá giai đoạn 2001–2003 và tác động của các chính sách giao đất, giao rừng theo các chương trình 132, 134 của Chính phủ đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực trong đào tạo và nghiên cứu:
- Đối với sinh viên và giảng viên ngành Địa lý, Sư phạm Địa lý: Công trình là tài liệu mẫu mực về cấu trúc và phương pháp luận thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Địa lý kinh tế - xã hội; cung cấp nguồn tư liệu phong phú để biên soạn nội dung phần "Địa lý địa phương tỉnh Đắk Lắk" trong chương trình Địa lý trung học phổ thông.
- Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Tây Nguyên: Khóa luận lưu giữ hệ thống số liệu thống kê chi tiết về cơ cấu kinh tế, hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên khoáng sản, dân số 44 dân tộc của toàn bộ địa bàn Đắk Lắk nguyên bản trước mốc chia tách năm 2004.
Câu hỏi thường gặp
1. Phạm vi không gian nghiên cứu của khóa luận được xác định như thế nào trong bối cảnh thay đổi địa giới hành chính?
Khóa luận tập trung nghiên cứu trên phạm vi không gian tỉnh Đắk Lắk cũ (trước ngày 01/01/2004) với diện tích 19.800 km², bao gồm cả địa bàn tỉnh Đắk Lắk mới (13.062 km²) và tỉnh Đắk Nông hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết số 22/2003/QH11 của Quốc hội.
2. Tài nguyên đất đỏ bazan của Đắk Lắk được tác giả ghi nhận qua những số liệu cụ thể nào?
Đất đỏ bazan của tỉnh có diện tích 704.494 ha, chiếm 36,02% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và chiếm tới 55,6% tổng diện tích đất đỏ bazan toàn vùng Tây Nguyên. Trong đó, 75% diện tích có độ dốc dưới 15° và 82,4% có tầng dày trên 120 cm, độ xốp bình quân 62–65%.
3. Khủng hoảng ngành cà phê giai đoạn 2001–2003 đã tác động đến kinh tế Đắk Lắk ra sao?
Ngành cà phê bị giảm 1.500 ha diện tích (còn 235.000 ha) và sản lượng sụt giảm khoảng 400.000 tấn trong niên vụ 2001–2002; kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh năm 2002 giảm xuống chỉ còn khoảng 180 triệu USD (đạt 81,8% kế hoạch), gây ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập dân cư và ngân sách.
4. Thực trạng chất lượng nguồn lao động của tỉnh Đắk Lắk được văn bản nêu ra như thế nào?
Tính đến năm 2002, nguồn lao động toàn tỉnh đạt 1,15 triệu người nhưng có tới 86,3% lao động không có chuyên môn kỹ thuật; lao động có trình độ chuyên nghiệp chiếm 9,8%, trong khi tỷ lệ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học chỉ đạt 3,6%.
5. Những chỉ tiêu hạ tầng năng lượng và viễn thông chủ yếu của Đắk Lắk đạt được tính đến năm 2003 là gì?
Đến năm 2003, 19/19 huyện và thành phố có điện lưới quốc gia (187/207 xã, phường sử dụng điện lưới); mạng lưới điện thoại phủ tới 100% số xã, phường với gần 100.000 thuê bao cố định và hơn 10.000 thuê bao di động.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu địa lý kinh tế được thực hiện công phu, hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 1995–2003. Bản khóa luận đã phản ánh trung thực bức tranh kinh tế của địa phương trong giai đoạn biến động mạnh về thị trường nông sản và an ninh chính trị, đồng thời ghi nhận mốc chuyển giao lịch sử khi tỉnh chia tách địa giới hành chính vào năm 2004. Với hệ thống số liệu thực chứng chi tiết và các đề xuất giải pháp có cơ sở khoa học, tài liệu mang giá trị học thuật và tư liệu cao đối với nghiên cứu địa lý địa phương và kinh tế vùng Tây Nguyên.