Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong bối cảnh ngành nông nghiệp huyện Tánh Linh (tỉnh Bình Thuận) có những bước chuyển biến quan trọng. Từ một huyện miền núi gặp nhiều khó khăn về kinh tế, Tánh Linh đã từng bước thực hiện công nghiệp hóa kinh tế nông thôn, phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, quy hoạch vùng chuyên canh tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cải thiện hệ thống thủy lợi, tiêu biểu là đập dâng Tà Pao. Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng giai đoạn này cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập: diện tích rừng tự nhiên sụt giảm nghiêm trọng do áp lực phá rừng lấy đất trồng cây công nghiệp và hoa màu; đời sống kinh tế của nông dân tuy được nâng cao nhưng việc thiếu định hướng lối sống lành mạnh đã dẫn đến sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trên địa bàn. Trước thực tế đó, tác giả thực hiện khóa luận nhằm đánh giá thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tác động của quá trình này tới đời sống người dân, từ đó đề xuất định hướng phát triển bền vững.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện Tánh Linh trong giai đoạn 1999 - 2009, làm rõ hiệu quả kinh tế và những tác động cụ thể đến đời sống dân cư địa phương. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
- Thu thập và xử lý các số liệu, tài liệu, thông tin liên quan tới quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa phương.
- Làm rõ nguyên nhân chuyển đổi, phân tích những thuận lợi và khó khăn trong tiến trình thực hiện của huyện.
- Đánh giá sự biến chuyển trong đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân trước và sau khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
- Đề xuất các giải pháp trong quy hoạch và chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện đến năm 2020.
- Kiến nghị các biện pháp hướng người dân tới lối sống lành mạnh, ổn định trật tự xã hội nông thôn.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và sự thay đổi đời sống nhân dân. Phạm vi không gian giới hạn tại địa bàn huyện Tánh Linh (tỉnh Bình Thuận), trong đó đi sâu khảo sát các xã có chuyển biến cây trồng mạnh mẽ nhất. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào 10 năm (1999 - 2009) – thời điểm cây cao su và cây công nghiệp dài ngày bắt đầu phát triển mạnh – đồng thời xây dựng định hướng phát triển đến năm 2020.
Về lịch sử nghiên cứu, sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu gắn với ba chương trình kinh tế trọng điểm. Nhiều công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đã được thực hiện tại Khoa Địa lý - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh như đề tài của Nguyễn Đình Thắm về tỉnh Bình Phước, Phan Thị Xuân Hằng về tỉnh Ninh Thuận (1995 - 2005), Châu Ngọc Hà về vùng ngoại thành TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, việc đánh giá độc lập và toàn diện về tác động của chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới đời sống nông dân tại huyện miền núi Tánh Linh giai đoạn 1999 - 2009 là công trình đầu tiên được tác giả thực hiện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về khung lý thuyết, khóa luận hệ thống hóa các khái niệm nền tảng của khoa học địa lý kinh tế:
- Cơ cấu và cơ cấu kinh tế (CCKT): Xác định cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế trong từng giai đoạn phát triển, mang tính chất là một hệ thống động. Nghiên cứu tập trung vào 3 phân hệ chính: cơ cấu ngành (Khu vực I: nông - lâm - ngư nghiệp; Khu vực II: công nghiệp - xây dựng; Khu vực III: dịch vụ), cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Bản chất là việc thay đổi tỷ lệ cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa các loại cây trồng và vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái và xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giảm tỷ trọng lương thực và tăng tỷ trọng cây công nghiệp, thủy sản.
- Chất lượng cuộc sống: Tiếp cận theo khung Chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development Index) của Liên Hợp Quốc gồm 3 trụ cột (tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn, thu nhập bình quân đầu người GDP/người theo PPP). Vận dụng vào quy mô địa phương, tác giả tập trung đánh giá 4 khía cạnh: đời sống kinh tế, văn hóa - tinh thần, y tế và chất lượng môi trường sống.
Về phương pháp luận, tác giả vận dụng các quan điểm cốt lõi của chủ nghĩa duy vật biện chứng và triết học Mác - Lênin: quan điểm hệ thống (xem Tánh Linh là một bộ phận của hệ thống kinh tế tỉnh Bình Thuận), quan điểm tổng hợp lãnh thổ (phân tích mối quan hệ giữa tự nhiên và sản xuất), quan điểm lãnh thổ (phân hóa không gian địa lý) và quan điểm lịch sử viễn cảnh (gắn quá khứ, hiện tại với dự báo tương lai).
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh tài liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý.
- Phương pháp toán học dự báo: tính toán tỷ trọng cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, ước tính mức sống và dự báo xu hướng.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: trực quan hóa số liệu phân bố không gian và động thái phát triển.
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng phiếu khảo sát thực tế để thu thập dữ liệu về mức sống hộ gia đình trước và sau chuyển dịch.
Nguồn dữ liệu của khóa luận được trích xuất từ Niên giám thống kê huyện Tánh Linh, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tánh Linh khóa IV và V, số liệu từ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trạm Khuyến nông huyện Tánh Linh và Tổng cục Thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lí luận
Nội dung chương tập trung làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về cấu trúc kinh tế và các quy luật chuyển dịch. Cơ cấu kinh tế được định nghĩa là hệ thống phức hợp đa tầng (ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế), luôn vận động theo sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong đó, cơ cấu ngành giữ vai trò nòng cốt với ba khu vực kinh tế lớn; cơ cấu lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động theo không gian địa lý nhằm khai thác lợi thế so sánh; cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh quan hệ sở hữu.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp được tác giả phân tích như một tất yếu khách quan trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn: tỷ trọng giá trị nông nghiệp giảm dần trong cơ cấu GDP chung nhưng chất lượng, giá trị tuyệt đối và tính chất hàng hóa phải gia tăng. Trong nội bộ nông nghiệp, xu thế vận động là dịch chuyển từ độc canh cây lương thực sang phát triển đa dạng cây công nghiệp, thực phẩm và chăn nuôi. Khóa luận cũng dẫn chứng số liệu chỉ số HDI của Việt Nam năm 2003 xếp hạng 108/177 quốc gia để làm cơ sở đánh giá chất lượng cuộc sống của cộng đồng nông dân địa phương.
Chương II: Tác động của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới đời sống nhân dân huyện Tánh Linh
Chương II là phần trọng tâm của khóa luận, gồm 4 nhóm nội dung chính:
1. Khái quát địa bàn và các nhân tố ảnh hưởng:
Huyện Tánh Linh nằm ở phía Tây Nam tỉnh Bình Thuận (tách ra từ huyện Đức Linh năm 1983), tọa độ địa lý 10°50'24'' đến 11°20'56'' vĩ độ Bắc và 107°30'50'' đến 107°30'24'' kinh độ Đông. Địa giới tiếp giáp huyện Hàm Tân, huyện Đức Linh và tỉnh Lâm Đồng.
- Điều kiện tự nhiên: Khí hậu mang tính chuyển tiếp giữa Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng Nam Bộ, chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11) có lượng mưa phân hóa: các xã phía Tây và Nam (Suối Kiết, Gia Huynh) có lượng mưa thấp; các xã phía Bắc và Đông có lượng mưa trung bình năm đạt 2.185 mm, cao điểm tập trung vào tháng 7, 8, 9 gây lũ quét và sạt lở. Mùa khô (tháng 12 đến tháng 4 năm sau) thiếu nước gay gắt. Nhiệt độ trung bình năm 22 - 26°C. Về địa hình, huyện có 4 dạng: vùng núi cao phía Bắc (núi Bnom-pang-hya cao 1.478 m, núi Ông 1.302 m); vùng núi thấp phía Nam (núi Dangdao cao 851 m, Dangdui trên 706 m, Catong 452 m); đồi lượn sóng (độ cao 20 - 150 m) và vùng đồng bằng bậc thềm sông La Ngà cùng các vùng trũng hồ Biển Lạc.
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên là 117.422 ha, gồm 7 nhóm đất chính: đất đỏ (chiếm 53,31% diện tích tự nhiên với 62.596,06 ha), đất xám (17,9% với 21.019,34 ha), đất phù sa (8,26% với 9.700 ha), đất đen (7,9% với 9.282,13 ha), đất Gley (6,24% với 7.324,78 ha), đất vàng đỏ trên núi (4,1%) và đất xói mòn trơ sỏi đá (1,83%). Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 92,65% (108.798 ha).
- Tài nguyên nước và rừng: Sông La Ngà là trục thủy văn chính, chảy qua huyện khoảng 50 km với diện tích lưu vực 417,4 km², mực nước trung bình 11,699 - 12,163 mm. Diện tích rừng năm 2009 đạt 64.894,7 ha (chiếm 55,27% diện tích tự nhiên), gồm thảm thực vật rừng tự nhiên (63.000 ha) và rừng trồng (hơn 1.800 ha). Khoáng sản có mỏ nước khoáng Đức Bình (lưu lượng 0,36 l/s), mỏ sét gạch ngói Gia An và cát xây dựng sông La Ngà.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số năm 2009 là 101.000 người, mật độ trung bình 87 người/km² (tập trung cao tại thị trấn Lạc Tánh 415 người/km², thấp nhất tại La Ngâu, Suối Kiết từ 22 - 36 người/km²). Địa bàn có 15 dân tộc anh em sinh sống, người Kinh chiếm trên 90%. Nguồn lao động trong độ tuổi đạt 48.000 người, trong đó lao động nông - lâm - thủy sản chiếm áp đảo với 80,12% (38.500 người). Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,79% giai đoạn 2001 - 2005 và đạt 12,9% năm 2009. GDP bình quân đầu người tăng từ 240 USD (năm 2000) lên 385 USD (năm 2005) và đạt 628 USD (năm 2009).
2. Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp:
- Giao thông: Triển khai dự án nâng cấp Quốc lộ 55 (đoạn km96+300 - km205+140 với tổng mức đầu tư 931,255 tỷ đồng) và dự án nâng cấp đường ĐT.766 (tổng vốn 981,051 tỷ đồng); đầu tư 120,178 tỷ đồng cho các tuyến giao thông nội đồng kết hợp kênh mương theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm".
- Thủy lợi: Vận hành 9 trạm bơm lớn (Gia An, Đức Phú, Lạc Tánh, Đức Bình, Đồng Kho, Huy Khiêm, Bắc Ruộng, Tà Pao, La Ngâu); khởi công đại công trình thủy lợi Tà Pao bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ trên 2.000 tỷ đồng, thiết kế tưới tự chảy cho 20.340 ha đất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt cho 150.000 dân hai huyện Tánh Linh, Đức Linh. Diện tích tưới toàn huyện tăng từ 952 ha (năm 2003) lên hơn 10.000 ha (năm 2009).
- Cơ giới hóa: Gần 100% diện tích làm đất được cơ giới hóa; nông dân 7 xã Bắc sông vay vốn theo Quyết định 497/QĐ-TTg trang bị khoảng 41 máy gặt đập liên hợp (giá trị 200 triệu đồng/máy).
3. Quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng:
Năm 2009, ngành trồng trọt chiếm 73,16% giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện. Tác giả chỉ ra các chuyển dịch cụ thể:
- Diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng mạnh nhất, gấp 2,8 lần trong giai đoạn 1999 - 2009 (tập trung vào cao su, điều, hồ tiêu). Cây ăn quả tăng 1,2 lần; cây lương thực tăng 1,16 lần; riêng cây công nghiệp ngắn ngày giảm.
- Cây lương thực: Sản lượng lương thực năm 1999 đạt 49.300 tấn, đến năm 2005 đạt 119.483 tấn (gấp 2,4 lần) và năm 2009 đạt 145.259 tấn (gấp gần 3 lần năm 1999).
- Cây lúa: Năng suất lúa bình quân toàn huyện tăng từ 27,6 tạ/ha (năm 1999) lên 50,9 tạ/ha (năm 2009). Một số xã đạt năng suất vượt trội: Gia An (56,67 tạ/ha), Lạc Tánh (53,09 tạ/ha), Bắc Ruộng và Đồng Kho (50,64 tạ/ha). Huyện chủ động điều chỉnh lịch gieo cấy 3 vụ (Đông Xuân, Hè Thu, Mùa); chuyển đổi 670 ha sản xuất 3 vụ bấp bênh sang 2 vụ ăn chắc trong năm 2009 nhằm giảm nhẹ thiệt hại bão lũ.
4. Tác động tới đời sống nhân dân:
Quá trình chuyển đổi mang lại những thay đổi lớn về kinh tế: thu nhập tăng, nhà ở được kiên cố hóa, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt. Việc tiếp cận dịch vụ y tế và điều kiện học tập của trẻ em được nâng lên. Tuy nhiên, mặt trái xuất hiện là diện tích rừng bị xâm lấn nghiêm trọng; lối sống tiêu dùng thay đổi nhanh khi có nguồn thu nhập đột biến từ cây công nghiệp nhưng thiếu định hướng lành mạnh, dẫn đến gia tăng tệ nạn cờ bạc, rượu chè, gây bất ổn an ninh trật tự nông thôn.
Chương III: Định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng đến năm 2020
Dựa trên các chủ trương của Đảng, Nhà nước và nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, chương III xác định phương hướng phát triển:
- Mục tiêu tổng quát là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, khai thác triệt để năng lực tưới tiêu của công trình thủy lợi Tà Pao sau khi hoàn thành.
- Quy hoạch không gian: Phát triển vùng thâm canh lúa chất lượng cao tại các xã ven sông La Ngà (Gia An, Bắc Ruộng, Huy Khiêm); quy hoạch và mở rộng diện tích cao su, điều, hồ tiêu tại các vùng gò đồi, đất đỏ bazan và đất đen thuộc các xã phía Nam và phía Tây, gắn sản xuất với công nghiệp sơ chế mủ cao su và chế biến hạt điều.
- Nhóm giải pháp: Tiếp tục đầu tư mạng lưới kênh mương cấp 2, cấp 3 kết nối hệ thống Tà Pao; củng cố mạng lưới khuyến nông cơ sở (khắc phục tình trạng toàn huyện chỉ có 10 cán bộ trạm khuyến nông và trạm bảo vệ thực vật); tăng cường các chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ giống, phân bón và chuyển giao kỹ thuật thâm canh; đồng thời triển khai các chương trình xây dựng nếp sống văn hóa nông thôn mới.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh kinh tế - nông nghiệp huyện Tánh Linh qua hệ thống chỉ tiêu cụ thể:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Năm 1999 |
Năm 2005 |
Năm 2009 |
| Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (%) |
57,0 |
51,0 |
40,1 |
| Tỷ trọng công nghiệp - TTCN trong GDP (%) |
10,79 |
- |
32,7 |
| GDP bình quân đầu người (USD) |
218 (năm 2000: 240) |
385 |
628 |
| Tổng sản lượng lương thực (tấn) |
49.300 |
119.483 |
145.259 |
| Năng suất lúa bình quân (tạ/ha) |
27,6 |
- |
50,9 |
| Diện tích tưới thủy lợi toàn huyện (ha) |
- |
952 (năm 2003) |
> 10.000 |
| Sản lượng đánh bắt thủy sản (tấn) |
- |
150 |
250 |
Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp đồng bộ:
- Quy hoạch vùng chuyên canh lúa chất lượng cao kết hợp đập dâng Tà Pao và linh hoạt chuyển đổi vụ hè thu tại các vùng trũng thấp nhằm tránh lũ.
- Kiểm soát chặt chẽ việc mở rộng diện tích cao su, nghiêm cấm việc phá rừng tự nhiên và rừng phòng hộ đầu nguồn để lập vườn cây.
- Tăng cường cán bộ kỹ thuật nông nghiệp cho các xã vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (như La Ngâu, Măng Tố).
- Xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở, tổ chức sinh hoạt cộng đồng nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào đời sống nông dân khá giả.
Đóng góp của khóa luận là đã xây dựng được cơ sở dữ liệu thực chứng chi tiết về nông nghiệp huyện Tánh Linh trong giai đoạn bản lề 1999 - 2009, chỉ rõ mối liên hệ giữa điều kiện thổ nhưỡng, hệ thống thủy lợi với hiệu quả kinh tế cây trồng, đồng thời cảnh báo khách quan về những hệ lụy xã hội của quá trình chuyển đổi sinh kế tự phát.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế do tác giả tự nhận định: thời gian tiếp cận nguồn tư liệu thực địa có hạn; phạm vi khảo sát xã hội học chủ yếu tập trung vào các xã trọng điểm chuyển dịch mạnh, chưa bao quát đồng đều tất cả các thôn xen ghép của đồng bào dân tộc thiểu số; đội ngũ kỹ thuật cơ sở mỏng khiến một số số liệu chuyên sâu về sâu bệnh hại chưa được lượng hóa đầy đủ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra là theo dõi, đánh giá toàn diện tác động kinh tế - sinh thái của đại công trình thủy lợi Tà Pao sau khi hoàn thành và hòa mạng toàn bộ hệ thống kênh tưới tự chảy đến năm 2020; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về chuỗi giá trị và mô hình liên kết giữa nông dân với các nhà máy chế biến cao su, nông sản trên địa bàn huyện.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên các ngành Địa lý học, Sư phạm Địa lý, Địa lý kinh tế - xã hội, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên đất đai.
Nội dung khóa luận cung cấp nguồn tư liệu giá trị về phương pháp phân tích địa lý địa phương, cách tiếp cận đa chiều từ điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, địa chất, thủy văn) đến kinh tế - xã hội, cùng phương pháp xử lý số liệu thống kê cấp huyện trong nghiên cứu địa lý kinh tế nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
Cơ cấu kinh tế huyện Tánh Linh chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 1999 - 2009?
Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP của huyện giảm dần từ 57% (năm 1999) xuống còn 40,1% (năm 2009). Ngược lại, tỷ trọng ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng liên tục từ 10,79% lên 32,7%. Ngành dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng thấp. Dù tỷ trọng giảm, giá trị tuyệt đối của sản xuất nông nghiệp vẫn tăng liên tục và giữ vai trò chủ đạo.
Công trình thủy lợi nào có quy mô đầu tư lớn nhất trên địa bàn và mang ý nghĩa chiến lược đối với chuyển đổi cây trồng?
Đó là công trình thủy lợi Tà Pao, được đầu tư bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ với tổng kinh phí trên 2.000 tỷ đồng. Hạng mục chính gồm đập dâng, đập tràn tự do dài 370 m, cống lấy nước kênh Bắc (17,06 m³/s) và kênh Nam (15,17 m³/s), phục vụ tưới tự chảy cho 20.340 ha đất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt cho 150.000 dân của hai huyện Tánh Linh và Đức Linh.
Xu hướng biến động diện tích giữa các nhóm cây trồng tại huyện diễn ra ra sao?
Trong 11 năm (1999 - 2009), diện tích cây công nghiệp lâu năm (cao su, điều, hồ tiêu) tăng mạnh nhất với mức tăng 2,8 lần. Diện tích cây ăn quả tăng 1,2 lần, cây lương thực tăng 1,16 lần. Riêng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày có xu hướng giảm.
Nhóm đất nào chiếm ưu thế tuyệt đối tại Tánh Linh và thích hợp cho loại cây trồng nào?
Đất đỏ là nhóm chiếm diện tích lớn nhất với 62.596,06 ha (chiếm 53,31% diện tích tự nhiên của huyện), phân bố tập trung ở dạng đồi lượn sóng và vùng núi thấp. Cùng với nhóm đất đen (9.282,13 ha), đây là địa bàn thổ nhưỡng thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, điều.
Mặt trái nảy sinh từ việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng được tác giả ghi nhận là gì?
Mặt trái gồm hai vấn đề chính: sự suy giảm nhanh chóng của diện tích rừng tự nhiên do người dân tự ý phá rừng chuyển sang trồng cây công nghiệp và hoa màu; sự gia tăng của các tệ nạn xã hội tại địa bàn nông thôn khi người nông dân có thu nhập kinh tế cao hơn nhưng thiếu sự quản lý và định hướng nếp sống lành mạnh.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh đã tái hiện toàn diện bức tranh chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện Tánh Linh từ năm 1999 đến năm 2009 gắn liền với việc khai thác điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất và hạ tầng thủy lợi. Đề tài khẳng định vai trò then chốt của việc thâm canh lúa, phát triển cây công nghiệp dài ngày và nâng cao năng lực tưới tiêu đối với tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống nông dân. Bên cạnh những thành tựu kinh tế nổi bật, công trình chỉ rõ các thách thức về môi trường rừng và tệ nạn xã hội, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp và định hướng quy hoạch có giá trị khoa học và thực tiễn cho địa phương đến năm 2020.