Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỀN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về infographic và video trong dạy học 1. Trên thé giới Dạy học kết hợp với học liệu điện tử (E-learning Platform) hay việc ứng dụng công nghệ điện tử vào dạy học đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm.
E-learning là thuật ngữ xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1999 trong Hội nghị quốc tế về CBT- Computer Based Traning. Với sự phát trién của thời dai, E-learning ngày càng được phát triển va phô biến. Theo cùng với thời đại và nhu cầu của con người, việc day học có ứng dụng công nghệ điện tử đang ngày cảng mở rộng và đem lại lợi ích lớn lao cho ngành giáo dục. Năm 2013, Vanichvasin P đã nghiên cứu ảnh hướng của infographic tới thành tích va thái độ của học sinh trong bài học Địa lý, cho thấy infographic có the được sử dụng một cách hiệu quả và rộng rãi trong các bài học địa lý ở nhiều lĩnh vực khác nhau (Vanichvasin P, 2013).
Năm 2016, Yildirim, Serkan đã nghiên cứu: “Do họa thông tin cho mục đích giáo duc: Cau trúc, đặc tinh và phương pháp tiếp cận người doc” cho thay rằng infographic mang tính hướng dẫn và người tham gia khao sát nghiên cứu ở các trường thích sử dụng infographic trong các quá trình học tap co bản. Ngoài ra, infographic được coi là một trong những tài liệu giảng đạy cơ bản và người ta cho rằng những tài liệu này giúp việc học lâu dai hon (Yildirim, Serkan, 2016). Năm 2017, Saunders DH, Horrell A, Murray A đã nghiên cứu và cho thấy việc hợp lý khi kết hợp infographic trong các khóa học học thuật, nơi chúng có thé đảm nhận nhiều vai trò giảng dạy, học tập và đánh giá (Saunders DH, Horrell A, Murray A, 2017). Năm 2018, Yuruk SE, Yilmaz RM, Bilici S, đã nghiên cứu vẻ hiệu quả của việc sử dụng infographic vẻ thanh tích học tập: Phân tích tông hợp va phân tích siêu chủ đẻ.
Nghiên cứu này nhằm mục đích diễn giải lại những phát hiện của các nghiên cứu điều tra tính hiệu quả của việc sử dụng infographic đối với thành tích hoc tập. Một thiết kế nghiên cứu theo các phương pháp hỗn hợp bao gồm cả phần định lượng và định tính đã được áp dụng trong việc sử dụng infographic trong giáo dục (Yuruk SE, Yilmaz RM, Bilici S, 2018). Năm 2019, Chun-Min Chen, Yao-Chia Chuang, Gwo-Dong Chen đã nghiên cứu dé tài: “Hiệu quả của việc sử dụng video hướng dan day học trong giáo duc đảo tạo kỹ thuật, dạy nghề". Nghiên cứu nay cho thấy sự hiệu quả của việc sử dụng video giảng day trong mô hình giảng dạy đảo ngược trong giáo dục nghé nghiệp vả kỹ thuật (Chun- Min Chen, Yao-Chia Chuang, Gwo-Dong Chen, 2019).
Enfermagem đã nghiên cứu: “Phát triển một đô họa thông tin hoạt hình về Giáo dục Sức khỏe Thường trực" cho biết các chuyên gia về chủ đề này đánh giá tích cực vẻ infographic vi nó có thông tin rõ rang, đáp ứng nhu cau của đối tượng mục tiêu: thích học tập; và có khả năng lưu hành trong môi trường khoa học. Theo đánh giá của các chuyên gia nội dung của infographic có thông tin rõ ràng, ngắn gọn, đáp ứng nhu cầu của đối tượng mục tiêu, hỗ trợ việc học trong các tình huống khác nhau và có khả năng lưu chuyền trong lĩnh vực khoa học (Latino-Am. Năm 2020, Retni Sulistiyoning Budiarti, Harlis, Desfaur Natalia, đã nghiên cứu về kỹ năng tư duy bậc cao cho giáo dục sinh học: Video học tập vi sinh ứng dụng dựa trên trí tuệ địa phương của lambi. Cho thấy giảng viên phải sử dụng kết hợp giảng đạy với video đề phát trién đa dạng kĩ năng cho sinh viên (Retni Sulistiyoning Budiarti, Harlis, Desfaur Natalia, 2020).
Ở Việt Nam Trong Tạp chí Khoa học giáo dục số 37 (2012), bài viết “X4y dựng học liệu điện tử hỗ trợ việc đạy và học một số nội dung hóa học ở trường trung học phô thông”, tác giả Trịnh Lê Hồng Phương đã sử dụng một SỐ phan mềm dé hỗ trợ việc dạy học một sỐ nội dung Hóa học ở trường THPT. Dé tài cho thay rằng HLDT sử dụng những thành tựu trong công nghệ nhằm tao ra những tương tác ảo dé hỗ trợ người học trong quá trình tự học. Giúp HS khắc phục được các khoảng cách về thời gian và không gian, ngoài ra HLĐT có thé sử dung mọi lúc, mọi nơi tùy theo nhu cầu va điều kiện cụ thé của mỗi HS. Trong Tạp chí giáo dục số đặc biệt tháng 5 (2015), bai viết “Str dụng video trong chương trình giảng đạy hội nhập nghề nghiệp”, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã cho biết: các hoạt động từ xa và tại chỗ đã giúp các em tự chủ và tích cực hơn trong quá trình học tập.
Các hoạt động từ xa đóng vai trỏ quan trọng trong việc tạo ra một môi 10 trường học tập đa dạng và linh hoạt, từ đó giúp các em tự chủ và tích cực hơn trong quá trình học tập. Video giúp thu hút sự chú ý của HS và tạo điều kiện cho việc hap thu kién thức một cách hiệu qua hơn. Năm 2018, Phạm Thị Phượng đã nghiên cứu: “Ung dung video trong việc nâng cao kỹ năng thuyết trình cho sinh viên” cho biết hình thức thuyết trình sử dụng video có tác dụng nâng cao kỹ năng thuyết trình cho sinh viên trên nhiều phương điện hơn so với hình thức thuyết trình trên lớp (Phạm Thị Phượng, 2018). Năm 2023, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Lê Hong Nga nghiên cứu về: “Thiet kể và sử dung infographic trong việc day đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh lớp 11” đã đề xuất việc thiết kế và sử dụng infographic trong việc đạy đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh lớp 11 bằng phương pháp mô phỏng quá trình đọc văn bản thông tin và làm mẫu thiết kế infographic thông qua phần mềm Canva, đề xuất các bước thực hiện và cách thức danh giá.
HS có thê học tập, rén luyện, vận dụng đọc các loại văn bản thông tin khác và tóm tắt dưới đạng infographic. Qua đó, nâng cao năng lực đọc văn bản thông tin của HS, đồng thời tạo được hứng thú trong giờ học thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình day va hoc, góp phan phát triển năng lực và phâm chat của học sinh trong thời đại 4. Tổng quan về các công trình nghiên cứu infographic và video trong day học môn Sinh học 1. Nghiên cứu trên thế giới Năm 2016, Maria Dokopoulou , E.
Pavlatou đã nghiên cứu chủ dé: “Ung dung đa phương tiện bằng cách sử dụng thí nghiệm ghi video trong day học sinh học & bậc trung học" cho biết 5 thí nghiệm được ghi lại bằng video cung cấp cho sinh viên thông tin cơ bản về cách sử đụng kính hiển vi, quan sát nhân, phân lập axit nucleic và nghiên cứu quá trình nguyên phân và biến tinh protein. người ta cho rằng viđeo có khả năng nâng cao cả khía cạnh thực tiễn và lý thuyết của khoa học trong môn Sinh học (Maria Dokopoulou , E. Aceveda đã nghiên cứu chủ dé: “Tu phản ánh được hỗ trợ bằng video một công cụ sư phạm trong giảng dạy Sinh học”. Nhà nghiên cứu đã quyết định kiểm tra tính hiệu quả của video như một công cụ học tập dưới hình thức tự phản ánh có sự hỗ trợ của video trong việc dạy môn Sinh học.
Các phát hiện cho thay rằng H1 việc sử dụng phương pháp tự phản ánh có sự hỗ trợ của video là một công cụ sư phạm hiệu quả trong việc day môn Sinh học (hiela M. Các nghiên cứu trong nước Năm 2018, Lê Thi Huyền, Hà Thị Phương. Dau Quang Vinh, Hoàng Ngọc Thao, Đỗ Thị Hải, Lê Văn Trọng, Nguyễn Lệ Quyên, Nguyễn Thị Nam Hiền, Đỗ Trương Thuan, Nguyễn Văn Dũng đã nghiên cứu dé tai: “Khai thác và sử dụng video trong dạy học ở phổ thông" cho thay video hỗ trợ trong việc tô chức hoạt động dạy học của GV và trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS thẻ hiện ở khả năng tham gia trình bày sự vat, mô tả hiện tượng va phát biêu kết quả của quá trình nghiên cứu tìm tòi khám phá kiến thức, phát triển được năng lực nhận thức, năng lực hành động. Tổng quan các phương pháp dạy học phan Cảm ứng ở sinh vật Nghiên cứu của Đỗ Thành Trung (2020) về “Van dung mô hình lớp học đảo ngược dé tổ chức hoạt động day học chương Cam ứng — Sinh học 11, THPT` đã đạt kết quả tích cực.
Nghiên cứu cho biết mô hình lớp học đảo ngược là một mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến, được xây đựng dựa trên cơ sở lý thuyết về học tập tích cực. Đặc biệt, nội dung Cảm ứng với các thí nghiệm, hiện tượng rat gần gũi. quen thuộc ma người học có thé tự minh tiến hành, tự học, tự tìm hiểu trước khi học, do đó vận dụng mô hình lớp học đảo ngược đề tô chức đạy học cho HS khi học nội dung này là điều cần thiết (Đỗ Thành Trung, 2020). Học liệu Thuật ngữ học liệu ngày càng đa dang và phô biến.
Theo từ điền Greenwood trang 181: “Học liệu là những vật thé được sử dụng dé giúp cho việc truyền thụ kiến thức hoặc phát triển kĩ năng. Ví dụ như sách giáo khoa, các nguồn tài liệu nghe nhìn, các chương trình máy tinh và thiết bị thí nghiém. Theo thông tư 11/2018/TT-BGDĐT: *Học liệu là các phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản anh nội dung học tap, nghiên cứu. Học liệu có thể sử dụng dưới dang truyền thông (tranh ảnh, ảnh dạng thẻ) và học liệu điện tử” (Khoản 2, Dieu 2).
Trong tiếng Anh, “học liệu” được dùng bằng thuật ngữ “Courseware”, có thé hiểu đó là các tải liệu dạy và học bằng điện tử, gắn với đạy học trên máy tính và trên mạng. Bên cạnh đó, trong tiếng Anh còn có một số thuật ngừ khác được sử dụng có liên quan 12 đến “học liệu” đó là: “Learning materials” (tài liệu học tập), “Teaching materials” (tài liệu giảng day), “Instructional materials” (tài liệu dạy học). Học liệu điện tử được chia thành nhiều dang như: sách điện tử, PDF, Powerpoint, hình anh, video, infographic.Trong đó, video được biết đến rộng rãi trong quá trình giảng dạy. Như vậy, chúng ta có thé hiểu rang học liệu là các phương tiện vật chất mang, lưu giữ hoặc phản ánh nội dung trí thức, đóng vai trò phương tiện cho việc dạy và học.
Khái niệm Infographic la hình anh đồ họa thé hiện thông tin, dit liệu hoặc kiến thức nhằm thé hiện thông tin phức tạp một cách nhanh chóng và rõ ràng.