CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Các phương pháp đặc thù của dạy học tập làm văn Trong chương trình dạy học Ngữ Văn nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng, văn nghị luận chiếm phần lớn thời lượng chương trình. Hiện nay chương trình tập làm văn ở Trung học cơ sở đã được điều chỉnh và cân đối về cả thời lượng và nội dung. Dưới đây là một số phương pháp của dạy học tập làm văn theo chương trình đổi mới.
Phương pháp dạy lí thuyết Nội dung dạy lí thuyết đảm bảo sự tinh giản, vững chắc là phục vụ đắc lực cho việc luyện tập kĩ năng giao tiếp khi tạo lập VB. HS được phát triển tư duy ngôn ngữ và năng lực diễn đạt ý tưởng, tình cảm cá nhân. Truyền đạt trực tiếp các khái niệm, các vấn đề lí thuyết (phương pháp diễn dịch, phân tích khái niệm) GV nêu khái niệm hoặc các vấn đề lí thuyết, sau đó hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu khái niệm hoặc các vấn đề lí thuyết. Phương pháp được sử dụng khi gặp khái niệm mới, khó phức tạp để tiết kiệm thời gian, lời giải thích rõ ràng dễ hiểu.
Ví dụ: Bài “Tìm hiểu chung về văn nghị luận” (Lớp 7), dạy học đơn vị kiến thức “Đặc điểm chung của văn nghị luận”: Bước 1: GV nêu khái niệm: Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, nghười nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Bước 2: GV yêu cầu HS chỉ ra luận điểm, luận cứ và lập luận trong bài văn nghị luận thông qua khái niệm trên. Bước 3: GV chốt lại kiến thức và vận dụng lí thuyết vào luyện tập. Phân tích mẫu GV sử dụng VB mẫu làm “giáo cụ trực quan”.
Mẫu phải đáp ứng được các yêu cầu: Những dữ kiện để hình thành lí thuyết phải càng nhiều, càng đa dạng thì việc hình thành lí thuyết ở HS ngày càng thuận lợi, dễ dàng. Khai thác triệt để các dữ kiện của mẫu, tránh tình trạng dùng nhiều mẫu trong một giờ giảng, đáp ứng 9 được yêu cầu về mặt nội dung tư tưởng, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của HS. Đồng thời, có giá trị thẩm mĩ cao. Việc phân tích mẫu được chia làm hai cách: Cách 1: Dẫn mẫu, phân tích mẫu để hình thành khái niệm mới, hình thành lí thuyết mới cho HS.
Đây là cách quy nạp. Cách 2: Dẫn mẫu, phân tích mẫu nhằm minh họa cho khái niệm, cho lí thuyết. Đây là cách diễn dịch. Ví dụ: Bài “Đặc điểm của văn nghị luận” (Lớp 7): Bước 1: GV cung cấp mẫu cho HS (mẫu lấy từ SGK – văn bản “ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”.
Bước 2: HS đọc văn bản và trả lời các câu hỏi: - Tìm luận điểm chính? Các luận điểm phụ trong văn bản? - Xác định luận cứ (tìm lí lẽ, dẫn chứng). - Xác định cách lập luận toàn bài văn. Bước 3: GV hướng dẫn rút ra những vấn đề lí thuyết liên quan đến đặc điểm của văn bản nghị luận (định hướng của phần Ghi nhớ trong SGK). Bước 4: GV hướng dẫn HS củng cố và vận dụng những đặc điểm của văn bản nghị luận vào việc luyện tập (đọc và trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản “Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội” của trong SGK để nắm vững hơn đặc điểm của văn bản miêu tả).
Phương pháp dạy học theo tình huống giao tiếp Đây là phương pháp dạy học mới mẻ, hiện đại áp dụng trong tập làm văn rất hiệu quả, lại tăng tính thực tế. Dựa trên cơ sở nguồn gốc thực tiễn và mục đích giao tiếp của từng kiểu loại VB. Chọn lựa những tình huống giao tiếp – đối thoại phù hợp rồi phân tích, tổng hợp và hình thành hiểu biết về kiểu loại VB. Phương pháp đòi hỏi GV gia công suy nghĩ, liên hệ, sáng tạo để xây dựng những tình huống phù hợp rồi tổ chức HS tìm hiểu, phân tích tình huống từ đó hình thành khái niệm lí thuyết.
Cái khó của phương pháp này là khả năng sáng tạo tình 10 huống phù hợp, sinh động và khả năng dẫn dắt khéo léo để hình thành đúng bản chất khái niệm mà không bị gò ép, sống sượng. Phương pháp củng cố khắc sâu khái niệm bằng sơ đồ, biểu bảng, câu hỏi, bài tập luyện tập Về phương pháp này tránh nói nhiều, giảng dạy trừu tượng suông, càng nói càng rối, càng khó hiểu. Tránh ra các mệnh lệnh, áp đặt thiếu tường giải cặn kẽ thiếu dẫn dắt gợi mở. Không dạy theo kinh nghiệm chủ quan.
Phương pháp dạy thực hành Phân môn tập làm văn là một phân môn thực hành, trừ phần trình bày kiến thức, quy tắc tập làm văn không chiếm nhiều thời gian, giờ tập làm văn được xây dựng từ các bài tập, đó là các bài thực hành tập làm văn. Vì các bài thực hành tập làm văn được cấu thành từ một tổ hợp bài tập nên việc tổ chức dạy học cũng là việc tổ chức thực hiện các bài tập làm văn. Bao gồm bài tập luyện nói: hội thoại, độc thoại. Hội thoại là một hành động ứng xử có người nghe ở ngay trước mặt nên dạy hội thoại trước hết là dạy một hành động ứng xử với người khác một cách có văn hóa bằng ngôn ngữ.
Độc thoại: miêu tả ngắn (đồ vật, loài vật, cây, cảnh, người). Độc thoại mang đặc điểm của lời nói miệng nhưng vì phải nói thành đoạn, bài, và mặc dù cấu trúc câu đơn giản hơn và có sự hỗ trợ của các yếu tố ngoài ngôn ngữ, nó vẫn đòi hỏi người nói phải lập chương trình như khi viết thành đoạn, bài. Thời gian dùng để thực hành có thể được bố trí xen kẽ với việc dạy lí thuyết nhưng thường được tách ra thành những tiết giờ thực hành riêng. Thực hành vừa để củng cố lí thuyết, khẳng định lí thuyết vừa rèn luyện kĩ năng cũ, xây dựng kĩ năng mới và hình thành kĩ xảo.
Ví dụ: Bài “Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận” (Lớp 7), dạy học đơn vị kiến thức “Các bước làm bài nghị luận”: 11 Bước 1: GV nêu đặc điểm của đề văn nghị luận: nêu vấn đề để bàn bạc và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình đối với vấn đề đó. Sau đó, GV yêu cầu HS nhắc lại các bước làm bài văn tự sự (đã học ở lớp 6). HS cần nhắc lại được các bước cơ bản như: tìm hiểu đề và tìm ý, lập dàn ý, dàn bài, viết bài, sửa bài. Bước 2: GV nêu một hoặc một số đề bài để HS lựa chọn.
Bước 3: GV hướng dẫn HS cách làm bài văn nghị luận cho đề bài đã chọn theo các bước đã nêu ở trên. GV hướng dẫn HS xác định đúng vấn đề, phạm vi, tính chất của bài văn nghị luận. Xác lập luận điểm, cụ thể hóa luận điểm chính thành các luận điểm phụ, tìm luận cứ và cách lập luận cho bài văn. Bước 4: GV nhận xét, đánh giá việc xác định đối tượng phát miêu tả nghĩ, đặc điểm của đối tượng, cảm nghĩ của HS về đối tượng, cách sắp xếp các ý, bố cục của bài văn.
Bước 5: GV hướng dẫn HS nhận ra những kĩ năng đã làm tốt và chưa làm tốt để rút kinh nghiệm cho việc luyện tập tiếp theo. Bước 6: GV nêu thêm đề bài cho HS luyện tập. Phương pháp ra đề tập làm văn GV có thể sử dụng đề trong SGK hoặc tự ra đề. Khi ra đề, GV cần xác định: mục đích, nội dung, đối tượng và phương tiện làm bài của HS.
Một đề bài nhìn chung gồm có hai phần: phần cung cấp các dữ kiện làm bài và phần yêu cầu làm bài. Hai phần này có khi được nêu một cách tách biệt, dễ thấy, nhưng cũng có khi được trình bày đan xen vào nhau. Phần cung cấp dữ kiện làm bài giúp HS trả lời câu hỏi: Viết cái gì? Phần này thường gồm lời dẫn, vấn đề cần trình bày trong bài văn và định hướng nội dung bài làm cho HS. 12 Phần yêu cầu làm bài: giúp HS trả lời câu hỏi: Cách thức làm bài như thế nào? Mục đích làm bài là gì? Mức độ, phạm vi.
của vấn đề trình bày ra sao? Phần này cần được trình bày rõ ràng, chính xác, khơi gợi được hứng thú làm bài của HS. Hiện nay, trong cách ra đề tập làm văn GV thường chỉ sử dụng hình thức tự luận. Ngoài dạng đề truyền thống “đề đóng”, GV còn quan tâm đến việc xây dựng “đề mở”, trong đó chủ yếu nêu phần cung cấp dữ kiện để làm bài, ẩn đi phần yêu cầu làm bài. GV cần cân nhắc khi ra đề mở cho phù hợp với đối tượng HS.
Ví dụ: Bài “Viết bài tập làm văn số 5–Văn lập luận chứng minh” (Lớp 7): Bước 1: GV xác định luận điểm cần phải chứng minh, mục đích sử dụng đề bài: dùng cho giờ kiểm tra viết văn nghị luận, thời gian làm bài của HS: 1 tiết (45 phút). Bước 2: GV lựa chọn hình thức của đề tập làm văn nghị luận: theo hình thức tự luận. Bước 3: GV lựa chọn đối tượng của đề tập làm văn nghị luận. Bước 4: GV cung cấp đề bài cho HS luyện tập, kiểm tra: có thể ra đề đóng hoặc đề mở.
Bước 5: GV rút kinh nghiệm cho việc ra đề. HS thường chọn những đề bài nào (đóng hay mở)? Có HS nào hiểu sai đề bài không? Đối tượng miêu tả có phù hợp với nhận thức và hiểu biết của HS không? Bài làm của HS có những ưu điểm và hạn chế nào? 1. Phương pháp chấm và trả bài tập làm văn 1. Chấm bài GV tôn trọng, nghiêm túc, chính xác, công bằng với bài làm của HS.
Khi chấm đủ các tiêu chí về nội dung và hình thức của bài tập làm văn. Với bài văn nghị luận cần đủ các tiêu chí sau: có bố cục đầy đủ, rõ ràng gồm 3 phần mở bài, thân bài, kết luận, xác định luận điểm, luận cứ và lập luận trong từng phần và mối quan hệ giữa các phần, lời văn cần rõ ý, đúng ngữ pháp, có sức thuyết phục đối với người 13 đọc. Tùy thuộc vào thang điểm mà GV chia điểm cho từng tiêu chí một cách hợp lí, chấm theo hướng dẫn chấm, đáp án. Trả bài GV thông báo việc trả bài tập làm văn cho HS.
Căn cứ vào đề bài, GV xác định những yêu cầu chủ yếu của bài làm, đánh giá kết quả làm bài chung của cả lớp. Nêu dẫn chứng cụ thể về các ưu, khuyết điểm của lớp, phân tích và sửa lỗi cho HS, đọc bài mẫu. GV công bố điểm và trả bài cho HS.