CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về công bố thông tin của doanh nghiệp Nhà nước 1. Doanh nghiệp Nhà nước Quan niệm về DNNN ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau và khái niệm này cũng có sự thay đổi theo thời gian.
Cộng đồng châu Âu xác định: "Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà chính phủ trung ương hoặc địa phương có thể dựa vào quyền sở hữu, quyền khống chế cổ phần hoặc các điều lệ quản lý đối với doanh nghiệp đã gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chúng"1. Định nghĩa như vậy, về cơ bản dựa theo tiêu chí sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần trong doanh nghiệp, một doanh nghiệp mà nhà nước nắm toàn bộ sở hữu hoặc nắm phần chi phối về vốn góp hoặc cổ phần, có thể được hiểu là DNNN. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), DNNN được định nghĩa là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước hoặc do nhà nước kiểm soát, có thu nhập chủ yếu từ sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ2. Khái niệm trên cũng dựa trên dấu hiệu sở hữu của nhà nước đối với cổ phần của doanh nghiệp, là tiêu chí để phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khác; xác định DNNN là một tổ chức kinh tế nên có thu nhập chủ yếu là từ các hoạt động kinh tế (sản xuất, tiêu thụ hàng hóa hay cung cấp dịch vụ trên thị trường), để phân biệt với các tổ chức sự nghiệp hoạt động bằng ngân sách nhà nước.
Một số tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), hay Liên hợp quốc (UN) quan niệm DNNN là "những doanh nghiệp do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà nước kiểm soát 1 Võ Đại Lược (chủ biên) (1997), Đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở ViệtNam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2 Lê Hồng Hạnh (2014), Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7 tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của doanh nghiệp". Định nghĩa này tuy chưa đưa ra những định lượng cụ thể nhưng đã đưa ra những dấu hiệu có tính định tính nói trên để xác định về mặt nguyên tắc, DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ toàn bộ hoặc chi phối đến một mức độ nhất định quyền sở hữu cũng như quyền quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. Các nước khác, như: Thụy Điển, Phần Lan, Brazin, … cũng đều xác định DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% vốn của doanh nghiệp3.Thêm vào đó, trong bộ Hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD về quản trị công ty, thuật ngữ “Doanh nghiệp nhà nước” được dùng để chỉ các doanh nghiệp mà nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hay thiểu số quan trọng.Vì vậy, luật pháp ở nhiều nước chỉ định nghĩa rằng, DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% phần vốn góp hoặc cổ phần của doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, các thời kỳ khác nhau cũng có quan niệm khác nhau về DNNN. Năm 1948 tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 104/SL, theo đó doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được gọi là doanh nghiệp quốc gia4. Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 388/HĐBT về Quy chế thành lập và giải thể DNNN và đặc biệt là đến năm 1995, Quốc hội đã ban hành Luật DNNN. Điều 1 Luật DNNN 1995 quy định về khái niệm DNNN.
Thời kỳ này, Việt Nam quan niệm DNNN là những doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư 100% vốn, hoạt động theo những quy định riêng tại Luật DNNN mà không chịu sự điều chỉnh của Luật Công ty 1990. Sau khi Luật DNNN 2003 được ban hành và có hiệu lực thì lại có cách hiểu khác về DNNN. Đó là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Thời kỳ đó, tồn tại song hành Luật DNNN 2003 và Luật doanh nghiệp 3 Trần Thành Thọ (2008), Những vấn đề pháp lý về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội 4 Phạm Thị Vân Tường & Nguyễn Thị Hải Bình (2012), “Mô hình quản lý đầu tư vốn Nhà nước - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” Sách Tài chính Việt nam 2011, NXB Tài chính.
Vì vậy, để thống nhất luật điều chỉnh đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, ngay tại Luật doanh nghiệp 2005 đã có quy định về lộ trình chuyển đổi công ty nhà nước. Luật doanh nghiệp 2014 dành một chương để quy định về DNNN với nhiều sự thay đổi đáng kể so với Luật doanh nghiệp 2005.Khoản 8 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định quan niệm về DNNN như trước đây.Đó là, tại Khoản 11, Điều 4,Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Cách tiếp cận này đã chỉ rõ DNNN có thể tồn tại dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, cho phép mở rộng tối đa có thể có những doanh nghiệp có vốn Nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu, Doanh nghiệp nhà nước là các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, tồn tại dưới các mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Khái niệm, đặc điểm về công bố thông tin của doanh nghiệp Nhà nước Khái niệm công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì thông tin được hiểu là các hiểu biết, tri thức thu được qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau.Những thông tin này được công bố qua báo chí, thông điệp dữ liệu… đảm bảo cho người nhận có được kiến thức đầy đủ, thông tin chính xác. Như vậy, thông tin có ý nghĩa đem đến sự hiểu biết, nhận thức cho người tiếp nhận thông qua sự phân tích các dữ liệu, chỉ số, ký hiệu, bảng biểu, sơ đồ… và thường được truyền tải thông qua các hình thức như báo chí, truyền thanh, truyền hình, dữ liệu điện tử… Trên thị trường kinh doanh, thông tin rất đa dạng và có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau như từ chính bản thân doanh nghiệp, các hiệp hội, từ cơ 9 quan quản lý thị trường hay từ nhà đầu tư… Đó có thể là thông tin liên quan đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp, kế hoạch sản xuất kinh doanh, thông tin về biến động khác có ảnh hưởng đến doanh nghiệp và thị trường. Dưới góc độ kinh tế, thông tin của DNNN là tập hợp các số liệu, tin báo, những chỉ tiêu, tư liệu liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình của doanh nghiệp giúp cho cơ quan quản lý và cả xã hội có thể thực hiện giám sát, quản lý đối với doanh nghiệp.
Dưới góc độ pháp lý, thông tin của DNNN là hệ thống dữ liệu về tình hình sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý nội bộ cũng như mối quan hệ giữa DNNN với chủ sở hữu… trên thị trường. Những dữ liệu này được tập hợp, công bố một cách thường xuyên, đảm bảo yêu cầu kiểm tra, giám sát của người có trách nhiệm, cũng như toàn xã hội. Đảm bảo mục tiêu sản xuất kinh doanh có hiệu quả của DNNN. Tại Việt Nam, việc CBTT của DNNN được ghi nhận và đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, trong đó quy định cơ bản tại Luật Doanh nghiệp 2020.
Cụ thể, Điều 109, 110 Luật này quy định DNNN có nghĩa vụ CBTT định kỳ và CBTT bất thường. Nghị định 47/2021/NĐ-CP cụ thể hóa tại Chương V về nghĩa vụ CBTT của DNNN. Việc CBTT của DNNN phải được thực hiện đồng thời qua các phương tiện CBTT, bao gồm báo cáo bằng văn bản, cổng hoặc trang thông tin điện tử, ấn phẩm và các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch về hoạt động của doanh nghiệp, bảo đảm tính hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý và giám sát của cơ quan nhà nước và của xã hội đối với DNNN. Như vậy, có thể hiểu, công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước là việc làm cho thông tin được công khai một cách tin cậy và đông đảo công chúng có thể biết.
Nội dung công bố là các thông tin tài chính và phi tài chính, phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát, kinh doanh và đầu tư theo từng giai đoạn phát triển kinh tế, đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước. Hoạt động CBTT của 10 DNNN có thể thực hiện thông qua các phương tiện như trang thông tin điện tử, báo in, báo hình hoặc các ấn phẩm khác như tạp chí, bản tin… Đặc điểm công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước Thứ nhất, Hoạt động CBTT là một nhiệm vụ thường xuyên của DNNN. Đây là yếu tố quan trọng, góp phần tăng cường hiệu quả giám sát đối với các hoạt động của DNNN, từ đó nâng cao hiệu quả vận hành. Thông qua việc công bố thông tin, các thành viên có thể thực hiện tốt quyền sở hữu đối với phần vốn góp của mình tại DNNN, đặc biệt là những thành viên sở hữu ít vốn và các cổ đông thiểu số trong các DNNN tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.
Thứ hai, hoạt động CBTT của DNNN luôn được thực hiện thông qua những cá nhân có thẩm quyền nhất định. Người đại diện có thẩm quyền là cá nhân thay mặt DNNN công bố thông tin theo quy định của điều lệ công ty và pháp luật. Chỉ những thông tin được công bố bởi người có thẩm quyền của DNNN mới được coi là nguồn tin chính thức, đáng tin cậy, và DNNN phải chịu trách nhiệm đối với các thông tin này. Đồng thời, bản thân người thực hiện việc công bố thông tin cũng phải chịu trách nhiệm về nội dung mà họ được ủy quyền công bố.