Đặt vấn đề Chuối là tên của một loại cây ăn quả thuộc chi Musa, có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á và Úc. Các bộ phận của chuối được con người sử dụng rất nhiều, đặc biệt là quả. Quả của nó đóng một vai trò quan trọng trong chế độ ăn uống hàng ngày của con người bằng cách cung cấp các yếu tố tăng trưởng cần thiết như vitamin và các khoáng chất thiết yếu, giúp duy trì cuộc sống khỏe mạnh. Vì chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao nên chuối đem lại cho người dùng rất nhiều lợi ích như: giải độc cơ thể, tăng cường thị lực, giúp tăng lượng máu trong cơ thể, giảm huyết áp, chống lại ung thư.
Do đó, nó được rất nhiều người ưa chuộng. Chuối là cây ăn quả quan trọng hàng đầu trên thế giới trong sản xuất, buôn bán và được trồng phổ biến trên 135 quốc gia với sản lượng 145 triệu tấn trên toàn thế giới, tương đương với 26,5 tỷ Euro (FAO, 2014). Ngành xuất khẩu chuối tạo ra khoảng 13,5 tỷ USD mỗi năm. Việt Nam là một nước nhiệt đới với khí hậu thích hợp để trồng các loại cây ăn quả trong đó có chuối.
Theo Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại – Bộ Công Thương (VITIC) năm 2019, chuối chiếm hơn 19% tổng diện tích cây trồng ăn quả với diện tích trên 100.000 ha và có sản lượng tiêu thụ khoảng 1,4 triệu tấn/ năm. Nền sản xuất chuối của nước ta luôn phải đối mặt với các dịch bệnh nghiêm trọng đe dọa đến chất lượng và sản lượng quả. Một số bệnh có thể kể đến như: héo Panama (Fusarium oxysporum f.sp cubense), bệnh đốm lá Sigatoka (pseudocercospora fijensis, Pseudocercospora musae), bệnh thán thư (Colletotrichum musae). Trong đó, bệnh héo Panama do nấm Fusarium oxsporum f.sp cubense gây thiệt hại rất nặng cho cây chuối.
Khi bị bệnh cây sẽ héo dần từ lá già đến lá non và cuối cùng là cây chết do nấm xâm nhập vào xylem gây tắc mạch. Các nghiên cứu về bệnh héo Panama nói chung và nấm Fusarium oxysporum f.sp cubense nói riêng ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, nên 1 việc phòng trừ và điều trị vẫn còn khó khăn. Trước tình hình thực tại đó, đề tài khóa luận “Phân lập và nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số chủng nấm gây bện trên chuối thu thập tại Thái Bình” được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu ban đầu về nấm Fusarium oxysporum f.sp cubense gây bệnh trên chuối. Từ đó có những nghiên cứu chuyên sâu hơn nhằm phòng chống bệnh héo Panama một cách hiệu quả nhất, giúp tăng sản lượng lẫn chất lượng của chuối và giảm bớt gánh nặng cho người nông dân tại địa phương này.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số chủng nấm gây bệnh trên chuối để làm cơ sở nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh một cách hiệu quả. Yêu cầu - Phân lập được 2-3 chủng nấm gây bệnh trên chuối. - Xác định được một số đặc điểm sinh học cơ bản của các chủng nấm gây bệnh trên chuối.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về tình hình trồng chuối trên thế giới và tại Việt Nam Trái cây là sản phẩm thực phẩm quan trọng trong thương mại và dinh dưỡng. Chuối (Musa spp.) là nguồn cung cấp thực phẩm và trái cây quan trọng trên khắp thế giới và được coi là cây ăn trái hàng đầu thế giới, với giá trị sản xuất đạt hơn 100 triệu tấn mỗi năm (FAO, 2019). Sản lượng của các cây ăn quả nhiệt đới ngày càng tăng, trong đó chuối là loại quả đứng thứ nhất về sản lượng với hơn 145 triệu tấn được sản xuất trên toàn cầu vào năm 2011.
Là một loại cây lương thực chính, chuối là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng ở châu Phi và châu Á, đảm bảo lương thực cho hàng triệu người (Aurore et al. Trung Quốc là nhà sản xuất chuối lớn thứ hai trên thế giới sau Ấn Độ, và là nhà sản xuất chuối Cavendish (AAA) lớn nhất toàn cầu (Li et al. Chuối được trồng trong các khu vườn và trang trại nhỏ ở khoảng 120 quốc gia, chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Amani 2007; Jones 2000). Ở Việt Nam, đây là loại cây được trồng phổ biến khắp đất nước từ Bắc vào Nam.
Theo thống kê của trang Tridge, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 14 về diện tích trồng chuối, chiếm 1,7% thị phần của các nước. Báo cáo của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, cây chuối chiếm hơn 19% tổng diện tích cây trồng ăn quả với diện tích 150.000ha quy mô trang trại chuối lấy quả. Nếu tính cả diện tích nhỏ lẻ của các gia đình, các giống chuối trồng không lấy quả như chuối lá, chuối hột, chuối rừng, diện tích chuối đạt trên 200.000ha và có sản lượng tiêu thụ khoảng 2,194 triệu tấn/ năm. Chuối của Việt Nam rất đa dạng về chủng loại với nhiều giống chuối chất lượng như: chuối tiêu, chuối tây, chuối ngự.
được trồng rải rác khắp các tỉnh thành cả nước. Tại miền Trung và miền Nam, có nhiều địa phương sở hữu diện tích chuối lớn như Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau, Thanh Hóa, Quảng Trị, Khánh Hòa… có diện tích trồng từ 3. Miền Bắc thì ở các tỉnh thành như: Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Phú Thọ, Nam Định. 3 có diện tích trồng đạt đến 3000ha.
Các giống chuối của Việt Nam không chỉ phong phú về kích cỡ, hương vị mà còn có những giá trị sử dụng rất khác nhau. Với những đặc điểm trên, chuối là mặt hàng có triển vọng xuất khẩu của Việt Nam, nhất là đối với giống chuối tiêu và chuối cau. Việt Nam là thị trường cung cấp chuối lớn thứ 3 cho Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm 2020 với trị giá xuất khẩu đạt 95 triệu USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2019. Tỷ trọng xuất khẩu chuối của nước ta sang Trung Quốc cũng tăng 3,5 điểm % so với cùng kỳ năm 2019.
Một số thị trường tiềm năng khác như EU, Nhật Bản. đều là các thị trường lớn, đa dạng và phong phú. Các thị trường này có mức thu nhập cao được xem là nơi nhập khẩu hàng hoá lý tưởng của nhiều nước. Tuy nhiên, chính sách bảo vệ người tiêu dùng của các thị trường trên rất chặt chẽ và có những rào cản về kỹ thuật rất lớn.
Đây là các thị trường rất khó tính để xuất khẩu, đặt ra những thách thức rất lớn cho nền trồng và chế biến chuối của nước nhà. Tổng quan về một vài bệnh trên chuối do vi khuẩn gây ra 2. Bệnh héo rũ do vi khuẩn Xanthomonas Tác nhân chính gây ra bệnh này là vi khuẩn có tên khoa học là Xanthomonas campestris pv. Xcm là một vi khuẩn Gram âm, hiếu khí, hình que có kích thước 0,7-0,9µm x1,8-2,0µm, di động bởi một trùng roi đơn cực (Bradbury, 1986) và thuộc giống Xanthomonas trong phân lớp gamma của proteobacteria (Smith et al.
Xcm ban đầu được xác định ở Ethiopia vào những năm 1960 trên Ensete ventricosum và sau đó là chuối (Yirgou and Bradbury, 1968; 1974). Vào tháng 10 năm 2001, một bệnh héo rũ do nguyên nhân mới đã được báo cáo ảnh hưởng đến chuối (Musa sp. Ở quận Mukono của Uganda. Rối loạn này được đặc trưng bởi sự vàng và héo nhanh chóng của các lá non, sự đổi màu của các mạch bên trong, đôi khi có hiện tượng chết ngược bắt đầu từ các bộ phận hoa đực với sự thối rữa bên trong của quả chuối.
Các triệu chứng này đặc biệt khác biệt với bệnh héo Fusarium (Fusarium oxysporum) và Matooke wilt (một dạng rối loạn giống héo không rõ nguyên 4 nhân), nhưng rất giống với bệnh Moko do Ralstonia solanacearum gây ra (W. Tushemereirwe et al. Các cây chuối và cây trồng bị nhiễm bệnh do vi khuẩn Xcm phát triển các triệu chứng bao gồm lá vàng và héo dần, các chồi đực của cây chuối bị bệnh bị thối và cuống hoa chuyển sang màu vàng nâu, trái cây chín sớm và không đều, có màu nâu bên trong. Sau khi cắt ngang thân cây, các túi dịch tiết vi khuẩn màu vàng nhạt xuất hiện trong vòng 5 - 15 phút (Nakato et al.
Trên đồng ruộng, Xcm chủ yếu lây truyền qua việc sử dụng các nông cụ bị ô nhiễm (Eden- Green, 2004; Kagezi et al., 2006; Tinzaara et al., 2006; Biruma et al, 2007; Addis et al, 2010). Thực nghiệm cho thấy Xcm có thể tồn tại trên thép không gỉ đến 20 ngày (Buregyeya et al, 2008). Các công cụ canh tác đã được chứng minh là nguyên nhân gây ra sự lây lan xa và bùng phát mầm bệnh đơn lẻ (Tushemereirwe et al. Các vật chủ trung gian như côn trùng, chim, dơi và động vật nhai lại là những phương tiện quan trọng để lây lan Xcm trong và khắp các đồn điền (Tinzaara et al., 2006; Buddenhagen, 2006; Karamura et al.
Tuy nhiên, sự lan truyền của Xcm phụ thuộc vào kích thước và số lượng của các vật chủ trung gian (Nakato et al. Khi bị nhiễm Xcm, các phương pháp quản lý tổng hợp được khuyến nghị. Bao gồm nhổ rễ, cắt nhổ và chôn các cây bị bệnh (tức là các cụm cây được hình thành từ cùng một cây bố mẹ), loại bỏ chồi đực bằng que chẻ khi hình thành chùm quả cuối cùng để hạn chế côn trùng truyền bệnh và làm sạch nông cụ với natri hypoclorit. Trong những năm qua, các biện pháp quản lý góp phần đáng kể vào việc giảm tỷ lệ mắc bệnh trong các cánh đồng nông dân đã được khuyến cáo (Ocimati et al.
Một số phương pháp như giám sát liên tục đồng ruộng và loại bỏ các cây có triệu chứng, được gọi là loại bỏ thân bị bệnh đơn lẻ (SDSR) được khuyến khích. SDSR làm giảm vi khuẩn Xcm, ngăn không cho nó lây lan sang các cây lân cận do đó giảm tỷ lệ mắc bệnh (Kubiriba et al, 2012). Tuy nhiên, theo Shimwela et al. (2016a), 5 tác động của SDSR có thể hiệu quả hơn trong mùa khô khi sự lây truyền mầm bệnh ít hơn so với mùa mưa.
Ảnh triệu chứng bệnh héo rũ do vi khuân Xcm 2. Bệnh Moko và Bugtok gây ra bởi Ralstonia solanacearum Ralstonia solanacearum là một mầm bệnh truyền qua đất gây ra bệnh héo rũ nghiêm trọng trên 200 loài thực vật thuộc hơn 50 họ bao gồm cây rau họ cà, chuối, gừng, mãng cầu, lạc, bạch đàn và nhiều cây trồng khác (Hayward, 1994; Kelman, 1953). Do khả năng gây chết, tồn tại lâu, phạm vi ký chủ rộng và phân bố địa lý rất rộng, R. solanacearum là một trong những vi khuẩn gây bệnh thực vật có sức tàn phá khủng khiếp nhất (Elphinstone, 2005).