Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Văn học của tác giả Trương Thị Thanh Hiền (MSSV: 4501606032), thực hiện tại Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của PGS. Bùi Thanh Truyền (tháng 05/2024), đặt trong bối cảnh nghiên cứu văn học thiếu nhi tại Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt là theo hướng văn học so sánh, vẫn còn hạn chế.

1. Lý do chọn đề tài:

  • Vai trò của văn học thiếu nhi: Trẻ em là lực lượng quyết định tương lai đất nước; bên cạnh chăm sóc vật chất, việc bồi dưỡng đời sống tinh thần, thẩm mỹ và nhân cách qua văn chương là nhiệm vụ thiết yếu.
  • Vị thế của hai tác phẩm:
    • Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần là tác phẩm tiêu biểu của văn học thiếu nhi Việt Nam đương đại, từng đạt Giải A Cuộc vận động sáng tác văn học thiếu nhi năm 2002, Giải thưởng Peter Pan (Thụy Điển, 2008), Giải thưởng Sách Hay 2011; được tái bản hơn 30 lần với trên 50.000 bản in tại Việt Nam và được dịch sang tiếng Anh (Open the windows, eyes closed), Thụy Điển, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản.
    • Hoàng tử bé (Le Petit Prince) của Antoine de Saint-Exupéry là kiệt tác kinh điển của văn học Pháp và thế giới, xuất bản lần đầu năm 1943 tại Mỹ (năm 1946 tại Pháp), được dịch sang khoảng 300 ngôn ngữ và phương ngữ, tiêu thụ hơn 200 triệu bản, thuộc top 100 cuốn sách vĩ đại nhất thế kỷ XX.
  • Yêu cầu thực tiễn sư phạm: Cả hai tác phẩm đều đã được đưa vào giảng dạy trong Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 cấp Trung học Cơ sở (trong các bộ sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo, Cánh diều).
  • Khoảng trống học thuật: Các công trình trước đây về Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ chủ yếu nghiên cứu đơn tác phẩm, khảo sát nhân vật, yếu tố huyền ảo, biểu tượng hoặc so sánh với các tác giả trong nước (như Nguyễn Nhật Ánh); trong khi đó, công trình nghiên cứu Hoàng tử bé tại Việt Nam chưa phong phú. Việc so sánh đối chiếu trực tiếp giữa hai tác phẩm này là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.

2. Mục tiêu nghiên cứu:

  • Đối sánh hai tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ và Hoàng tử bé để xác định các điểm tương đồng và khác biệt về mặt thi pháp nghệ thuật và nội dung tư tưởng.
  • Lý giải căn nguyên của sự tương đồng và khác biệt thông qua việc khảo sát tiểu sử, cuộc đời, quan niệm thẩm mỹ của hai tác giả Nguyễn Ngọc Thuần và Antoine de Saint-Exupéry.
  • Cung cấp cái nhìn tổng quan, góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu văn học thiếu nhi Việt Nam trong mối tương quan với văn học thế giới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự tương đồng và khác biệt giữa Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ và Hoàng tử bé trên các phương diện: đề tài, chủ đề, cốt truyện, không gian nghệ thuật, thông điệp giáo dục trẻ thơ; cùng tiểu sử và quan niệm sáng tác của hai nhà văn.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát:
    • Tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần), bản in tái bản năm 2022 của Nhà xuất bản Trẻ.
    • Tác phẩm Hoàng tử bé (Antoine de Saint-Exupéry), bản dịch chính của dịch giả Trác Phong (Nhà xuất bản Hội nhà văn và Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam phát hành nhân kỷ niệm 70 năm xuất bản, có bản quyền từ NXB Gallimard).
    • Các văn bản đối chiếu, tham khảo: Bản dịch của Bùi Giáng (NXB Văn học, bản in đầu năm 1966 của nhà in An Tiêm), bản dịch của Vương Thanh Tâm (NXB Thanh Niên), bản song ngữ Việt - Anh của Nguyễn Thúy Loan (NXB Văn học), và bản song ngữ Việt - Pháp của Vĩnh Lạc (NXB Dân Trí).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống thao tác luận và khung lý thuyết dựa trên các chuyên ngành lý luận văn học, thi pháp học, văn học thiếu nhi, luật học và văn học so sánh.

Khung lý thuyết / Lĩnh vực Văn bản, nguồn tài liệu và tác giả trích dẫn chính Nội dung vận dụng
Lý luận về văn học thiếu nhi - Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 1992/2011)
- Văn học thiếu nhi (Bùi Thanh Truyền, Nguyễn Thanh Tâm, Chu Thị Hà Thanh, 2022)
- Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam (Vân Thanh, Nguyên An, 2003)
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hương (2016)
Xác lập định nghĩa, chức năng giáo dục - thẩm mỹ - giải trí, và phân loại văn học thiếu nhi (viết cho trẻ mầm non, thiếu niên, tuổi mới lớn).
Khung pháp lý về độ tuổi trẻ em - Quốc tế: Tuyên bố Geneva 1924, Tuyên bố Liên Hợp Quốc 1959, Công ước Quyền trẻ em CRC 1989, Công ước ILO 138 (độ tuổi dưới 18 tuổi).
- Việt Nam: Pháp lệnh 1979 (dưới 15 tuổi); Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, 2004 (dưới 16 tuổi).
Xác định đối tượng tiếp nhận chính của văn học thiếu nhi trên bình diện pháp lý quốc tế và pháp luật thực định Việt Nam.
Lý thuyết văn học so sánh - Lí luận văn học so sánh (Nguyễn Văn Dân, 1995/1998)
- 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên An)
- Cơ sở văn học so sánh (Trần Đình Sử, 2020)
- Marius-François Guyard (La Littérature Comparée)
- Henry Remak (nghiên cứu so sánh văn học liên ngành)
- Giáo trình văn học so sánh (Trần Thị Phương Phương, 2019)
- Trần Thanh Đạm (2019)
Xác lập phương pháp luận so sánh văn học loại hình, quan hệ ảnh hưởng, nghiên cứu liên ngành nghệ thuật - văn học và đối chiếu văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu thực tế đã sử dụng:

  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu song song hai văn bản để tìm ra các tọa độ tương đồng và dị biệt về thi pháp và tư tưởng.
  • Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: Phân tích tiểu sử, trải nghiệm sống của hai tác giả (mồ côi cha sớm, gắn bó với mẹ, xuất thân từ trường mỹ thuật, xem viết văn là nghề tay trái) để giải mã phong cách nghệ thuật.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn học với hội họa, tâm lý học trẻ em và luật học.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Giải mã các chi tiết, biểu tượng nghệ thuật nhằm khái quát hóa các giá trị nội dung.
  • Thao tác thống kê, phân loại: Hệ thống hóa 19 thiên truyện của Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ và 27 chương của Hoàng tử bé theo bảng phân loại cốt truyện phân đoạn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết và thực tiễn cho toàn bộ đề tài:

  • Khái quát các định nghĩa về văn học thiếu nhi, xác định đặc thù phản ánh thế giới qua lăng kính trẻ thơ và phân tích vai trò của trẻ em với tư cách là đối tượng tiếp nhận trọng tâm. Phân tích các trường hợp văn học ranh giới (như Trên đồi cao chăn bầy thiên sứ của Nguyễn Ngọc Thuần chứa yếu tố rợn người không phù hợp cho thiếu nhi, Giết con chim nhại của Harper Lee; ngược lại Robinson Crusoe của Daniel Defoe hay Nhà giả kim của Paulo Coelho được trẻ em tiếp nhận nồng nhiệt).
  • Giới thuyết lịch sử và các trường phái văn học so sánh từ nghĩa hẹp (đối chiếu dữ kiện thực nghiệm) đến nghĩa rộng (nghiên cứu lịch sử - so sánh, liên ngành nghệ thuật, triết học, xã hội).
  • Khảo sát hành trình sáng tác của hai tác giả:
    • Nguyễn Ngọc Thuần: Sinh năm 1972 tại Bình Thuận, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật TP.HCM, làm họa sĩ trình bày báo Tuổi Trẻ, đạt nhiều giải thưởng văn học dù là cây bút không chuyên (Giăng giăng tơ nhện - Giải 3 Tuổi 20 năm 2000; Một thiên nằm mộng - Giải A năm 2003; Trên đồi cao chăn bầy thiên sứ - Giải B năm 2004). Tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ gồm 19 thiên truyện ngắn xoay quanh cậu bé Trí Dũng 10 tuổi.
    • Antoine de Saint-Exupéry: (1900 - 1944), sinh tại Lyon, phi công chiến đấu và vận chuyển thư tín hàng không, từng học Kiến trúc tại Đại học Mỹ thuật, trải qua 38 lần bị thương, 3 lần nhập ngũ, 2 lần giải ngũ; hy sinh ngày 31/7/1944 trên vùng trời Địa Trung Hải. Tác phẩm Hoàng tử bé gồm 27 chương, viết tại Long Island (New York, Mỹ) trong thời gian lưu vong Thế chiến II.
  • Luận giải tính khả dụng của việc so sánh dựa trên: (1) Sức hấp dẫn kép (thu hút cả thiếu nhi lẫn người lớn, đề tặng người lớn khi từng là trẻ con); (2) Sự tương đồng về xuất thân mỹ thuật và quan niệm sáng tác duy mỹ, nhân văn, coi trọng cảm xúc nội tâm.

Chương 2. Sự tương đồng giữa Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ và Hoàng tử bé

Chương 2 phân tích các điểm gặp gỡ giữa hai tác phẩm trên 5 bình diện:

  • Tương đồng trong đề tài: Đều khai thác đề tài tình bạn tri âm, tri kỷ trong sáng (tình bạn giữa Trí Dũng và Tí trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ; tình bạn giữa Hoàng tử bé và Con cáo qua khái niệm "thuần hóa" / apprivoiser / tamed trong Hoàng tử bé); đề tài tình yêu thương giữa con người với con người và vạn vật.
  • Tương đồng trong chủ đề: Khẳng định tác động tích cực của tự nhiên đối với sự hoàn thiện nhân cách, tâm hồn trẻ thơ (khu vườn của bố Trí Dũng; tiểu tinh cầu B612 với bông hoa hồng và các ngọn núi lửa); chủ đề trân trọng những điều bình dị, vô hình trong cuộc sống ("nhìn bằng trái tim", lắng nghe âm thanh và mùi hương khi nhắm mắt).
  • Tương đồng trong cốt truyện: Cả hai tác phẩm đều sử dụng kết cấu cốt truyện phân đoạn (episodic plot), gồm các mảnh ghép truyện/chương ngắn độc lập nhưng liên kết chặt chẽ bởi hệ thống nhân vật trung tâm và mạch cảm xúc thống nhất.
  • Tương đồng trong không gian nghệ thuật: Xây dựng không gian tâm lý (không gian nội tâm hóa, cảm nhận bằng giác quan và ký ức) đan xen với không gian huyền thoại/cổ tích giàu chất thơ.
  • Tương đồng trong thông điệp giáo dục trẻ thơ: Truyền tải bài học sâu sắc về tình bạn, sự thấu hiểu, trách nhiệm và tình yêu gắn kết với thiên nhiên một cách nhẹ nhàng, không giáo điều.

Chương 3. Sự khác biệt giữa Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ và Hoàng tử bé

Chương 3 chỉ ra các nét khu biệt mang tính bản sắc văn hóa và phong cách cá nhân:

  • Khác biệt trong đề tài:
    • Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ: Tập trung vào đời sống sinh hoạt nông thôn làng quê Việt Nam đương đại, những trò chơi dân dã, quan hệ xóm giềng.
    • Hoàng tử bé: Khắc họa nỗi cô đơn hiện sinh của trẻ thơ, sự lạc lõng của tâm hồn trong trẻo giữa vũ trụ bao la.
  • Khác biệt trong chủ đề:
    • Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ: Đề cao vai trò của thiết chế gia đình (đặc biệt là người cha và người mẹ) trong việc đồng hành, định hình nhân cách và tâm hồn đứa trẻ.
    • Hoàng tử bé: Nhấn mạnh sự xung đột nhận thức và khoảng cách thế giới quan giữa người lớn (thực dụng, quy chuẩn, tính toán con số) và trẻ con (giàu tưởng tượng, nhìn nhận bản chất).
  • Khác biệt trong cốt truyện:
    • Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ: Cốt truyện tuyến tính, đơn tuyến, phát triển theo trục thời gian trưởng thành đời thường của Trí Dũng.
    • Hoàng tử bé: Cốt truyện phiêu lưu viễn tưởng, không gian đa chiều, mang tính chất ngụ ngôn huyền ảo (cuộc du hành qua các tiểu tinh cầu 325, 326, 327, 328, 329, 330 và Trái Đất).
  • Khác biệt trong không gian nghệ thuật:
    • Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ: Không gian sinh hoạt, đời thường, gắn liền với ngôi nhà, góc vườn, lớp học, làng quê.
    • Hoàng tử bé: Không gian kỳ ảo, vũ trụ mênh mông, sa mạc Sahara hoang vắng, các hành tinh xa xôi.
  • Khác biệt trong thông điệp giáo dục trẻ thơ:
    • Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ: Hướng tới các bài học về phẩm chất đạo đức cụ thể (lòng biết ơn, sự sẻ chia, biết nhận lỗi, tình làng nghĩa xóm).
    • Hoàng tử bé: Đặt ra những suy tư triết học về hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, bản chất của sự tồn tại và cái chết.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã tổng hợp sự đối sánh toàn diện giữa hai tác phẩm qua hệ thống tiêu chí thi pháp:

Tiêu chí so sánh Tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Nguyễn Ngọc Thuần) Tác phẩm Hoàng tử bé (Antoine de Saint-Exupéry)
Quy mô kết cấu 19 thiên truyện ngắn liên hoàn; dung lượng dưới 200 trang. 27 chương đánh số La Mã; dung lượng khoảng 100 trang.
Loại hình cốt truyện Cốt truyện phân đoạn; phát triển tuyến tính, đơn tuyến theo đời sống thực. Cốt truyện phân đoạn; kết cấu phiêu lưu, ngụ ngôn, du hành vũ trụ huyền ảo.
Không gian nghệ thuật Không gian sinh hoạt đời thường, nông thôn làng quê, khu vườn gia đình. Không gian kỳ ảo, sa mạc Sahara, các tiểu tinh cầu trong vũ trụ.
Cốt lõi chủ đề Gắn kết gia đình, nuôi dưỡng đạo đức qua trải nghiệm thường nhật. Khoảng cách người lớn - trẻ con; nỗi cô đơn và triết lý hiện sinh.
Phương thức cảm thụ Cảm nhận thế giới bằng giác quan (nhắm mắt ngửi mùi hoa, đoán khoảng cách). "Nhìn bằng trái tim" (L'essentiel est invisible pour les yeux).

2. Đóng góp của đề tài:

  • Về mặt học thuật: Là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam tiến hành so sánh đối chiếu hệ thống giữa một tác phẩm văn học thiếu nhi Việt Nam đương đại tiêu biểu (Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ) với một kiệt tác văn học thiếu nhi thế giới (Hoàng tử bé).
  • Về mặt phương pháp: Chứng minh tính hiệu quả của phương pháp tiếp cận văn học so sánh loại hình kết hợp nghiên cứu tiểu sử tác giả có cùng nền tảng mỹ thuật để giải mã các hiện tượng văn học thiếu nhi.
  • Về mặt tư liệu: Cung cấp hệ thống khảo sát thư mục, dịch thuật và đối chiếu văn bản chi tiết về các bản dịch của Hoàng tử bé tại Việt Nam từ năm 1966 đến nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát văn bản tiếng nước ngoài của Hoàng tử bé chủ yếu tiếp cận qua các bản dịch tiếng Việt tiêu biểu (Trác Phong, Bùi Giáng, Vương Thanh Tâm) và hai bản song ngữ (Việt - Anh, Việt - Pháp); chưa thể bao quát toàn bộ các biến thể dịch thuật khác trên thế giới do rào cản ngôn ngữ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi so sánh Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ với các tác phẩm kinh điển khác của văn học thiếu nhi phương Tây (như Cây cam ngọt của tôi của José Mauro de Vasconcelos hoặc Totto-chan bên cửa sổ của Tetsuko Kuroyanagi).
    • Đi sâu nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ văn chương và nghệ thuật tạo hình (hội họa) trong các sáng tác của các tác giả đồng thời là họa sĩ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non; giáo viên Ngữ văn cấp Trung học Cơ sở trực tiếp giảng dạy Chương trình GDPT 2018.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Phần phân tích thi pháp không gian nghệ thuật và nghệ thuật xây dựng cốt truyện phân đoạn trong văn xuôi thiếu nhi (Chương 2 và Chương 3).
    • Nguồn ngữ liệu đối chiếu chi tiết giữa các trích đoạn văn bản dùng trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 và Ngữ văn 7 hiện hành với toàn bộ tác phẩm gốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận căn cứ vào cơ sở nào để khẳng định tính khả dụng của việc so sánh hai tác giả và hai tác phẩm?
Khóa luận chỉ ra hai tác phẩm đều sở hữu "sức hấp dẫn kép" (thu hút đồng thời cả bạn đọc thiếu nhi lẫn người lớn). Về phía tác giả, cả Nguyễn Ngọc Thuần và Antoine de Saint-Exupéry đều mồ côi cha từ nhỏ, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người mẹ, cùng xuất thân từ trường mỹ thuật, xem viết văn là nghề tay trái (nghề chính là họa sĩ và phi công) và đều mang quan niệm thẩm mỹ đề cao văn chương duy mỹ, nhân văn.

2. Bản dịch tiếng Việt nào của "Hoàng tử bé" được tác giả chọn làm văn bản khảo sát chính và vì sao?
Bản dịch của dịch giả Trác Phong (Nhà xuất bản Hội nhà văn và Nhã Nam phát hành) được chọn làm văn bản chính vì đây là ấn bản đầu tiên tại Việt Nam được Nhà xuất bản Gallimard (Pháp) chính thức chuyển nhượng bản quyền nhân kỷ niệm 70 năm xuất bản tác phẩm, đảm bảo tính chuẩn xác về mặt văn bản học.

3. Khái niệm độ tuổi trẻ em được khóa luận tiếp cận từ các văn bản pháp lý nào?
Khóa luận đối chiếu Tuyên bố Geneva 1924, Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em 1989, Công ước ILO 138 (quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi) với hệ thống pháp luật Việt Nam gồm Pháp lệnh 1979 (dưới 15 tuổi), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và năm 2004 (công nhận công dân dưới 16 tuổi là trẻ em).

4. Khác biệt cơ bản nhất về chủ đề giữa hai tác phẩm được tác giả luận giải là gì?
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ tập trung vào chủ đề gia đình, khẳng định vai trò dìu dắt của cha mẹ đối với sự định hình nhân cách trẻ thơ trong không gian làng quê; trong khi Hoàng tử bé tập trung khai thác khoảng cách nhận thức, sự đối lập thế giới quan giữa trẻ con và người lớn cùng nỗi cô đơn hiện sinh.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Thị Thanh Hiền là công trình nghiên cứu văn học so sánh nghiêm cẩn, giải mã thành công các giá trị thi pháp tương đồng và dị biệt giữa Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ và Hoàng tử bé. Bằng việc kết hợp lý thuyết văn học thiếu nhi, phương pháp tiểu sử học và phân tích thi pháp, công trình đã làm sáng rõ cách thức hai tác giả sử dụng lăng kính trẻ thơ để chuyển tải những triết lý nhân sinh sâu sắc. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật và giảng dạy văn học thiếu nhi trong chương trình giáo dục phổ thông.