Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ô nhiễm rác thải nhựa (RTN) là một trong những thách thức môi trường cấp bách trên phạm vi toàn cầu do đặc tính phân hủy rất chậm trong điều kiện tự nhiên (từ 450 đến 1.000 năm). Khi trôi nổi hoặc tích tụ trong môi trường biển, rác thải nhựa gây tổn hại trực tiếp đến hệ sinh thái biển, phá hủy các rạn san hô, đe dọa sự sinh tồn của các loài sinh vật và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người qua chuỗi thức ăn.

Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.620 km, đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia ven biển, tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch biển. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của lượng khách du lịch cùng hoạt động kinh doanh dịch vụ ven biển đang đặt ra áp lực lớn lên công tác quản lý chất thải. Bãi biển Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa) là một trong những trọng điểm du lịch biển miền Bắc, tiếp đón hàng triệu lượt khách mỗi năm, dẫn đến khối lượng phát sinh rác thải nhựa ngày càng cao. Mặc dù vậy, công tác quản lý rác thải tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế: người dân và du khách chưa có thói quen phân loại rác tại nguồn, tình trạng xả rác bừa bãi ngoài bãi tắm vẫn diễn ra, hệ thống thu gom và năng lực hạ tầng xử lý rác thải chưa đáp ứng được lượng chất thải phát sinh thực tế.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tuyến được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nội dung nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng phát sinh và quản lý, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu rác thải nhựa, góp phần bảo vệ môi trường tại bãi biển Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
    • Mục tiêu cụ thể:
      1. Đánh giá được thực trạng rác thải nhựa và công tác quản lý rác thải nhựa tại bãi biển Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
      2. Đề xuất được hệ thống giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu và nâng cao hiệu quả quản lý rác thải nhựa tại địa phương.
  • Nội dung nghiên cứu:

    1. Nghiên cứu thực trạng phát sinh rác thải nhựa tại bãi biển Sầm Sơn (nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng theo ngày và sự biến động theo mùa du lịch).
    2. Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý rác thải nhựa tại bãi biển Sầm Sơn (bộ máy quản lý, phương thức thu gom, vận chuyển, hiện trạng xử lý và tác động môi trường).
    3. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rác thải nhựa (lượng khách du lịch, nhận thức - ý thức của người dân và du khách, điều kiện cơ sở hạ tầng, tài chính).
    4. Đề xuất các nhóm giải pháp quản lý và giảm thiểu rác thải nhựa tại bãi biển Sầm Sơn.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Rác thải nhựa phát sinh từ hoạt động sinh hoạt, kinh doanh dịch vụ và du lịch tại khu vực bãi biển Sầm Sơn.
    • Phạm vi không gian: Khu vực dân cư ven biển và toàn bộ dải bãi biển Sầm Sơn (trọng tâm là trục đường Hồ Xuân Hương, chia thành 3 phân đoạn: Bãi A đến Bãi B, Bãi B đến Bãi C, Bãi C đến Bãi D).
    • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2020 đến tháng 05/2020 (dữ liệu khảo sát và điều tra thực tế tập trung trong giai đoạn tháng 02 đến tháng 04 năm 2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý thuyết chuyên ngành Khoa học Môi trường và triển khai các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, điều tra xã hội học môi trường cụ thể:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:

    • Khái niệm về rác thải nhựa, chất thải nilon (chủ yếu là nhựa polyethylene - PE) và ô nhiễm chất dẻo.
    • Phân loại các polyme nhân tạo phổ biến: Polyethylene terephthalate (PET/PETE), Polyester (PES), Polyethylene (PE), High-density polyethylene (HDPE), Polyvinyl chloride (PVC), Polypropylene (PP), Polyamide (PA/nylon), Polystyrene (PS).
    • Khái niệm và cơ chế hình thành vi nhựa (microplastic - các hạt nhựa có kích thước dưới 5 mm), tác động thôi nhiễm của các phụ gia hóa học độc hại như Bisphenol-A (BPA), phthalate, chất chống cháy brôm, cùng nguy cơ phát sinh khí độc dioxin và furan khi thiêu đốt nhựa không đúng quy chuẩn kỹ thuật.
    • Các văn bản pháp luật, chính sách quản lý: Luật Bảo vệ môi trường; Chỉ thị 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; các quyết định, quy định của UBND tỉnh Thanh Hóa và UBND thị xã Sầm Sơn về phí vệ sinh môi trường và phân cấp quản lý chất thải rắn.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế đã sử dụng:

    • Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập các báo cáo thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Sầm Sơn từ Chi cục Thống kê và UBND thị xã; kế thừa số liệu quan trắc khối lượng, thành phần chất thải rắn sinh hoạt do Công ty CP Môi trường Đô thị và Dịch vụ Du lịch Sầm Sơn cung cấp. Do giai đoạn nghiên cứu (tháng 2 đến tháng 4/2020) trùng với đợt giãn cách phòng dịch Covid-19 khiến bãi biển tạm dừng đón khách, việc xác định tổng lượng rác dựa trên dữ liệu lưu trữ chính thức của đơn vị quản lý chuyên trách.
    • Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát hiện trạng hạ tầng kỹ thuật môi trường dọc trục đường ven biển Hồ Xuân Hương (từ Bãi A đến Bãi D), bao gồm: vị trí, số lượng, khoảng cách và diện tích các điểm tập kết rác; loại thùng rác (đơn hay nhiều ngăn); phương tiện xe gom đẩy tay, xe ép rác chuyên dụng; hiện trạng bãi chôn lấp rác thải tập trung tại phường Bắc Sơn.
    • Phương pháp điều tra bằng phiếu phỏng vấn: Thiết kế và phát 50 phiếu điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin về hành vi thải bỏ rác, đánh giá chất lượng dịch vụ thu gom, nhận thức phân loại rác và hiệu quả tuyên truyền. Cơ cấu mẫu khảo sát bao gồm:
      • 20 phiếu dành cho hộ gia đình sinh sống ven biển.
      • 20 phiếu dành cho khách du lịch.
      • 10 phiếu dành cho cán bộ, nhân viên quản lý môi trường và dịch vụ du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất thải nhựa, phân tích nguồn phát sinh (sinh hoạt đô thị, du lịch, thương mại, công nghiệp), đặc tính khó phân hủy của polyme và các tác động tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe con người.

Chương này cung cấp bức tranh tổng quan quốc tế và trong nước:

  • Thế giới: Đến năm 2015, toàn cầu đã sản xuất 8,3 tỷ tấn nhựa, thải ra 6,3 tỷ tấn rác nhựa (chỉ 9% được tái chế, 12% thiêu đốt, 79% chôn lấp hoặc thải trực tiếp ra môi trường). UNEP ước tính mỗi năm có 13 triệu tấn rác nhựa đổ ra đại dương, gây thiệt hại hệ sinh thái khoảng 13 tỷ USD. Tác giả phân tích kinh nghiệm quản lý của các quốc gia như Nhật Bản (phân loại nghiêm ngặt), Indonesia (đổi chai nhựa lấy vé xe buýt), Trung Quốc (tính phí túi nilon, đổi chai nhựa lấy vé tàu điện ngầm), Úc (máy thu hồi tự động) và Na Uy (tái chế 97% chai nhựa).
  • Việt Nam: Tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tăng mạnh từ 3,8 kg/năm (1990) lên 41,3 kg/năm (2018). Mỗi năm phát sinh khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó 0,28 - 0,73 triệu tấn thải ra biển (Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về lượng rác nhựa thải ra đại dương). 90% lượng rác nhựa tại Việt Nam được xử lý bằng hình thức chôn lấp và đốt thô sơ, tỷ lệ tái chế chỉ đạt 10%. Các công nghệ xử lý hiện hành (chôn lấp, thiêu đốt, tái chế) còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về công nghệ và hạ tầng.

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết mục tiêu nghiên cứu tổng quát và cụ thể; xác định 4 nội dung nghiên cứu trọng tâm; mô tả phạm vi không gian, thời gian và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, chương này thuyết minh quy trình áp dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính: kế thừa tài liệu lưu trữ từ cơ quan quản lý, khảo sát tuyến thực địa dọc đường Hồ Xuân Hương (Bãi A đến Bãi D) và quy trình điều tra xã hội học bằng 50 phiếu hỏi đối với 3 nhóm chủ thể (hộ dân, khách du lịch, cán bộ quản lý môi trường).

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 3 phân tích bối cảnh tự nhiên và kinh tế - xã hội của thị xã Sầm Sơn:

  • Vị trí địa lý và địa hình: Thị xã nằm ở phía đông tỉnh Thanh Hóa, cách TP Thanh Hóa 16 km, diện tích tự nhiên 1.788 ha. Địa hình chia làm 4 vùng: vùng triều ngập mặn, vùng cồn cát cao nội thị (700 ha), vùng ven biển (bãi tắm 150 ha, dốc thoải 2-5%) và khu vực núi Trường Lệ (cao nhất 76 m).
  • Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ trung bình năm 23°C (mùa hè 25-40°C, mùa đông 5-20°C); lượng mưa trung bình 1.600 - 1.900 mm/năm (85% lượng mưa tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11). Chế độ nhật triều đều, biên độ triều 1,2 - 1,6 m. Nguồn nước mặt từ sông Mã và sông Đơ (tổng lưu lượng 14 tỷ m³/năm) và nước ngầm tại khu vực ven biển đều chịu tác động xâm nhập mặn.
  • Kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế năm 2015 gồm Dịch vụ du lịch chiếm 71,85% (tổng giá trị 1.414 tỷ đồng; trong đó du lịch đạt 835 tỷ đồng, dịch vụ khác đạt 579 tỷ đồng); Nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 16,11% (317 tỷ đồng); Công nghiệp - xây dựng chiếm 12,04% (237 tỷ đồng). Năm 2018, Sầm Sơn đón 4,3 triệu lượt khách. Dân số năm 2009 là 62.050 người, mật độ dân số đạt 3.496 người/km² (gấp 10 lần mức trung bình toàn tỉnh Thanh Hóa).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh kết quả thu thập số liệu, khảo sát hiện trường và phân tích thực trạng:

  • Nguồn phát sinh và tải lượng: Rác thải nhựa phát sinh từ khoảng 1.080 hộ gia đình ven biển, 360 nhà hàng/khách sạn/resort và lượng du khách trung bình 4,8 triệu lượt/năm (riêng dịp 27-30/4/2019 đón khoảng 600.000 lượt khách). Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt toàn thị xã được thu gom về bãi rác đạt khoảng 100 tấn/ngày. Trong đó, thành phần chất dẻo, nhựa, nilon chiếm 8,88% (tương đương 8,88 tấn/ngày).
  • Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Sầm Sơn: Rác hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất (62,7%), chất dẻo/nhựa/nilon (8,88%), da/cao su/vải vụn (9,33%), xương/vỏ sò/ốc (10,77%), giấy/bìa carton (8,2%), gỗ/cành cây nhỏ (4,2%), thủy tinh/gạch đá/sành sứ (3,4%). Thành phần rác thải nhựa chủ yếu gồm túi nilon, vỏ chai nước tinh khiết/nước ngọt, vỏ hộp xốp đựng thức ăn, ống hút, thìa nhựa và đồ nhựa gia dụng hỏng.
  • Biến động theo thời gian: Khối lượng rác tăng đột biến vào mùa du lịch (từ cuối tháng 4). Các khách sạn 2-3 sao tại các phường trung tâm (Trường Sơn, Bắc Sơn, Trung Sơn) đón 150-200 lượt khách/ngày, thải ra 140-200 kg rác/khách sạn/ngày. Lượng rác tại nhà hàng, khách sạn phường Quảng Tiến tăng từ 70 kg/ngày (tháng 3) lên 100 kg/ngày (tháng 4); xã Quảng Cư tăng từ 60 kg/ngày (tháng 3) lên 70 kg/ngày (tháng 4).
  • Hiện trạng quản lý và phân loại: Thị xã chưa có quy định và cơ chế quản lý riêng đối với chất thải nhựa. 95% hộ gia đình được hỏi chỉ sử dụng 1 thùng chứa để đựng chung tất cả các loại rác thải; 70% nhận thức việc phân loại là quan trọng nhưng không thực hiện do địa phương vẫn thu gom chung và đưa đi chôn lấp hỗn hợp.
  • Hiện trạng thu gom và vận chuyển: Công ty CP Môi trường Đô thị và Dịch vụ Du lịch Sầm Sơn đảm nhiệm thu gom. Tuyến đường chính được bố trí 35-45 công nhân quét dọn trong ngày cao điểm (tần suất 4 lần/ngày) và 15 công nhân trong ngày thường. Đánh giá của du khách và người dân cho thấy 52,5% ý kiến nhận xét công tác thu gom còn chưa hợp lý; 85% du khách được khảo sát có hành vi xả rác nhựa không đúng nơi quy định ngoài bãi biển.
  • Hạ tầng xử lý: Toàn bộ rác thải thu gom được vận chuyển về bãi rác tập trung duy nhất tại phường Bắc Sơn với diện tích 2,7 ha, công suất thiết kế 50 m³/ngày đêm (tương đương 25 tấn/ngày đêm). Thực tế bãi rác đang tiếp nhận 100 tấn/ngày đêm (vượt tải gấp 4 lần công suất thiết kế), công nghệ xử lý hoàn toàn là chôn lấp thô sơ và đốt hở, rác tràn ra đường nội bộ, nước rỉ rác không được xử lý triệt để gây ô nhiễm môi trường xung quanh.
  • Tài chính môi trường: Nguồn thu phí vệ sinh môi trường từ các hộ gia đình và cơ sở kinh doanh đạt 3,386 tỷ đồng/năm. Hằng năm, ngân sách thành phố Sầm Sơn phải cấp bù 5,403 tỷ đồng/năm để duy trì hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: (1) Triển khai mô hình phân loại chất thải tại nguồn; (2) Tối ưu hóa mạng lưới, thời gian và tăng tần suất thu gom, vận chuyển; (3) Cải tiến tổ chức bộ máy và nâng cao trách nhiệm giám sát; (4) Đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi hành vi tiêu dùng (khuyến khích bình nước cá nhân, túi vải, ống hút thân thiện môi trường, thiết kế tờ rơi tuyên truyền); (5) Tăng cường đầu tư tài chính và đổi mới công nghệ xử lý; (6) Hoàn thiện cơ chế chính sách và chế tài xử phạt vi phạm xả rác.

Chương 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Chương 5 tóm lược các kết quả chính về tải lượng rác thải nhựa tại Sầm Sơn (8,88 tấn/ngày), chỉ rõ các tồn tại cốt lõi: ý thức cộng đồng còn thấp, thiếu thùng rác phân loại chuyên biệt ngoài bãi biển, bãi chôn lấp Bắc Sơn quá tải trầm trọng và thiếu nguồn vốn đầu tư công nghệ xử lý tiên tiến. Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với UBND thị xã Sầm Sơn, Công ty Môi trường và các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch nhằm thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý bền vững.

Kết quả và đóng góp

  • Bảng tổng hợp số liệu nghiên cứu chính:
Chỉ tiêu / Thành phần Giá trị định lượng Ghi chú / Nguồn số liệu
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ~100 tấn/ngày Công ty CP Môi trường Đô thị và Dịch vụ Du lịch Sầm Sơn
Khối lượng rác thải nhựa, nilon phát sinh 8,88 tấn/ngày Chiếm 8,88% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt
Tỷ lệ thành phần rác hữu cơ 62,7% Thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất
Diện tích và công suất thiết kế bãi rác Bắc Sơn 2,7 ha; 25 tấn/ngày đêm Tiếp nhận thực tế 100 tấn/ngày đêm (quá tải 4 lần)
Tỷ lệ hộ gia đình dùng chung 1 thùng rác 95,0% Khảo sát điều tra thực tế (n = 20 hộ dân)
Tỷ lệ du khách xả rác nhựa không đúng quy định 85,0% Khảo sát điều tra thực tế (n = 20 du khách)
Đánh giá công tác thu gom "không hợp lý" 52,5% Ý kiến trung bình của hộ dân và du khách
Đánh giá điểm tập kết rác "chưa hợp lý" 70,0% Khảo sát người dân (do quá gần khu dân cư)
Tổng thu phí vệ sinh môi trường 3,386 tỷ đồng/năm Báo cáo tài chính môi trường địa phương
Kinh phí ngân sách thành phố phải cấp bù 5,403 tỷ đồng/năm Cấp bù cho hoạt động thu gom, vận chuyển
  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

    1. Phân loại tại nguồn: Bố trí hệ thống thùng rác 2-3 ngăn (hữu cơ, tái chế, rác khác) tại các hộ dân, khách sạn và dọc bãi biển Hồ Xuân Hương; hỗ trợ túi đựng rác chuyên màu để tạo thuận lợi cho khâu phân loại.
    2. Thu gom và vận chuyển: Bổ sung công nhân và thùng rác cơ động ngoài bãi cát trong các khung giờ cao điểm tắm biển; điều chỉnh tần suất thu gom và phân định tuyến xe vận chuyển hợp lý, tránh ùn tắc vào giờ du lịch.
    3. Tổ chức và cơ chế chính sách: Tăng cường vai trò giám sát của Phòng Tài nguyên và Môi trường; áp dụng chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi vứt rác bừa bãi tại bãi biển; điều chỉnh mức thu phí vệ sinh môi trường đối với các cơ sở kinh doanh quy mô lớn để giảm gánh nặng bù lỗ từ ngân sách.
    4. Tuyên truyền và giáo dục: Phát hành tờ rơi, pano áp phích tuyên truyền trực quan tại các lối xuống bãi tắm; vận động nhà hàng, khách sạn cam kết thay thế đồ nhựa dùng một lần bằng ống hút giấy/tre, túi vải, túi giấy tự hủy.
    5. Đầu tư công nghệ: Quy hoạch đóng cửa hoặc nâng cấp bãi chôn lấp Bắc Sơn; kêu gọi đầu tư dây chuyền phân loại tự động và công nghệ thiêu đốt thu hồi năng lượng hợp chuẩn.
  • Đóng góp của khóa luận:

    • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ thành phần chất thải rắn và tải lượng phát sinh rác thải nhựa tại một đô thị du lịch biển có tính chu kỳ mùa vụ rõ rệt.
    • Lượng hóa được mức độ quá tải hạ tầng xử lý (bãi rác Bắc Sơn vượt tải 400%) và sự chênh lệch tài chính công (ngân sách bù lỗ 5,403 tỷ đồng/năm so với mức thu 3,386 tỷ đồng/năm).
    • Đề xuất khung giải pháp quản lý tích hợp giữa kỹ thuật môi trường, tổ chức kinh tế và truyền thông xã hội phù hợp với điều kiện thực tế của thị xã Sầm Sơn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:

    • Thời gian nghiên cứu thực địa từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2020 trùng với giai đoạn bùng phát dịch Covid-19, bãi biển Sầm Sơn dừng các hoạt động đón khách tham quan và tắm biển, do đó tác giả không thể trực tiếp tiến hành lấy mẫu và cân đo cơ lý thành phần rác thải nhựa ngoài thực địa bãi tắm mà phải sử dụng số liệu kế thừa từ Công ty môi trường.
    • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế (tổng số 50 phiếu hỏi), tập trung chủ yếu trên trục đường Hồ Xuân Hương nên tính đại diện thống kê cho toàn bộ các phường, xã ngoại vi của thị xã chưa cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng việc đo đạc, lấy mẫu và phân tích thành phần cơ học của rác thải nhựa trực tiếp tại bãi cát theo các lát cắt không gian và thời gian khi hoạt động du lịch vận hành ở trạng thái bình thường.
    • Tăng quy mô mẫu khảo sát đối với toàn bộ các cơ sở lưu trú, hộ kinh doanh dịch vụ ẩm thực và áp dụng mô hình toán dự báo tải lượng phát sinh chất thải nhựa theo các kịch bản tăng trưởng du khách trong tương lai.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:

    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Đô thị và Du lịch bền vững.
    • Cán bộ chuyên trách tại các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường (Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện/thị xã) và các công ty dịch vụ công ích môi trường đô thị.
  • Nội dung đáng tham khảo:

    • Phương pháp thiết kế bảng hỏi và tổ chức điều tra xã hội học môi trường kết hợp khảo sát tuyến đối với khu vực du lịch ven biển.
    • Cấu trúc phân tích chuỗi quản lý chất thải rắn (từ nguồn phát sinh, thu gom, vận chuyển đến bãi chôn lấp tập trung) và phương pháp đánh giá cân đối tài chính trong công tác quản lý dịch vụ môi trường đô thị.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ rác thải nhựa trong tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Sầm Sơn là bao nhiêu?
Theo số liệu quan trắc của Công ty CP Môi trường Đô thị và Dịch vụ Du lịch Sầm Sơn được trình bày trong khóa luận, chất dẻo, nhựa và nilon chiếm tỷ lệ 8,88% trong tổng số khoảng 100 tấn chất thải rắn sinh hoạt phát sinh mỗi ngày, tương đương khối lượng phát sinh là 8,88 tấn rác nhựa/ngày.

2. Bãi rác tập trung duy nhất tại thị xã Sầm Sơn có hiện trạng vận hành như thế nào?
Bãi rác tập trung đặt tại phường Bắc Sơn với quy mô diện tích 2,7 ha, công suất thiết kế ban đầu là 50 m³/ngày đêm (tương đương 25 tấn rác/ngày đêm). Tuy nhiên, bãi rác đang phải tiếp nhận toàn bộ 100 tấn rác/ngày đêm của thị xã (quá tải gấp 4 lần), quy trình xử lý chủ yếu là chôn lấp cơ học và để phân hủy hoặc đốt tự nhiên, rác thải tràn ra cả đường nội bộ và phát sinh nguy cơ ô nhiễm thứ cấp từ nước rỉ rác.

3. Mức độ tuân thủ việc phân loại rác tại nguồn của các hộ gia đình ven biển Sầm Sơn đạt kết quả ra sao?
Kết quả khảo sát 20 hộ gia đình cho thấy 95% số hộ chỉ có 1 thùng chứa đựng chung tất cả các loại rác thải. Dù 70% số người được hỏi nhận thức được tầm quan trọng của việc phân loại, họ vẫn không thực hiện do địa phương chưa có hệ thống thu gom riêng biệt và rác vẫn bị dồn chung khi vận chuyển về bãi chôn lấp.

4. Khung lệ phí thu gom rác thải áp dụng tại thị xã Sầm Sơn được quy định như thế nào?
Mức thu lệ phí vệ sinh môi trường theo báo cáo của Công ty môi trường gồm: Hộ không kinh doanh dịch vụ đóng 12.000 đồng/tháng; Hàng thực phẩm tươi sống đóng 15.000 đồng/tháng; Hàng tạp hóa đóng 18.000 đồng/tháng; Các hộ kinh doanh theo thuế môn bài đóng từ 35.000 đến 80.000 đồng/tháng tùy theo bậc thuế.

5. Tại sao tác giả khóa luận phải kế thừa số liệu khối lượng chất thải thay vì tự đo đạc trực tiếp ngoài bãi biển?
Trong khoảng thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu thực địa (tháng 2 đến tháng 4 năm 2020), cả nước thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19, bãi biển Sầm Sơn không mở cửa đón khách tham quan. Do đó, tác giả bắt buộc phải kế thừa số liệu thống kê thành phần và khối lượng rác thải chính thức do Công ty CP Môi trường Đô thị và Dịch vụ Du lịch Sầm Sơn lưu trữ và cung cấp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tuyến đã phản ánh bức tranh thực trạng về sự gia tăng chất thải nhựa tại bãi biển Sầm Sơn với tải lượng 8,88 tấn/ngày và chỉ rõ điểm nghẽn nghiêm trọng khi bãi chôn lấp Bắc Sơn bị quá tải gấp 4 lần công suất thiết kế. Nghiên cứu đã làm rõ mối liên hệ giữa thói quen xả rác, sự thiếu hụt hạ tầng phân loại tại nguồn và gánh nặng ngân sách cấp bù môi trường của địa phương. Hệ thống giải pháp đồng bộ từ phân loại, tối ưu hóa thu gom đến hoàn thiện cơ chế tài chính và tuyên truyền được đề xuất có giá trị thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển du lịch biển bền vững tại tỉnh Thanh Hóa.