CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ CỦA TOÀ ÁN ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ CỦA TOÀ ÁN ĐỐI VỚI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về các biện pháp hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm của trọng tài thương mại 1.
Khái niệm Trong từ điển tiếng Việt, trọng tài được hiểu là “người được cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp”. Trong lĩnh vực kinh tế, trọng tài được định nghĩa là “một phương thức hoà bình để xử lý tranh chấp, trong đó các bên tranh chấp đồng thuận lựa chọn một bên thứ ba độc lập, có uy tín và năng lực để đưa ra phán quyết cuối cùng. Phán quyết này sẽ có giá trị ràng buộc, bắt buộc các bên tranh chấp phải tuân thủ và thực hiện”3. Theo quan điểm của Luật Mẫu UNCITRAL, “trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực”4.
Trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam đã cung cấp định nghĩa về TTTM. Pháp lệnh TTTM năm 2003 có quan điểm như sau: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thoả thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định”5. Qua nhiều năm học hỏi và nhằm phục vụ công cuộc hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam, tiếp nối và phát triển Pháp lệnh TTTM năm 2003, LTTTM 2010 được thông qua và ban hành, trong đó đã đưa ra định nghĩa: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”6. Nói cách khác, TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên trong tranh chấp thoả thuận trao quyền cho trọng tài xem xét, phân xử vụ việc của mình và trọng tài sẽ đưa ra quyết định cuối cùng.
Dù có nhiều định nghĩa hay quan điểm về TTTM nhưng vai trò của TTTM thường được nhìn nhận là một phương thức giải quyết tranh chấp độc lập với quyền lực 3 Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Huy Lân, Trần Đức Hậu (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường, NXB Từ điển Bách Khoa, tr. 4 Điều 2 Luật Mẫu UNCITRAL. 5 Khoản 1 điều 2 Pháp lệnh TTTM năm 2003. 6 Khoản 1 Điều 3 LTTTM năm 2010.
7 của Nhà nước. Hoàn toàn dựa trên thoả thuận giữa các chủ thể trong tranh chấp để giải quyết mâu thuẫn và là sự đảm bảo cho quyền tự quyết của cả hai bên đều có quyền tự quyết như nhau và bình đẳng với nhau. Đặc điểm TTTM với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại có các đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, TTTM chỉ giải quyết tranh chấp trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Liên quan đến các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền của TTTM ở Việt Nam, một nội dung đã được bảo lưu khi nước ta gia nhập Công ước New York 1958 đó là “sẽ chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại”7.
Theo đó, Điều 2 LTTTM 2010 quy định các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TTTM, gồm: - Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại. Cụ thể, các bên tranh chấp là thương nhân khi kí kết các hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng trong các hoạt động đầu tư, xúc tiến thương mại, đấu thầu,. có hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ với đối tác khiến nảy sinh mâu thuẫn, từ đó phát sinh tranh chấp. Theo Báo cáo thường niên năm 2023 của VIAC, các loại tranh chấp được giải quyết tại trung tâm này là tranh chấp về kinh doanh bất động sản, mua bán hàng hoá, xây dựng và hoạt động cho thuê/cho vay,…8.
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại. Nhằm thực hiện chủ trương “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, trọng tài; toà án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó” của Ban Chấp hành Trung ương năm 2005, LTTTM 2010 đã cho phép TTTM giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại9. Quy định này đã được mở rộng hơn so với quy định trước đó tại Pháp lệnh TTTM năm 2003 rằng TTTM chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp pháp sinh trong hoạt động thương mại10. Cụ thể, tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại như uỷ thác thương mại hay môi giới thương mại, chỉ có một bên là thương 7 Nguyễn Ngọc Diệp (2016), Mối quan hệ pháp lý giữa Trọng tài thương mại và Toà án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
8 VIAC (2024), Báo cáo thường niên 2023, tr. 9 Bùi Hữu Toàn (2023), “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại và Toà án ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Khoa học Việt Nam, Số 7 (2023), tr. 10 Điều 1 Pháp lệnh TTTM năm 2003. 8 nhân và bên còn lại là tổ chức, cá nhân không có đăng kí kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của TTTM.
- Tranh chấp khác giữa các bên mà phát luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Các loại “tranh chấp khác” này để được xác định là có thể được giải quyết bằng TTTM thì cần phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật rằng có quyền áp dụng biện pháp giải quyết tranh chấp bằng TTTM, ví dụ: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009, 2019, 2022), tranh chấp về hợp đồng xây dựng quy định tại Điều 146 Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi năm 2020),… Các quy định này đã mở rộng phạm vi thẩm quyền giải quyết của TTTM, phù hợp với xu hướng chung của thế giới và đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế về việc sử dụng trọng tài trong giải quyết các tranh chấp thương mại. Thứ hai, TTTM chỉ giải quyết tranh chấp khi có yêu cầu của các bên tranh chấp. Thẩm quyền của trọng tài không tự nhiên sinh ra và có hiệu lực mà cần phải được các bên thoả thuận chỉ định rằng việc giải quyết tranh chấp sẽ do TTTM đảm đương.
Trọng tài giải quyết tranh chấp không dựa trên quyền lực nhà nước mà dựa trên “quyền lực đại diện” do các bên tranh chấp giao phó, uỷ nhiệm. Được thể hiện bằng một văn bản Thoả thuận trọng tài. Thoả thuận trọng tài phải phản ánh ý chí thực sự của các bên trong tranh chấp, chỉ khi các bên tự nguyện và đồng ý giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài và có thoả thuận hợp pháp, trọng tài mới có thẩm quyền giải quyết. Khoản 1 Điều 7 Luật Mẫu UNCITRAL quy định về khái niệm thoả thuận trọng tài như sau: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận theo đó các bên có quyền quyết định sẽ đưa mọi tranh chấp hoặc một số tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa các bên về một quan hệ pháp lý nhất định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng”.
Theo Điều II Công ước New York 1958, “Mỗi quốc gia thành viên sẽ công nhận một thoả thuận bằng văn bản, theo đó các bên cam kết đưa ra Trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài”. Thứ ba, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục tố tụng chặt chẽ. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên trong tranh chấp phải tôn trọng theo đúng trình tự, thủ tục nêu tại LTTTM 2010, Điều lệ và Quy tắc 9 tố tụng của tổ chức trọng tài quy định. Thứ tư, phán quyết cuối cùng của trọng tài đảm bảo sự kết hợp linh hoạt giữa hai yếu tố: thoả thuận và tài phán.
Dựa trên nền tảng tôn trọng sự thoả thuận của các bên đương sự, đảm bảo quyền tự định đoạt cao nhất của các bên, trọng tài xem xét, cân nhắc và đưa ra phán quyết cuối cùng nhân danh và vì lợi ích của các bên tranh chấp, phán quyết này là chung thẩm, có hiệu lực thi hành ngay. Do vậy, phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM chỉ phụ thuộc vào loại tranh chấp và sự lựa chọn của các bên trong tranh chấp, không phụ thuộc vào lãnh thổ hay cấp xét xử. Phương thức này tôn trọng và đề cao thoả thuận của các bên, giải quyết tranh chấp vì lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong tranh chấp. Đây là ưu điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với giải quyết tranh chấp bằng Toà án.
Các hình thức trọng tài thương mại TTTM tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực (trọng tài quy chế). * Trọng tài vụ việc Trọng tài vụ việc là một hình thức trọng tài được quản lý theo những quy tắc trọng tài do chính các bên trong tranh chấp tham gia trọng tài xây dựng nên. Các bên được tự do thoả thuận về các quy tắc tố tụng mà không buộc phải tuân theo một quy tắc tố tụng trọng tài nào. Các bên có quyền thoả thuận về cách thức bổ nhiệm trọng tài viên, địa điểm trọng tài, luật điều chỉnh quá trình trọng tài, ngôn ngữ trọng tài,… Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động trong thời gian giải quyết vụ tranh chấp và sẽ tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong vụ tranh chấp và kết thúc quá trình xét xử.
Trọng tài vụ việc có các đặc trưng cơ bản sau: - Chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự giải tán khi giải quyết xong tranh chấp. - Không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên. - Không có quy tắc tố tụng dành riêng, do vậy các bên tranh chấp có thể thoả thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào mà thông thường là quy tắc tố tụng của các Trung tâm trọng tài có uy tín trong nước và quốc tế.