Khóa luận tốt nghiệp Luật: tốt nghiệp luật học pháp luật lao động việt nam

Khóa luận phân tích pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người lao động trong nền kinh tế chia sẻ, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2025

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tính cấp thiết của bảo đảm quyền lợi người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ

Mô hình kinh tế chia sẻ đã trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số tại Việt Nam. Sự xuất hiện của các nền tảng công nghệ như Grab, GoJek, Shopee, Airbnb đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới với tính linh hoạt cao hơn so với mô hình lao động truyền thống. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đáng ghi nhận, mô hình này cũng đặt ra nhiều thách thức lớn liên quan đến bảo đảm quyền lợi của người lao động. Người lao động trong mô hình này thường không được hưởng các quyền lợi lao động cơ bản như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ nghỉ ngơi. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu pháp luật bảo đảm quyền lợi người lao động nằm ở sự cần thiết phải bảo vệ lợi ích của những người lao động này trong bối cảnh họ đóng vai trò quan trọng nhưng thiếu bảo vệ pháp lý.

1.1. Định nghĩa mô hình kinh tế chia sẻ và đặc điểm của nó

Mô hình kinh tế chia sẻ là hình thức kinh tế hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ số, cho phép cá nhân và tổ chức chia sẻ tài nguyên, dịch vụ để tạo giá trị kinh tế. Đặc điểm chính là tính linh hoạt cao, chi phí hoạt động thấp, và sự gắn kết trực tiếp giữa nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng thông qua ứng dụng di động. Những người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ thường được phân loại là độc lập hoặc gig workers, không phải nhân viên chính thức của nền tảng.

1.2. Sự cần thiết bảo đảm quyền lợi người lao động

Bảo đảm quyền lợi người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ là yêu cầu cấp bách nhằm bảo vệ những người làm việc trên các nền tảng số. Họ cần được bảo vệ trước những rủi ro như tai nạn lao động, bệnh tật, thất nghiệp và phải có quyền tiếp cận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Việc hoàn thiện pháp luật lao động để áp dụng cho mô hình kinh tế chia sẻ giúp cân bằng lợi ích giữa các nền tảng công nghệ và người lao động.

II. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền lợi người lao động

Hiện nay, pháp luật lao động Việt Nam chưa có quy định riêng biệt cho mô hình kinh tế chia sẻ, dẫn đến tình trạng pháp lý không rõ ràng. Luật Lao động hiện hành áp dụng chủ yếu cho hợp đồng lao động truyền thống, nhưng người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ thường không được xem là nhân viên chính thức. Điều này khiến họ bị bỏ lọt khỏi các biện pháp bảo vệ pháp lý. Các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ nghỉ ngơi, mức lương tối thiểu không được áp dụng đầy đủ. Tình trạng này gây ra những vấn đề pháp lý nghiêm trọng khi người lao động gặp tai nạn hoặc mất khả năng lao động nhưng không có bảo vệ pháp lý.

2.1. Các quyền lợi cơ bản của người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ

Người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ cần được bảo đảm các quyền lợi cơ bản bao gồm: quyền được trả lương công bằng, quyền tiếp cận bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, quyền được bảo vệ khỏi tai nạn lao động, quyền được hưởng chế độ nghỉ ngơi và phúc lợi. Hiện nay, nhiều người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ không được hưởng đầy đủ các quyền lợi này.

2.2. Những tồn tại và hạn chế trong pháp luật hiện hành

Pháp luật lao động Việt Nam hiện nay có những hạn chế lớn trong việc bảo vệ người lao động mô hình kinh tế chia sẻ. Các biện pháp bảo vệ trong Luật Lao động chủ yếu dành cho hợp đồng lao động chính thức, không áp dụng cho gig workers. Cần hoàn thiện pháp luật để tạo ra khung pháp lý rõ ràng, bảo vệ đầy đủ quyền lợi người lao động.

III. Nguyên tắc và nội dung pháp luật bảo đảm quyền lợi người lao động

Pháp luật bảo đảm quyền lợi người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật lao động quốc tế và điều kiện của Việt Nam. Các nguyên tắc chính bao gồm: nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cơ bản, nguyên tắc công khai và minh bạch. Nội dung pháp luật bảo đảm quyền lợi cần quy định rõ ràng về: mức lương tối thiểu, giờ làm việc hợp lý, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo vệ khỏi tai nạn lao động, quyền cơ结社. Những quy định này giúp tạo ra khung pháp lý công bằng cho cả nền tảng và người lao động.

3.1. Các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật bảo đảm quyền lợi

Pháp luật bảo đảm quyền lợi người lao động cần dựa trên các nguyên tắc: nguyên tắc bảo vệ lợi ích người lao động, nguyên tắc bình đẳng giữa nền tảng và lao động, nguyên tắc công bằng và minh bạch. Điều này đảm bảo rằng quyền lợi người lao động được bảo vệ toàn diện từ khía cạnh thu nhập, bảo hiểm xã hội đến điều kiện làm việc an toàn.

3.2. Nội dung chính của pháp luật bảo đảm quyền lợi

Nội dung pháp luật cần quy định: cơ chế xác định mức lương công bằng, bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế nhân dân, bảo vệ khỏi tai nạn lao động và bệnh tật, quyền được hưởng chế độ nghỉ ngơi. Ngoài ra, cần có quy định về tranh chấp lao động, thủ tục giải quyết tranh chấp và cơ chế khiếu nại.

IV. Hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện

Để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền lợi người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ, cần thực hiện những bước cụ thể. Trước hết, cần sửa đổi Luật Lao động để bao gồm các người lao động mô hình kinh tế chia sẻ, quy định rõ địa vị pháp lý của họ. Thứ hai, cần ban hành những quy định bổ sung về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho gig workers. Thứ ba, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật lao động của các nền tảng công nghệ. Cuối cùng, cần nâng cao nhận thức của người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Những giải pháp này sẽ giúp bảo đảm quyền lợi người lao động một cách toàn diện và công bằng.

4.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Cần sửa đổi Luật Lao động Việt Nam để công nhận địa vị pháp lý của người lao động mô hình kinh tế chia sẻ, quy định rõ về quyền lợi cơ bảnnghĩa vụ của nền tảng. Ban hành Bộ luật Lao động mới hoặc Pháp luật chuyên biệt về bảo đảm quyền lợi người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ. Cần có quy định cụ thể về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo vệ tai nạn lao động.

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật lao động của các nền tảng công nghệ. Nâng cao nhận thức pháp luật cho người lao động, nền tảng và cơ quan quản lý. Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp lao động hiệu quả. Hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động mô hình kinh tế chia sẻ.

12/12/2025
Khóa luận tốt nghiệp luật học pháp luật lao động việt nam về bảo đảm quyền lợi của người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số van đề lý luận về bảo đảm quyền lợi của người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ và pháp luật về bao đảm quyền lợi của người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ. - Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về bao dam quyền lợi của người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ. - Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về vê bảo đảm quyên lợi của người lao động trong mô hình kinh tê chia sẻ. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BAO DAM QUYEN LỢI CUA NGƯỜI LAO DONG TRONG MO HINH KINH TE CHIA SE VA PHAP LUAT VE BAO DAM QUYEN LOI CUA NGUOI LAO DONG TRONG MO HINH KINH TE CHIA SE 1.

Một số van dé lý luận về bảo đám quyền lợi của người lao động trong mô hình kinh tế chia sé 1. Khái quát chung về mô hình kinh té chia sé 1. Khái niệm mô hình kinh tế chia sẻ Thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” (sharing economy) đã xuất hiện từ lâu trên thế gidi. Theo dòng chảy lich sử, các nền kinh tế dựa trên sự chia sẻ và đối ứng đã tồn tại trước chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Karl Polanyi, vào năm 1944, trong bai viết “The Great Transformation” đã mô tả các xã hội sơ khai vận hành dựa trên nguyên tắc “đối ứng và phân phối lại”, nơi mà các cộng đồng chia sẻ tài nguyên nhằm đám bao sự tồn tại chung.! Trong các cộng đồng nông nghiệp và bộ lạc, hàng hóa được trao đổi thông qua hệ thống hàng đối hàng, và quyền sở hữu chung là một thực tiễn phổ biến. Trong thời kỳ trung cổ, các phường hội (guilds) và hợp tác xã đóng vai trò quan trọng trong trao đổi kinh tế. Các phường hội hoạt động như những mạng lưới có cấu trúc, trong đó các thành viên chia sẻ kỹ năng, tài nguyên và hỗ trợ lẫn nhau.? Tương tự, hợp tác xã xuất hiện vào thế kỷ XIX như một phản ứng đối với công nghiệp hóa, cho phép người lao động và người tiêu dùng cùng sở hữu doanh nghiệp.” Các mô hình hợp tác này phản ánh nguyên tắc sở hữu chung và lợi ích tập thể, đặt nền tảng cho kinh tế chia sẻ hiện đại. Tiếp đó, giai đoạn cuối thé kỷ XX chứng kiến những tiễn bộ công nghệ quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức chia sẻ mới.

Sự phát triển của Internet đã thúc day mô hình trao đôi ngang hang (peer-to-peer - P2P), đặt nên móng cho các nền tang chia sé kỹ thuật số. Nền tang thị trường P2P trực tuyến quy mô lớn đầu tiên có thé kê đến eBay, được thành lập tại Hoa Kỳ vào năm 1995. Thời điểm này, sự ra ! Polanyi, K. (1944), The Great Transformation, Beacon Press.

(1913), The Evolution of Modern Capitalism, Walter Scott Publishing. (1994), The Meaning of Rochdale: The Rochdale Pioneers and the Co-operative Principles, University of Saskatchewan. 7 đời của eBay đặt nền móng bắt đầu cho một loại hình kinh doanh mới, nơi mà người mua và người bán độc lập có thể khai thác giá trị tài sản của mình dé thu lợi nhuận thông qua một cộng đồng “ảo”. Tiếp đó là sự xuất hiện lần lượt của Craigslist - một nền tảng giao vặt trực tuyến, được thiết lập như một hệ thống bán hàng, trao đổi hàng hóa và dịch vụ phi chính thức dành cho những cá nhân có nhu cầu quảng bá, buôn bán sản phẩm, dịch vụ của mình; và Napster - một nền tảng chia sẻ âm nhạc ngang hàng với triết lý “T6i cân.”) cho phép người dùng oF chia sẻ các tệp nhạc chất lượng cao hoàn toàn miễn phí, làm lung lay nền tảng của ngành công nghiệp âm nhạc truyền thông .,5 Tới những năm 2010, mô hình kinh tế chia sẻ được mở rộng nhanh chóng nhờ sự thúc đây của các nền tang như Uber, Airbnb và TaskRabbit.

Arun Sundararajan vào năm 2016 đã mô ta sự chuyên dịch này là “chủ nghĩa tư ban dựa trên đám đông” (crowd-based capitalism), trong đó các thị trường do công nghệ hỗ trợ đã tạo điều kiện cho việc chia sé tài nguyên chưa được sử dụng một cách rộng rãi." Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này cũng kéo theo những thách thức về mặt pháp lý, đặc biệt đối với thị trường lao động và quan hệ lao động. Các nền tảng kinh tế Gig (Gig economy)’ bị chỉ trích vì không coi những người làm việc cho mình là người lao động mà phân loại họ là các nhà thầu độc lập, lam day lên lo ngại về tính ồn định công việc và quyên lợi cơ bản đối với người lao động.Š Qua các thời kỳ, thuật ngữ kinh tế chia sẻ còn được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: kinh tế cộng tác, kinh tế theo cầu, kinh tế truy cập, kinh tế đựa trên các ứng dụng di động,. Hiện nay, có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về kinh tế chia sẻ. Có thé ké đến như: Mô hình kinh tế chia sẻ là các hoạt động chia sẻ, trao đổi nguồn lực chưa được sử dụng hay sử đụng không hết thông qua nền tang số.

The Cathedral and the Bazaar. 5 Esther Martos-Carrién, Cristina Miguel (2022), “The Sharing Economy: History, definitions and related concepts”, Book: The Sharing Economy and the Tourism Industry: Perspectives, Opportunities and Challenges, Chapter: 2, Publisher: Goodfellow Publishers. (2016), The Sharing Economy: The End of Employment and the Rise of Crowd-Based Capitalism, MIT Press. 7 Kinh tế Gig (Gig economy) là một hệ thống kinh tế trong đó lực lượng lao động, được gọi là người lao động Gig (Gig workers), tham gia vào các công việc tự do (freelance) và/hoặc việc làm ngắn hạn bên lề (side- employment).

(2017), Uberworked and Underpaid: How Workers Are Disrupting the Digital Economy, Polity Press. 8 Công nghệ số giúp kết nối nhu cầu chia sẻ nguồn lực nhàn rỗi và nhu cầu sử dụng nguồn lực đó một cách chính xác, hiệu quả, nhanh chóng và chi phí thấp. Mô hình kinh tế chia sẻ là một hệ thống kinh tế mà ở đó tài sản hoặc dich vụ được chia sẻ dùng chung giữa các cá nhân, hoặc không phải trả tiền hoặc không trả một khoản phí, với tính chất điển hình là thông qua các công cụ Internet.!° Mô hình kinh tế chia sẻ có thể có nhiều hình thức nhưng hiện nay thường có điểm chung là sử dụng công nghệ thông tin từ đó cho phép tối ưu hóa các nguồn lực thông qua sự tái phân phối, chia sẻ và tái sử dụng các năng lực dư thừa hàng hóa và dịch vụ. Nói một cách đơn giản, đó là việc sử dụng công nghệ để tạo thuận lợi cho việc trao đổi quyền truy cập hàng hóa hoặc dịch vụ giữa hai hoặc nhiều bên.

Nó bắt nguồn tử khái niệm rằng các bên có thé chia sẻ giá trị từ một kỹ năng hoặc tài sản không được tận dụng. Việc trao đổi giá trị này xảy ra thông qua một thị trường chia sẻ, nền tang cộng tác hoặc ứng dụng ngang hàng. Như vậy, chúng ta có thể hiểu: “Kinh té chia sẻ là mô hình kinh tế trong đó các cá nhân và tô chức sử dụng nên tảng công nghệ số để kết nối và tối uu hóa việc trao đổi, sử dụng chung các nguon lực chưa được tận dụng hết. Thông qua các nên táng trực tuyến, mô hình này cho phép các bên tham gia có thé chia sẻ quyền tiếp cận và sứ dụng hàng hóa, dịch vụ hay kỹ năng một cách nhanh chóng, hiệu quả với chỉ phí thấp, từ đó tạo ra giá trị cho tắt cả các bên tham gia.

” Theo phương pháp phân loại dựa theo hình thức người sở hữu tài sản và người quyết định giá, mô hình kinh tế chia sẻ được chia ra làm ba loại chính: mô hình nền tang tập trung (đơn vi cung cấp nên tảng vừa sở hữu tài sản, vừa quyết định giá thành dịch vụ), mô hình nền tảng phi tập trung (đơn vị cung cấp nên tang chỉ tao ra môi trường kết nối, người cung cấp dịch vụ là người sở hữu tài sản và cũng là người quyết định giá thành dịch vụ) và mô hình nền tảng hỗn hợp (chủ tài sản cung cấp dịch vụ với giá do nền tang đưa ra và nền tang cũng đóng một phan vai trò trong việc dam bảo chất lượng sản phẩm được cung ứng ra ngoài thị trường) ? Phạm Khánh Nam (2021), “Mô hình kinh tế chia sẻ: Các van dé quản lý ở Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế tp. Hồ Chí Minh. 1© Đỗ Thi Nhung (2018), “Phát triển mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam và một số đề xuất”, Tạp chí Tài chính: http://tapchitaichinh. vn/nghiencuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/phat-trien-mohinh-kinh-te-chia-se-o-viet- nam-va-mot-so-dexuat- 139063.

Đặc trưng của mô hình kinh tế chia sẻ Kinh tế chia sẻ là một mô hình thị trường kết hợp giữa sở hữu và chia sẻ, trong đó đề cập đến vai trò ngang hàng đựa trên sự chia sẻ quyền sử đụng hàng hóa và dịch vụ nhằm gia tăng lợi ích cho các bên tham gia. Các bên tham gia dịch vụ kinh tế chia sẻ gồm: Người cung cấp tài sản - dịch vụ và người sử dụng tài sản dịch vụ được hưởng lợi từ lợi ích kinh tế theo quy mô mà nền tảng mang lại khi tập hợp được số đông người tham gia dịch vụ, được sử dụng tai san - dịch vụ với chi phí rẻ hơn nhờ tận dụng tốt nguồn lực, đóng góp vào bảo vệ phát triển xã hội bền vững. Bản chất của kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh doanh mới của kinh doanh ngang hàng, tận dung lợi thế của phát triển công nghệ số, giúp tiết kiệm chỉ phí giao địch và tiếp cận một số lượng lớn khách hàng thông qua các nền tang số và có những đặc trưng sau: Thứ nhất, chủ thé thực hiện hoạt động chia sẻ các nguồn lực là các cá nhân có nhu cầu trực tiếp trao đổi nguồn lực dư thừa của mình. Ví dụ, đối với hoạt động chia sẻ chỗ ở là việc chủ nhà hoặc người có quyền khai thác công năng của nhà ở chia sẻ thời gian không sử dụng hết của mình với người có nhu cầu sử dụng nhà ở đó trong ngăn hạn.

Thứ hai, nguồn lực được chia sẻ là nguồn lực nhàn rỗi của chủ sở hữu hoặc người có nhu cầu chia sẻ nguồn lực. Đây là mô hình hình thành và phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, người dân buộc phải thay đổi cách tiêu dùng dé thích ứng với hoàn cánh khó khăn. Việc chia sẻ các nguồn lực dư thừa giúp tiết kiệm chỉ phí, tăng lợi ích cho người cung ứng và người dùng, đồng thời tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp cung cấp nên tảng. Người dùng không chỉ là cá nhân mà còn có thé là đoanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ