CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ INCOTERMS 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, VAI TRÒ VÀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA INCOTERMS 1. Khái niệm Incoterms Theo tài liệu từ ICC (International Chamber of Commerce – Phòng Thương mại quốc tế), Incoterms là viết tắt của cụm từ “International commercial terms”.
Incoterms giải thích một tập hợp các điều kiện thương mại được áp dụng phổ biến trong thương mại quốc tế (TMQT) giữa các doanh nghiệp thực hiện mua bán hàng hóa quốc tế (MBHHQT). Các điều kiện thương mại này được viết tắt bằng ba chữ cái (ví dụ: FOB hoặc CIF) và thể hiện tập quán giao dịch giữa các doanh nghiệp trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Điều kiện Incoterms chủ yếu mô tả các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro trong quá trình hàng hóa được giao từ người bán sang người mua (Ramberg J. Trong Giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương, Incoterms (điều kiện thương mại quốc tế) được định nghĩa như “[…] những thuật ngữ ngắn gọn được hình thành trong thực tiễn thương mại quốc tế để phân chia trách nhiệm về chi phí và rủi ro đối với hàng hóa giữa người mua và người bán trong giao nhận hàng hóa” (Nguyễn Văn Tiến & Nguyễn Thị Hồng Hải, 2016).
Theo các cách hiểu trên, có thể nói Incoterms là cách giải thích của các điều kiện thương mại, và điều kiện thương mại là một hình thức thể hiện ngắn gọn của tập quán thương mại trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (HĐMBHHQT). Để làm rõ bản chất của Incoterms, trước hết cần nêu định nghĩa về tập quán giao dịch. Do Incoterms chủ yếu được áp dụng trong TMQT (Ramberg J., 2011a), nên tập quán TMQT được hiểu là “[…] thông lệ, cách làm lặp đi, lặp lại nhiều lần trong buôn bán quốc tế và được các tổ chức quốc tế có liên quan thừa nhận” (Nghị quyết 04/2005/NQ-HĐTP). Tính thông lệ, lặp đi lặp lại nói trên thể hiện cả ở mặt không gian (được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ) và mặt thời gian.
Sự tồn tại của tập quán TMQT tự chứng minh được tính hợp lí, hiệu quả về kinh tế của nó, bởi nếu tập quán không hợp lí, không hiệu quả sẽ không được áp dụng lâu 9 dài. Qua thời gian, các tập quán được thể hiện dưới dạng viết tắt ngắn gọn, hay điều kiện thương mại, giúp cho việc giao dịch nhanh chóng và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, điều kiện thương mại có thể được khác nhau ở mỗi bên trong giao dịch, dẫn tới phát sinh tranh chấp thương mại, đặc biệt trong TMQT khi các bên giao dịch đến từ những quốc gia với ngôn ngữ, văn hóa rất khác nhau. Để phát huy hiệu quả và thống nhất cách hiểu của các điều kiện thương mại, cần đưa ra một cách diễn giải thông dụng nhất cho mỗi điều kiện thương mại để các bên tham gia giao dịch tham khảo và dẫn chiếu.
Bộ quy tắc Incoterms (sau đây được rút gọn là Incoterms), được ban hành lần đầu tiên bởi ICC vào năm 1936, là sự tổng hợp và diễn giải các điều kiện nói trên. Incoterms đã được cập nhật nhiều lần để phản ánh sự phát triển tập quán của thương nhân tham gia vào thương mại quốc tế và phiên bản mới nhất của Incoterms là Incoterms 2020, có hiệu lực từ 01/01/2020. Về mặt nội dung, Incoterms mô tả các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro trong quá trình hàng hóa được giao từ người bán sang người mua (Ramberg J. Cụ thể, những nghĩa vụ được đề cập trong Incoterms là những nghĩa vụ thường gặp trong thương mại quốc tế, bao gồm nghĩa vụ cơ bản về giao hàng, nghĩa vụ cơ bản về nhận hàng và các nghĩa vụ đóng gói, mua bảo hiểm, thông quan cho hàng hóa, thông báo và cung cấp chứng từ giao hàng.
Tương tự, những chi phí thuộc phạm vi điều chỉnh của Incoterms gồm bốn nhóm chính: chi phí vận tải và giao nhận, chi phí hải quan, chi phí bảo hiểm, chi phí cho những hỗ trợ ngoài nghĩa vụ từ bên còn lại. Cơ sở phát sinh chi phí có thể là nghĩa vụ hoặc những biến cố bất ngờ khi thực hiện nghĩa vụ. Rủi ro chính mà Incoterms điều chỉnh là rủi ro dẫn tới hư hỏng, mất mát hàng hóa, do nguyên nhân mang tính khách quan đối với cả người bán và người mua như thiên tai, hành động hoặc bất hành động của bên thứ ba (trộm cắp, cướp biển) (Coetzee, 2010; Valioti, 2004). Rủi ro dẫn tới chậm trễ trong thực hiện hợp đồng, hay rủi ro hư hỏng, mất mát hàng hóa do lỗi của người mua hoặc người bán không thuộc phạm vi điều chỉnh của Incoterms (Ramberg J.
Điểm quan trọng là, các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro này được mô tả trong quá trình chuyển giao hàng hóa từ người bán sang người mua. Trong đó, sự chuyển giao hàng hóa trong Incoterms là sự chuyển giao về quyền kiểm soát, hay khả năng tác động vật lý lên hàng, khác với sự chuyển giao về quyền sở hữu mang tính pháp lý 10 đối với hàng hóa. Thông thường theo quy định của Incoterms, cùng sự chuyển giao của hàng hóa, các yếu tố nghĩa vụ, chi phí, rủi ro sẽ đồng thời chuyển từ người bán sang người mua. Theo cách nói của (Bergami, 2006), Incoterms phân chia các nghĩa vụ, chi phí, rủi ro giữa người bán và người mua theo nguyên tắc loại trừ.
Khi một nghĩa vụ, hay chi phí, hay rủi ro thuộc về trách nhiệm của một bên, thì sẽ không thuộc trách nhiệm của bên còn lại. Về mặt hình thức, với mỗi điều kiện thương mại, Incoterms mô tả các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro nói trên thông qua mười mục trách nhiệm của người bán và mười mục trách nhiệm của người mua (Bảng 1.1 Cấu trúc nội dung Incoterms 2010 Trách nhiệm của người bán Trách nhiệm của người mua A1 Nghĩa vụ chung của người bán B1 Nghĩa vụ chung của người mua A2 Giấy phép, kiểm tra an ninh và các B2 Giấy phép, kiểm tra an ninh và thủ tục khác các thủ tục khác A3 Hợp đồng vận tải và bảo hiểm B3 Hợp đồng vận tải và bảo hiểm A4 Giao hàng B4 Nhận hàng A5 Chuyển rủi ro B5 Chuyển rủi ro A6 Phân chia chi phí B6 Phân chia chi phí A7 Thông báo cho người mua B7 Thông báo cho người bán A8 Chứng từ giao hàng B8 Chứng từ giao hàng A9 Kiểm tra–đóng gói, bao bì–ký mã B9 Kiểm tra hàng hóa hiệu A10 Hỗ trợ thông tin và chi phí liên B10 Hỗ trợ thông tin và chi phí liên quan quan 11 Nguồn: Ramberg J. Phân loại Incoterms 1. Phân loại dựa vào sự phân chia nghĩa vụ giao hàng giữa người mua và người bán Căn cứ vào sự phân chia nghĩa vụ giao hàng giữa người mua và người bán, Incoterms được chia thành bốn nhóm: E, F, C và D.
Tên mỗi nhóm (E, F, C và D) tương ứng với chữ cái đầu tiên trong tên các điều kiện thương mại thuộc nhóm đó. Nhóm E – Nơi đi: Người bán hết trách nhiệm với hàng hóa ngay tại cơ sở sản xuất của mình (Nguyễn Văn Tiến & Nguyễn Thị Hồng Hải, 2016). Trong các phiên bản Incoterms 2000, 2010 và 2020, nhóm E gồm một điều kiện duy nhất là EXW - điều kiện quy định nghĩa vụ tối thiểu cho người bán. Người bán giao hàng khi đặt hàng dưới quyền định đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm chỉ định khác.
Người bán không có trách nhiệm xếp hàng lên phương tiện vận tải và không phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu (nếu có). Điều kiện EXW không quy định người mua phải ký hợp đồng vận tải và bảo hiểm, mà chỉ có nghĩa vụ về giấy phép, thủ tục hải quan cho cả xuất khẩu và nhập khẩu. Người mua có thể quyết định xuất khẩu hàng hóa, ký hợp đồng vận tải và bảo hiểm hoặc không căn cứ vào lợi ích của chính người mua, sau khi nhận hàng tại cơ sở của người bán. Về kiểm tra an ninh và hải quan, EXW là điều kiện duy nhất quy định việc thông quan xuất khẩu thuộc trách nhiệm của người mua mà không phải người bán.
Nhìn chung, theo điều kiện EXW, người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua tại địa điểm giao hàng quy định, thường là cơ sở của người bán. Rủi ro và chi phí chuyển từ người bán sang người mua sau khi người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nhóm F – Cước phí chặng chuyên chở chính chưa trả: Theo điều kiện nhóm F, người bán hết trách nhiệm với hàng hóa ngay sau khi giao hàng cho người chuyên chở tại nơi đi (Nguyễn Văn Tiến & Nguyễn Thị Hồng Hải, 2016). Nghĩa vụ giao hàng để chở bao hàm trách nhiệm vận tải nội địa của người bán, nhưng chặng vận tải quốc tế thuộc trách nhiệm của người mua.
Người bán và người mua đều không có trách nhiệm mua bảo hiểm theo điều kiện nhóm F, nhưng các bên có thể 12 tự quyết định mua bảo hiểm phù hợp với lợi ích của bản thân. Về kiểm tra an ninh và hải quan, người bán chịu trách nhiệm thông quan xuất khẩu và người mua chịu trách nhiệm thông quan nhập khẩu. Khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng để chở theo chỉ định của người mua tại nơi xuất phát, rủi ro và chi phí sẽ chuyển từ người bán sang người mua. Nhóm C – Cước phí chặng chuyên chở chính đã trả: Người bán hết trách nhiệm với hàng hóa tại nơi đi, sau khi giao hàng hóa cho người chuyên chở, nhưng chịu chi phí cho đến tận nơi đến.
Tên của từng quy tắc thể hiện chi phí tạo thành giá cả hàng hóa (Nguyễn Thị Cẩm Thủy, 2017). Về kiểm tra an ninh và hải quan, người bán chịu trách nhiệm thông quan xuất khẩu (nếu có) và người mua chịu trách nhiệm thông quan nhập khẩu, giống như nhóm F. Trong điều kiện nhóm C, rủi ro và chi phí được chuyển giao tại hai địa điểm khác nhau. Rủi ro được chuyển giao tại địa điểm giao hàng và chi phí được chuyển giao tại địa điểm tại nơi đến.
CIP và CIF là hai điều kiện duy nhất trong Incoterms quy định bên bán có trách nhiệm mua bảo hiểm, các điều kiện còn lại đều không yêu cầu người bán hoặc người mua phải mua bảo hiểm. Nhóm D – Nơi đến: Nhóm D là nhóm duy nhất mà người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng tại nơi đến. Theo điều kiện nhóm D, người bán phải chịu mọi chi phí và rủi ro cần thiết để đưa hàng hóa đến nơi đến. Nhóm D quy định người bán có trách nhiệm ký kết hợp đồng vận tải tới nơi đến quy định, nhưng việc mua bảo hiểm không thuộc trách nhiệm của người bán hay người mua.