Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.S Lê Thị Thuần 3 SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Chương 3: Thực trạng rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu linh kiện ô tô của Công ty cổ phần ô tô An Hưng. Chương 4: Định hướng phát triển và một số giải pháp hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu linh kiện ô tô của Công ty cổ phần ô tô An Hưng.S Lê Thị Thuần 4 SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU.1 Một số khái niệm cơ bản.1 Nhập khẩu Nhập khẩu là hình thức kinh doanh quốc tế giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. Trong đó người mua (Người nhập khẩu) yêu cầu người bán (Người xuất khẩu) cung ứng cho mình một lượng hàng hoá nhất định như đã thoả thuận và hợp pháp.
Người nhập khẩu sẽ phải trả cho người xuất khẩu một lượng giá trị tương ứng với lượng hàng hoá đó. Hợp đồng nhập khẩu. Hợp đồng thương mại quốc tế hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương hay hợp đồng xuất nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán (bên xuất khẩu) có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu cho một bên khác gọi là bên mua (bên nhập khẩu) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng. Rủi ro là sự kiện không may mắn.
Rủi ro hết sức đa dạng, phức tạp, tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau và gắn liền với hoạt động sống, sản xuất, kinh doanh của con người. Do đó, nhiều năm qua, rủi ro đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả trong lĩnh vực kinh tế và bảo hiểm thế giới. Xoay quanh khái niệm rủi ro, hiện đang có rất nhiều quan điểm khác nhau, sau đây là một số khái niệm phổ biến nhất. Một học giả người Mỹ, ông Allan Willett trong cuốn “ Risk and Insurance”, 1995 quan niệm rằng: “ rủi ro là bất trắc cụ thể đến một biến cố không mong đợi”.
Như vậy, theo ông, rủi ro liên quan tới thái độ con người. Những biến cố ngoài mong đợi thì được xem là rủi ro còn những biến cố mong đợi thì không phải là rủi ro. Còn theo ông Nguyễn Hữu Thân, tác giả cuốn “ Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh”, NXB Thông tin, 1991, thì rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, thiệt hại. Théo cách tiếp cận này thì rủi ro phải là bất trắc gây ra hậu quả cho con người, còn những bất trắc không gây tổn thất thì không phải là rủi ro.
Nhìn từ góc độ bảo hiểm, rủi ro là những đe dọa nguy hiểm mà con người không lường trước được và là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm.S Lê Thị Thuần 5 SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế 2. Nguy cơ rủi ro Những sự kiện bất lợi chưa xảy ra nhưng có khả năng xảy ra được gọi là nguy cơ rủi ro. Nguy cơ rủi ro phản ánh trạng thái tiềm ẩn và khả năng xảy ra rủi ro. Nguy cơ càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro càng lớn.
Nguy cơ rủi ro luôn tiềm ẩn song hành cùng với hoạt động kinh doanh và làm cho rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào gây thiệt hại, mất mát cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguy cơ rủi ro ít nhiều mang tính quy luật, nó luôn vận động, biến đổi theo môi trường tự nhiên, chính trị, kinh tế. Do vậy, khả năng làm chủ tự nhiên và khả năng làm chủ của con người càng cao thì việc nhận dạng, dự đoán nguy cơ rủi ro càng chính xác.2 Một số lý thuyết cơ bản về rủi ro trong quá trình nhập khẩu.1 Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Sau khi hợp đồng nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu với tư cách là một bên ký hợp đồng, phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó.
Đây là một chuỗi các công việc phức tạp và mang tính chất tự nguyện cao, đòi hỏi người làm công tác này phải đầy đủ kỹ năng, nghiệp vụ thương mại quốc tế. Việc thực hiện hợp đồng phải tiến hành các công việc sau.1 Xin giấy phép nhập khẩu. Xin giấy phép nhập khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các bước tiếp theo. Vì thế sau khi ký hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu.
Có hai loại giấy phép nhập khẩu đó là giấy phép nhập khẩu năm và giấy phép nhập khẩu chuyến. Khi đối tượng thuộc phạm vi phải xin giấy phép nhập khẩu, doanh nghiệp phải xuất trình bộ hồ sơ xin giấy phép gồm: Đơn xin phép. Phiếu hạn ngạch (nếu có). Bản sao hợp đồng hoặc bản sao L/C.
Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu (nếu là nhập khẩu uỷ thác). Các giấy tờ có liên quan (nếu có).2 Thuê phương tiện vận tải. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế việc thuê phương tiện vận tải phải dựa vào các căn cứ sau GVHD: Th.S Lê Thị Thuần 6 SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế Căn cứ vào điều kiện cơ sở giao hàng: Nếu điều kiện là CFR, CIF, CPT, CIP, DES, DEQ, DDU, DDP thì người xuất khẩu phải tiến hành thuê phương tiện vận tải. Còn nếu điều kiện cơ sở giao hàng là EXW, FCA, FAS, FOB thì người nhập khẩu phải có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải.
Căn cứ vào khối lượng hàng và đặc điểm của hàng hoá: Căn cứ vào khối lượng hàng để tối ưu hoá trọng tải của phương tiện từ đó tối ưu hoá chi phí. Đồng thời căn cứ vào đặc điểm của hàng hoá là để lựa chọn phương tiện đảm bảo an toàn cho hàng hoá trong quá trình vận chuyển. Căn cứ vào điều kiện vận tải: Đó là hàng hoá rời hay hàng hoá đóng trong Container, hàng hoá thông dụng hay hàng hoá đặc biệt. Vận chuyển trên tuyến đường bình thường hay đặc biệt, vận tải một chiều hay khứ hồi.3 Mua bảo hiểm.
Trong thương mại quốc tế thường phải vận chuyển đi xa, trong những điều kiện vận tải khá phức tạp, do đó hàng hoá dễ bị hư hỏng, mất mát tổn thất lớn trong quá trình vận chuyển. Chuyên chở hàng hoá bằng đường biển cũng thường gặp rủi ro và tổn thất, bởi vậy trong thương mại quốc tế bảo hiểm đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất. Theo điều kiện CIF, CIP thì nghĩa vụ của người bán phải mua bảo hiểm vì lợi ích của người mua nhưng chỉ phải mua bảo hiểm ở một mức tối thiểu. Còn trong các điều kiện khác, các bên tự quyết định việc mua bảo hiểm nếu họ cảm thấy cần thiết tức là không bắt buộc phải mua bảo hiểm.Các đơn vị kinh doanh khi mua bảo hiểm phải xác lập nên một hợp đồng bảo hiểm.4 Làm thủ tục hải quan.
Thủ tục hải quan là một công cụ để quản lý các hoạt động buôn bán theo pháp luật của Nhà nước để ngăn chặn buôn lậu. Theo quyết định số 1494/2001/QĐ-TCHQ (Có hiệu lực ngày 1/10/2001, ban hành ngày 26/01/2001) thì thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu gồm 3 bước: Bước 1: Tiếp nhận, đăng ký tên khai hải quan và quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá. Bước 2: Kiểm tra thực tế hàng hoá. Bước 3: Kiểm tra tính thuế GVHD: Th.S Lê Thị Thuần 7 SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế 2.5 Nhận hàng nhập khẩu.
a) Nhận hàng từ tàu biển bao gồm các bước sau: Chuẩn bị chứng từ nhận hàng. Ký hợp đồng uỷ thác cho cơ quan ga, cảng về việc giao hàng từ nước ngoài về Xác nhận với cảng về kế hoạch tiếp nhận hàng, lịch tàu, cơ cấu mặt hàng, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ hàng hoá và bảo quản hàng hoá. Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hoá như vận chuyển đơn, lệnh giao hàng. Tiến hành nhận hàng: Nhận về số lượng, xem xét sự phù hợp với tên hàng, chủng loại thông số kỹ thuật, chất lượng bao bì, ký mã hiệu của hàng hoá so với yêu cầu đã thoả thuận trong hợp đồng.
Người nhập khẩu phải kiểm tra, giám sát việc giao nhận hàng, phát hiện các sai phạm và giải quyết các tình huống phát sinh. Thanh toán chi phí giao nhận, bốc xếp bảo quản hàng hoá cho cảng. b, Nếu công ty nhận hàng chuyên chở bằng Container bao gồm các bước: Nhận vận đơn và các chứng từ khác. Trình vận đơn và các chứng từ khác như : Hoá đơn thương mại, phiếu đóng gói cho hãng tàu để đổi lấy lệnh giao hàng (D/O).
Nhà nhập khẩu đến trạm hoặc bãi Container để nhận hàng. Nếu hàng nguyên Container và công ty muốn nhận Container về để kiểm tra tại kho riêng thì trước đó phải đề nghị với cơ quan hải quan, đồng thời đề nghị hãng tàu để mượn Container. Khi được chấp nhận chủ hàng kiểm tra, niêm phong, kẹp chì của Container, vận chuyển Container về kho riêng sau đó công ty trả Container rỗng cho hãng tàu. c, Nếu nhận hàng chuyên chở bằng đường sắt: Nếu hàng đầy toa xe, người nhập khẩu nhận cả toa xe, kiểm tra, niêm phong kẹp chì, làm thủ tục hải quan, dỡ hàng, kiểm tra hàng hoá, tổ chức vận chuyển hàng hoá về kho riêng.
Nếu hàng hoá không đủ toa xe, người nhập khẩu nhận hàng tại trạm giao hàng và ngành đường sắt, rồi tổ chức vận chuyển hàng hoá về kho riêng.S Lê Thị Thuần 8 SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế 2.6 Kiểm tra hàng. Sau khi nhận hàng bên nhập khẩu làm thủ tục kiểm tra quy cách, phẩm chất và tình hình thực tại của hàng hoá. Thông thường bên mua sẽ mời một cơ quan giám định để giám định hàng hoá. Cơ quan này lấy mẫu, phân tích số lượng, chất lượng hàng xem có phù hợp với hợp đồng không.7 Làm thủ tục thanh toán.
Trong thương mại quốc tế hiện nay có nhiều phương thức thanh toán khác nhau nhưng chủ yếu dùng một trong các phương thức sau: Phương thức chuyển tiền. Phương thức nhờ thu.