Chương 1, Luật số: 38/2013/QH13, Trang 1, Luật Việc Làm, Ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2013) Khái niệm các khoản thanh toán khác: Thuế thu nhập cá nhân là lại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế( Luật Thuế thu nhập cá nhân, Ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2007) Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi là quỹ được trích từ lợi nhuận sau thuế TNDN của doanh nghiệp để dùng cho công tác khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất, phục vụ nhu cầu phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động(Tài khoản 353, Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC, Ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2006).2 Đặc điểm , yêu cầu quản lý và nhận nhiệm vụ kế toán các khoản thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp 1.1 Đặc điểm các khoản thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp a) Đặc điểm tiền lương Tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất, kinh doanh cấu thành nên giá thành của sản phẩm, dịch vụ. Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế có tác dụng kích thích NLĐ làm việc tích cực, phát huy tài năng, sự sáng tạo, nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm trong công việc, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc và thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN.
Tiền lương là phương tiện để tái sản xuất sức lao động cho xã hội. Trong quá trình lao động, sức lao động của con người bị hao mòn dần cùng với quá trình tạo ra sản phẩm. Muốn duy trì và nâng cao khả năng làm việc của con người thì cần phải Khoa Kế toán – Kiểm toán SVTH: Nguyễn Đình Nam Luan van Khóa luận tốt nghiệp ThS. Chu Thị Huyến tái sản xuất sức lao động.
Do đó tiền lương là một trong những tiền đề vật chất có khả năng tái tạo sức lao động trên cơ sở bù lại sức lao động đã hao phí, bù lại thông qua sự thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng của NLĐ. Đối với các nhà quản lý thì tiền lương là một trong những công cụ để quản lý DN. Thông qua việc trả lương cho NLĐ, người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát NLĐ làm việc theo kế hoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu quả cao. Như vậy người sử dụng sức lao động quản lý một cách chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng.
Tiền lương góp phần điều tiết lao động, tạo ra một cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội.Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nước thường thông qua hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động. Tiền lương là thước đo hao phí lao động xã hội, là công cụ quản lý nhà nước, giúp nhà nước hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo hợp lý thực tế luôn phù hợp với chính sách của nhà nước. Khi tiền lương được trả cho NLĐ ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể NLĐ. Phân loại tiền lương: Tùy thuộc vào đặc điểm lao động từng DN mà tiền lương được phân loại theo các nhóm khác nhau để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán kế toán.
Phân loại theo thời gian lao động, tiền lương được chia thành 2 loại: Lương thường xuyên: Là tiền lương trả cho những lao động thường xuyên có trong danh sách lương công ty. Lương thời vụ: Là tiền lương trả cho người lao động tạm thời mang tính thời vụ. Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất, tiền lương được chia thành 2 loại: Khoa Kế toán – Kiểm toán SVTH: Nguyễn Đình Nam Luan van Khóa luận tốt nghiệp ThS. Chu Thị Huyến Lương lao động trực tiếp sản xuất: Là tiền lương trả cho lao động trực tiếp sản xuất chính là bộ phận nhân công trực tiếp sản xuất hay trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm và thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Lương lao động gián tiếp sản xuất: Là lương trả cho người lao động gián tiếp sản xuất, hay là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của DN như bộ phận quản lý, hành chính, kế toán… Phân loại theo chức năng của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiền lương được chia thành 3 loại: Lương nhân viên sản xuất: Là tiền lương trả cho lao động tham gia vào quá trình sản xuất chế biến tạo ra sản phẩm như công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên phân xưởng. Lương nhân viên bán hàng: Là tiền lương trả cho lao động thực hiện chức năng bán hàng, tham gia hoạt động vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Lương nhân viên quản lý: Là tiền lương trả cho lao động thực hiện chức năng quản lý như nhân viên phòng Hành chính, phòng Tài chính - Kế toán. Phân loại theo tính chất lương, tiền lương được chia thành 2 loại: Tiền lương chính là khoản tiền lương phải trả cho người lao động trong thời gian mà người lao động làm việc thực tế bao gồm lương cấp bậc, các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ.
Tiền lương phụ là khoản tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế không làm việc nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ mà DN quy định như nghỉ lễ, tết, hội họp, nghỉ phép, ngừng sản xuất,… Qũy tiền lương Quỹ tiền lương của doanh nhiệp là toàn bộ tiền lương của DN dùng để trả cho tất cả các loại lao động do DN quản lý và sử dụng. Thành phần quỹ tiền lương của DN bao gồm các khoản: Tiền lương trả cho người lao động theo thời gian làm việc. Tiền lương trả cho người lao động theo số lượng sản phẩm hay công việc hoàn thành. Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc vì mưa, bão, lũ lụt, thiếu nguyên vật liệu…hoặc nghỉ phép theo quy định hay đi học.
Khoa Kế toán – Kiểm toán SVTH: Nguyễn Đình Nam Luan van Khóa luận tốt nghiệp ThS. Chu Thị Huyến Các khoản phụ cấp( thường xuyên) được tính vào tiền lương như: Phụ cấp thâm niên, làm đêm, thêm giờ… quỹ tiền lương thường được chia thành hai loại theo mối quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh. Xác định quỹ lương kế hoạch: VKH = Tmin ( HS + HS ) LBQ 12 Trong đó: VKH: Qũy lương kế hoạch Tmin: Mức lương tối thiểu HS : Hệ số cấp bậc công việc bình quân HS : Hệ số phụ cấp LBQ: Số lao động bình quân kế hoạch Các hình thức trả lương Hình thức trả lương theo thời gian Hình thức này áp dụng trong một số loại hình doanh nghiệp như các doanh nghiệp hoạt động công ích, doanh nghiệp ngoài quốc doanh trả tiền cho người lao động theo hợp đồng lao động đã ký kết, hoặc trả lương cho người lao động làm công tác quản lý, làm việc tại các bộ phận hành chính sự nghiệp của doanh nghiệp. Trả lương theo thời gian được căn cứ vào mức lương cấp bậc, lương hợp đồng và số ngày làm việc thực tế của người lao động để tính tiền lương phải trả.
Hình thức trả lương theo thời gian có nhược điểm vì nó chưa gắn thu nhập với kết quả lao động mà họ đạt đươc trong thời gian làm việc. Tùy theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp người ta trả lương theo hai chế độ: Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn Khái niệm: Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản là chế độ trả lương mà tiền lương nhận được của mỗi người công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định. Chế độ trả lương này chỉ áp dụng trong trường hợp khó xác định định mức lao động, khó đánh giá công việc chính xác. Có ba loại tiền lương theo thời gian đơn giản: Khoa Kế toán – Kiểm toán SVTH: Nguyễn Đình Nam Luan van Khóa luận tốt nghiệp ThS.
Chu Thị Huyến Lương tháng: Là tiền lương được trả cố định hằng tháng, được hình thành trên cơ sở hợp đồng lương. Lương tháng được quy định cho từng bậc lương trong tháng áp dụng để trả cho người lao động làm công tác quản lí, hành chính sự nghiệp và các ngành không sản xuất vật chất. TLt = Lcb H + PC Trong đó: TLt : Mức lương tháng Lcb: Lương cơ bản H: Hệ số lương PC: Phụ cấp Lương ngày: Là tiền lương được trả cho 1 ngày làm việc trên cơ sở của tiền lương tháng chia cho 24 ngày (hoặc 26 tùy doanh nghiệp quy định) trong tháng. Lương này được áp dụng chủ yếu để trả lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập làm nhiệm vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp.
TLn = Trong đó: TLn : Mức lương ngày TLT: Mức lương tháng PC: Phụ cấp N: số ngày làm việc trong tháng Lương giờ: Căn cứ vào mức lương ngày, số giờ làm việc trong ngày. Lương giờ dùng tính lương trả thuê cho người lao động do làm thêm ca thêm giờ. Tg = Trong đó: Tg: Mức lương giờ TLn: Mức lương ngày G: Số giờ tiêu chuẩn quy định (thường là 8 giờ) Ưu điểm: Dễ tính, dễ trả lương cho người lao động. Khoa Kế toán – Kiểm toán SVTH: Nguyễn Đình Nam Luan van Khóa luận tốt nghiệp ThS.
Chu Thị Huyến Nhược điểm: Mang tính bình quân nên không khuyến khích được người lao động tích cực trong công việc, sử dụng thời gian hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu… và không quán triệt theo nguyên tắc phân phối lao động. Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng: Thực chất của chết độ trả lương này là sự kết hợp giữa hình thức trả lương theo thời gian giản đơn với tiền thưởng khi người lao động đạt được những chỉ tiêu về số lượng hay chất lượng đã quy định.