CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1.1 Tổng quan về dia y và địa y nuôi cấy 1. Tổng quan về địa y Địa y là thực vật bậc thấp dang cộng sinh, thường bao gồm một thành phan là nắm (mycobiont) và một hoặc nhiều thành phần quang hợp (phytobiont), thường là một loại tảo xanh hoặc vi khuẩn lam [1]. Các loài địa y chiém hon 20% dién tich toan cau da dang sinh hoc nam va là sinh vật cộng sinh độc đáo sinh sống ở một số môi trường khắc nghiệt nhất trên Trái Dat—ving lãnh nguyên Bắc Cực. sa mạc nóng.
bờ biên nhiều đá, chất độc đồng xi, v. Địa y có đa dang các loài, chi. Trong số các sinh vật tự đưỡng trên cạn trên thế giới, địa y trưng bày sự biến đôi hình thái hấp dẫn trong thu nhỏ. Về màu sắc, chúng có nhiều màu cam, vàng, đỏ, xanh lá cây, xám, nâu và đen [1], [2].
Địa y thường xuất hiện dưới dạng thực vật biêu sinh trên cây và các loài thực vật khác, và trong một số hệ sinh thái, địa y biểu sinh sinh khôi có thể vượt quá vài trăm kg/ha. Ngoài ra, địa y thường sinh sôi ở những nơi đất trống. nơi chúng là thành phan quan trọng của lớp vỏ đất an trong các cảnh quan khô can và bán khô căn. Địa y xuất hiện hau như khắp nơi trên các loại đá với những cái rõ ràng nhất xảy ra đưới dạng biểu m6, hoặc mọc trên bẻ mặt hoặc ở sâu bên phía trong trên vài milimét [1].
Tinh đến thời điện hiện tại, đã có hơn 18,500 loài địa y được phát hiện và báo cáo trên thể giới, chiếm hơn 20% tông số thực vật đã mô tả [3]. Dựa vào hình thái và môi trường song, người ta đã phân loại thành 3 kiêu hình thái chính: crustose (A) có phytobiont ở một lớp riêng biệt bên dưới lớp vỏ mycrobiont phía trên không có vỏ dưới; foliose (B) có hình dạng giống lá; phycobiont ở một lớp bên dưới vỏ não phía trên với vỏ rời rac bên đưới, tách biệt khỏi lớp nền mà nó phát triển; fruticose (C) tôn tại đạng cây bụi, thăng đứng, có cấu trúc xuyên tâm, thường gan ở gốc [2]. Một số hình anh của các hình thái địa ¥ 1. Một số nghiên cứu hóa học về dia y Năm 2000, Ernst-Russell và các cộng sự đã phân lập được các hợp chất trong tự nhiên cuplectin (1) và eoneuplectin (2) chứa lõi cyclopenta-naphthopyran từ địa y foliose Flavoparmelia euplecta.
Các hợp chất chứa indenone hoặc các gốc indanone trước đây chưa được quan sát thấy ở nắm địa y va hiểm khi được tìm thấy trong tự nhiên [4]. Năm 2015, Duong va các cộng sự đã phân lập được mười bay hợp chat trong đó có bảy hợp chất meta-depsidone và diphenyl ether mới gồm parmosidone A-E (3-7). parmoether A (8), B (9) và mười hợp chat đã được báo cáo gôm protocetraric acid (10), 8'-O-methylprotocetraric acid (11), virensic acid (12), zeorin (13), methyl 6-orsellinate (14), methyl orsellinate (15), methyl haematommate (16), atranorin (17), 2-O- methylatranol (18) va (+)-prasorediosic acid (19) từ loài địa y Parmotrema tsavoensce. Các hợp chất nay đã được thử hoạt tính gây độc tế bao ung thư gan (HepG2), ung thư phối (NCI-H460) và tế bao ung thư vú (MCF-7) [5].
Năm 2018, từ cao chiết của loài địa y Usnea baileyi (Stirt.) Zahlbr, Nguyen cùng cộng sự đã phân lập được hai mươi bảy hợp chất gồm bailexanthone (20), bailesidone (21). Nam 2019, Kanaori Kenji và các cộng sự đã tiền hành khảo sát thành phân hóa học của địa y Dirinaria applanata và thu được 9 hợp chat trong đó có 1 dẫn xuất hopane mới 1f-acetoxy-21a@-hopane-3f ,22-diol (46) cùng với 6 hợp chất phenolic bao gồm đivaricatinic acid (47), methyl divaricatinate (48), methyl-/Ø-orcinolcarboxylate (49), methyl haematommate (50), đivarinol (51), ramalinic acid A (52) và 2 xanthone là lichenxanthone (53), 4,5-dichlorolichenxanthone (54) [7]. Bên cạnh do, hợp chất mới có tên là hopane-6a, 1 6a,22-triol (55), cùng với 8 hợp chat đã biết từ 2 đến 9, leucotylin (56), 16$-acctoxyhopane-6a,22-diol ($7), 6a-acctoxyhopanc-16/,22-diol (58), zeorin (59), 6z-axetoxyhopane-22-ol (60), ergosterol peroxide (61), brassicasterol (62), va atranorin (63), được phan lập từ địa y Parmotrema sancti-angelii [8]. Nam 2020, Bui củng các cộng sự đã phân lập được năm depsidone trong đó có một hợp chất mới từ cao chiết của loài địa y Usnea ceratina Arch gồm ceratinalone (64), bailesidone (65), stictic acid (66), 8°’-O-methylstictic acid (67), 8°-O-ethylstictic acid (68).
Trong số đó, ceratinalone (64) và 8°-O-methylstictic acid (67) được đánh giá hoạt tính gây độc tế bào đối với HeLa (ung thư biểu mô ở người), NCI-H460 (ung thư biêu mô phối ở người) ung thư), HepG2 (ung thư biéu mô tế bào gan) và MCF-7 (ung thư vú ở người) [9]. một hợp chất depsipeptide dạng vòng và 1.9- tetrahydroxy-2,§-dimethyl-4,6-đi(ethanoyl)dibenzofuran (71) là hai hợp chất mới cùng với stereocalpin A (70) đã được phân lập từ cao chiết của địa y Ramalina terebrata bởi Seulah Lee và các cộng sự. Các hợp chất này cũng đã được thử nghiệm hoạt tính chỗng viêm, kháng khuan và gây độc tế bao, trong đó hợp chất stereocalpin A (70) cho thay khả năng chong viêm mạnh với giá trị ICso 5-7 HM [10]. lan ĐC cà 3: RÌ = CHO.
RÊ = OH 4:R!' = OH, RÌ = 0H 6: R= Me TRH & Re CH, 9;R=CHO = CHO.R ° 6 để ©, oO OH HO œ Ø OH fa .ie) OH ip Ho HO OH fe) Ø l6 H `0 1? 10:R-OH 13: R! = CHO, RỶ = Me 11: R= OMe 14: R! = Me, RỲ = Me 12:R<H 1§: R' = H.R? = Mẹ fe) 5 fe) ö OH ‘ ° lộ) ke) oO o ~ ¬ơ ¬ —~Ø 2 ° OH ø ° Đ® on co H o Ở H ơ 0 OH OH o o oO 39 40 41 2 Hình 1. Một số hợp chat phan lập từ các loài địa y (tiếp theo) OH O OH O fe) HO OH 43 44 45 46 HO. „O C€COOMe ° HO COOR OH Meo OH Hyco o MeO OH R HO OH OCH; 4T: = H 49:R = Mẹ 48: R = Me 50: R= CHO a số O OH Ss “on m lồ : io Đến R ss.R? = J-OAc 88: RÌ = Ac RẺ = LOH %3: RÌ «Riel §9: RÌ = H, Ree H S4: R' = RP = C¡ 60: RÌ = Ac R? =H OCH, Ou 67: R= OCH, 68: R= OCH;CH; Hình 1. Một số hợp chất phân lập từ các loài địa y (tiếp theo) 1.
Tổng quan về nắm nuôi cấy nguồn gốc từ địa y Dia y nuôi cay, diễn ra mối quan hệ cộng sinh giữa các đối tác mycobiont và photobiont, tạo ra các metabolite thứ cấp đa đạng, một số trong đó có nhiều hoạt động sinh học hữu ích. Một trong những câu hỏi hấp dẫn trong địa y học là vai trò của các đối tác mycobiont và photobiont trong quá trình sinh tông hợp các chất đó. Các nghiên cứu gần đây của chúng tôi đã chứng minh rằng nuôi cấy mycobiont địa y có nguôn gốc từ bào tử có khả năng sản xuất một số chất địa y hoặc chất chuyên hóa mới với số lượng lớn trong điều kiện áp lực thâm thấu [11]. Tính đến thời điểm hiện tại, trên thé giới đã có nhiều nghiên cứu được công bố chứng minh các hoạt tính sinh học liên quan như kháng khuẩn, chống oxy hóa, gây độc tế bào của các loài địa y.
Vào năm 2001, Dayan và Romagni đã phân lập từ địa y các hợp chất thuộc nhiều khung khác nhau như đepsidone, quinone, xanthone, điterpene, triterpene, polysacharide. Điều này chứng minh cho sự đa dạng về hóa thực vật của địa y. Tuy nhiên, với sở hữu đa dang loài địa y, phần lớn các nghiên cứu hiện nay tập trung chủ yếu vào việc phát hiện ra các loài địa y mới thay cho việc nghiên cứu về hoá thực vật [12]. Ngoài ra, Seaward đã công bố nghiên cứu chỉ ra rằng địa y có khả năng phân hủy chất nên đá sinh học trong một khoảng thời gian tương đối ngắn vào năm 1997.
Những ảnh hưởng này có thé là do cả các quá trình vật lý và hóa học, đặc biệt là bài tiết các acid hữu cơ khác nhau như oxalic acid bởi địa y có thé hòa tan hiệu quả các khoáng chat và cation kim loại chelate[14]. Do đó, các nhà khoa học đã chuyên sang nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các loài địa y nuôi cấy. Việc phần lập vào nuôi cấy thuần chung đã được thực hiện trên 1.183 loài nắm hình thành địa y và địa y từ các hệ sinh thái và nhóm hệ thống khác nhau [15]. Khi tiến hành nghiên cứu về hoạt tính 8 sinh học cũng cho thay rang nam địa y nuôi cây có tiêm nang phát triên lớn hơn rat nhiều so với địa y tự nhiên.
Năm 2001, Takao Tanahashia và các cộng sự đã phân lập được năm hợp chất dibenzofuran từ nam địa y nuôi cấy Lecanora cinereocarnea là 3,7-dibydroxy-1,9- dimethyldibenzofuran (71), 2-chloro-3,7-dihydroxy-1,9-dimethyldibenzofuran (72), 2. 3,7-diacetoxy-2-chloro-1,9- dimethyldibenzofuran (77), 3,7-diacetoxy-2,8-dichloro-1,9-dimethyldibenzofuran (78), 3-acetoxy-7-methoxy-1,9-dimethyldibenzofuran (79), 7-acetoxy-2-chloro-3-methoxy- 1,9-dimethyldibenzofuran (80) [16]. Đến năm 2005, Takao Tanahashia và cộng sự tiếp tục phan lập các hợp chat từ địa y nuôi cây Lecanora iseana mà phân lập được 5 dẫn xuất của 3,7-dihydroxy-1,9- dimethyldibenzofuran đã công bố trước đó (71-75) bao gồm 3,7-dihydroxy-1,9- dimethyldibenzofuran (71). 2-chloro-3,7-dihydroxy- 1,9-dimethyldibenzofuran(72).8- dichloro-3,7-dihydroxy-1,9-dimethyldibenzofuran (73), 3-hydroxy-7-methoxy-l,9- dimethyldibenzofuran (74).
2-chloro-7-hydroxy-3-methoxy-1,9-dimethyldibenzofuran (75); 5 dibenzofuran bao gồm 3,7-dihydroxy-1,9-dimethyldibenzofuran (75) 2-chloro- 3,7-dihydroxy-1,9-dimethyldibenzofuran (76), 4,6-dichloro-3,7-dihydroxy-1,9- dimethyldibenzofuran (77), lecanorafuran A (78).4,6-trichloro- 3,7-dihydroxy-1,9-dimethyldibenzofuran (85), 2,4,6,8-tetrachloro-3,7-dihydroxy-1,9- dimethyldibenzofuran (86) và 5 dan xuất norlichexanthone (80-84) đã biết bao gồm norlichexanthone (80), 4-chloronorlichexanthone (81), 2,4-dichloronorlichexanthone (82). Day là trường hợp phan lập đầu tiên được báo cáo của các dẫn xuất norlichexanthone từ dia y nuôi cay| 17]. Năm 2007, Yukiko Takenaka và các cộng sự đã tiễn hành nghiên cứu trên loài địa y nuôi cấy của Teloschistes chrysphthalus và Ramalina celastri đã phan lập được parietin (87) và usnic acid (39) với hoạt tính khang virus với giá trị ICsp của parietin là 9.7 pm và 20 um đối với JUNV và TCRV tương ứng [18]. Năm 2013, Hari Datta Bhattarai và các cộng sự đã phân lập được ba hop chất depsidone mới từ nắm nuôi cấy địa y Stereocaulon alpinum.
Ba hợp chat depsidone mới gôm lobaric acid (88), lobastin (89) và methyl lobarin (90) đã được thử hoạt tính kháng khuẩn và hoạt tính chéng oxy hoá. Kết quả cho thay lobaric acid (88) và lobastin (89) có khả năng chống vi khuân gram dương, Bacillus subtilis (88; 44 um) và Staphylococcus aureus (39. Ngoài ra hợp chất lobastin (89) còn cho thay hoạt tính chống oxy hoá đáng ké và có tiềm năng phát trién lớn với giá trị DPPH bằng 70. Năm 2014, từ địa y nuôi cay Pyrenula sp, Le và cộng sự đã phân lập 8 hợp chất mới bao gồm pyrenulic acid A-H (91-99) và ba hợp chất đã biết 1,8-dihydroxy-3- methylanthraquinone (100), 1,6,8-trihydroxy-3-methylanthragunone (101), 1,5,8- trihydroxy-3-methylxanthone (102).
Các hợp chất đều cho thay được khả năng hoạt động ức chế chống lại DNA polymerase a và f của động vật có vú với giá trị ICso năm trong khoảng từ 8.