CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1. Mô tả về ho Clusiaceae Họ Bứa hay Măng Cụt (Guttiferae hay Clusiaceae) gồm khoáng 40 chỉ với trên 1000 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực Châu Á, một số khác mọc ở Úc, Nam Mỹ và Châu Phi. Tai Việt Nam, theo GS. Pham Hoàng Hộ, họ bứa có 29 loài phân bố trên khắp mọi miễn đất nước từ Bắc tới Nam [2].
Mô tả về chi Garcinia Garcinia thuộc họ Clusiaceae (họ Mang Cyd) với hơn 300 loài khác nhau [7], phan bố chủ yếu trong các khu rừng nhiệt đới âm ở Châu A, Châu Phi, Uc, Nam Mỹ và Polynesia. Chi Garcinia là loài cây đại mộc hoặc cây bụi, thường có nhựa màu vàng. Lá có phiên bau dục, tương đối nhỏ, kích thước 9x2.5 cm, day, dai, không lông. gân phụ 10-12 cặp; cuống dài 5 mm.
Ở hoa đực có tiêu nhụy nhiều, trên dé hình đầu tròn; hoa lưỡng phái có 15-20 tiêu nhụy thành 4 bó. Quả hình trái xoan, to băng tương đương trứng gà, màu vàng khi chín [2]. Flavonoid, xanthone, triterpenoid, depsidone, phloroglucinol và dẫn xuất biphenyl là các loại hợp chat được tìm thay trong các bộ phần khác nhau của chi Garcinia. Các hợp chất này đa dạng về hoạt tính sinh học và được lý như chống viêm, kháng khuẩn, chống ưng thư, chong oxy hoa, khang nam [8][9][10].
Một lượng lớn acid hydroxycitric được tìm thấy trong vỏ qua Garcinia [11], và có tiềm năng trong điều trị hạ đường huyết và chỗng béo phì [12]. Xanthochymol và isoxanthochymol được phân lập từ vỏ thân. vỏ quả, hạt của loài Garcinia ndica và Garcinia cambogia cô đặc tính gây độc tế bào các dong ung thư khác nhau [13][14]. Chi Garcinia chứa nhiều loại xanthone khác nhau và các dẫn xuất của nó, nhờ hoạt tính sinh học tiềm năng của các hợp chất nay đã tạo nên sự quan tâm to lớn đối với chi Garcinia.
Những năm trở lại đây, một số nghiên cứu còn cho thấy khả năng kháng khuẩn, chống oxy hóa và ức chế tế bào ung thư của một số loại xanthone được cô lập từ vó quả mang cụt [15][16]. Bên cạnh đó, tiềm năng to lớn của chi Garcinia trong y học và được phâm đang được nghiên cứu sát sao bởi nhiều nhà khoa học. Garcinia mangostana Garcinia xanthochymus (Mang cut) (Bứa mủ vàng) Garcinia cowa Garcinia oliveri (Bứa cong) (Bứa rừng) Hình 1. Một số loài thuộc chi Garcinia.
Mô tả loài Garcinia schomburgkiana Cây Bứa đồng là một trong các loài thuộc chi Garcinia xuất hiện ở Việt Nam có tên khoa học là Garcinia schomburgkiana và có hệ thông phân loại khoa học như sau: e Tên khoa học: Garcinia schomburgkiana Pierre [6]. e Hệ thống phan loại khoa học: _ Bộ (Ordor): Malpaighiales [17]. Bứa dong là cây thân gỗ nhỏ. nhánh non vuông vuông, den den.
Lá có phiên bau dục, tương đối nhỏ, 9x2.5 em, day, đai, không lông, gân phụ 10 — 12 cặp; cuồng 5 mm. Hoa đực và lưỡng phái: lá dai 4; cánh hoa 4, dài vào 6 — 7 mm; ở hoa đực tiêu nhụy nhiều, trên dé hình dau tròn; hoa lưỡng phái có 15 - 20 tiêu nhụy thành 4 bó. Trái xoan, to bằng trứng gà, màu vàng. Cây Bứa đồng được ghi nhận ở 4 nước Đông nam Á gồm Việt Nam, Lào, Thái Lan và Campuchia [3].
O Việt Nam, cây Bứa đồng hiện nay được tìm thấy ở các tinh Quang Binh, Đồng Tháp, Tây Ninh [2](18]. Thành phần hóa học của Garcinia schomburgkiana 1. Thanh phan hóa học trên thân và cành cây Garcinia schomburgkiana Năm 2012, Vo cùng các cộng sự đã phân lập được hai hợp chất xanthone mới: 6- O-demethyloliverixanthone (1) và schomburgxanthone (2) và sáu hợp chất đã biết: cowanin (3), cowanol (4), fuscaxanthone A (5), và B (6), 3-isomangostin hydrate (7) và euxanthone (8) từ vỏ cây Bứa đồng. Năm trong số các hợp chất này đã được thử nghiệm khả năng gây độc các tế bào HeLa và kết quả cho thấy hợp chất (3) và (6) có hoạt tính mạnh với giá trị ICso lần lượt là 2.
Nam 2013, Mungmee cùng các cộng sự đã phân lập từ thân cây Bứa đồng được một biphenyl mới đặt tên là schomburgbiphenyl (9) và 14 hợp chat đã biết gồm ba xanthone: buchanaxanthone (10), ¡solacareubin (11) và 1,3,5,6-tctrahydroxyxanthone (12); hai benzophenone: oblongifolin C (13) và guttiferone K (14); ba biphenyl: aucuparin (9), nigrolineabiphenyl B (15) và garcibiphenyl C (16); ba biflavonoid: volkensiflavone (17), morelloflavone (18) và fukugiside (19) va ba steroid: /@-sitosterol (20), stigmasterol (21) và stigmasterol 3-O--D-glucopyranoside (22). Các hợp chất nay được thử khả năng gây độc đối với các dòng tế bao ung thư ở người SW620, BT474, HepG2, KATO-II và CHAGO. Kết quả cho thay hai benzophenone có khả năng gây độc cao đối với dòng tế bào SW620 và cũng có hoạt tính mạnh với các dòng tế bào KATO-III, HepG2 và CHAGO. Sáu hợp chat phenolic được phân lập đã được sàng lọc về hoạt động ức ché tăng trưởng đối với các dòng tế bào ung thư bạch cầu ở người Jurkat, NALM6, K562 và HPB-ALL.
Kết quả cho thay hợp chat (13) có hoạt tính mạnh với các dòng tế bào Jurkat, NALM-6, K562 và HPB-ALL [21]. Năm 2016, Meechai và cộng sự đã thực hiện khảo sát thành phan hóa học có trong cành cây Bứa đồng được sáu hợp chất lần đầu tiên được tìm thấy trong loài gồm: 5,7,3’,5’-tetrahydroxyflavanone (27), kaempferol (28), dihydrokaempferol (29), cuxanthone (8), 1,3,7-trinydroxyxanthone (30) va norathyriol (31). Hợp chất (27) là một hợp chat tự nhiên mới lần đầu được tìm thay ở chi Garcinia, nó có thé là dau hiệu đề phân loại hóa học cây Bửa đồng. Ngoài ra, nhóm tác giả da chỉ ra rằng hợp chất (27) và (31) là những chất kháng oxy hóa tiềm năng [22].
Năm 2017, Meechai cùng các cộng sự đã phân lập từ cành cây Bứa đồng được bốn xanthone: dihydroosajaxanthone (32), xanthochymone A (33), 1,3,7-trihydroxy-2-(3- hydroxy-3-methylbuty])xanthone (34) và 1,3,5,6-tetrahydroxyxanthone (12). Các hợp chat này đặc biệt là hợp chất (32) là xanthone lần đầu tiên được phân lập tir tự nhiên, có thẻ là nguồn sản xuất được liệu tiềm năng [23]. Năm 2019, Kaennakam cùng các cộng sự đã phân lập từ vỏ cây Bứa đồng được hai dẫn xuất xanthone mới: schomburgone A (35) và B (36); sáu xanthone đã biết: isocudraniaxanthone B (37), gerontoxanthone I (38), nigrolineaxanthone E (7), isojacareubin (11), dulxanthone A (39) va macluraxanthone (40); hai anthraquinone da biết: vismiaquinone A (41) và 3-geranylemodin (42). Tất cả các hợp chất này đều được đánh giá khả năng gây độc tế bào đối với năm dòng tế bao ung thu: KB, HeLa S-3, HT-29, MCF-7 và HepG-2.
Kết qua cho thay các hợp chất (37), (40) và (11) có khả năng gây độc tốt tat cả năm dong tế bảo ung thư ở trên với giá trị ICso năm trong khoảng 1. Năm 2021, Do cùng các cộng su đã phan lập từ cành cây Bứa đồng được một bixanthone mới, có tên là schomburgkixanthone (43); cùng với sáu hợp chat đã biết: griffipavixanthone (44), 4-hydroxyxanthone (45), 2-hydroxyxanthone (46). Tat ca các hợp chat này được đánh giá kha nang ức chế enzyme a-glucosidase trong ruột chuột. Kết quả cho thấy hợp chất (43) có khả năng ức chế mạnh nhất đối với maltase và sucrose có giá trị ICso tương ứng là 0.81 mM: trong khi đó, hợp chất (44) ức chế sucrase mạnh với giá trị ICsa là 4.
Năm 2021, Do cùng các cộng sự đã phân lập từ thân và cành cây Bứa đồng được 22 hợp chất đã biết: schomburgkixanthone (43), griffipavixanthone (44), 1,3,7- trihydroxyxanthone (30), 1,5,6-trihydroxyxanthone (50), 1,3,5. Các hợp chat này đã được thử nghiệm hoạt tính ức chế enzyme a-glucosidase. Kết quả cho thay các hợp chất có khả năng ức chế enzyme a-glucosidase với giá trị ICsa thuộc khoảng 0.8 pg/mL, lớn hơn acarbose chuẩn (ICso 147 pg/mL). Trong đó, hợp chất (43) ức chế enzyme z-glucosidase mạnh nhất với giá trị ICso là 0.
Năm 2021, Darnasmara củng các cộng sự đã phân lập từ cành cây Bứa đồng được 13 hợp chat đã biết gồm hai polyprenylated benzoylphloroglucinol: 7-epiclusianone (61) và oblongifolin C (13); bảy xanthone: pancixanthone A (62), euxanthone (8). Tat cả các hợp chất này được đánh giá đặc tinh gây độc với các dòng tế bảo ung thu Hep G-2, MCF-7, HeLa S-3, KB, HT-29 va ức chế hoạt động enzyme a-glucosidase. Kết quả cho thấy hợp chat (13) có hoạt tinh gây độc tat cả năm dòng tế bào mạnh với giá trị ICso nằm trong khoảng 5. Và hợp chat (9) có khả năng ức chế vừa phải với sucrose và maltose với giá trị ICs» lần lượt là 49.
Năm 2021, Kaennakam cùng các cộng sự đã phân lập từ thân cây Bứa đồng được bốn xanthone mới: schomburgone C (71), schomburgone D (72), schomburgone E (73), schomburgone F (74) và sáu xanthone đã biết: formoxanthone C (7ã). Tat cả các hợp chat nay đều được đánh giá khả năng gây độc đối với năm dong tế bào ung thư ở người. Kết quả cho thay ba hợp chất (74). (75), (76) đều có khả năng gây độc mạnh với bon đòng tế bào KB, HeLa S3, MCF-7 và HeP G2 với giá trị ICso nằm trong khoảng 0.
Thanh phan hóa học trên rễ cây Garcinia schomburgkiana Năm 2016, Sukandar cùng cộng sự đã phân lập và làm sáng t6 cau trúc của hai đepsidone mới: schomburgdepsidone A (80) và B (81); một xanthone mới là schomburgxanthone A (82); cùng với tám hợp chat đã biết: oliveridepsidone A (83), oliveridepsidone D (84), 1,5-dihydroxyxanthone (85), nigrolineaxanthone E (86), 6- desoxyjacareubin (87), aucuparin (88), 3-hydroxy-5-methoxybiphenyl (89) và methyl- 2.6-dihydroxy-4-methoxy-3(3'-methyl-2'-butenyl)-benzoate (90) từ rễ cây Bứa đồng. Tất cả các hợp chất này được đánh giá khả năng gây độc các dòng tế bảo ung thư ở người: HeLa S-3, KB, HT-29, MCF-7 va Hep G2. Kết quả nghiên cứu cho thay hợp chất (7) có khả năng gây độc mạnh các dòng tế bao HeLa S-3, KB và MCF-7 với giá trị ICso nằm trong khoảng 3.07 ug/mL và hợp chat (82) có khả năng gây độc tế bào KB với giá trị ICso là 8. Thành phần hóa học trên quả của cây Garcinia schomburgkiana Năm 2016, Le cùng các cộng sự đã phân lập từ qua của cây Bửa đồng được thu hái ở Việt Nam được tám benzoylphloroglucinol mới: schomburgkianone A (91), B (92), C (93), D (94), E (95), F (96), G (97) và H (98); bốn polyprenyl benzoylphloroglucinol đã biết: guttiferone K (14).
Các tác giả đã chứng minh được khả nang ức chế DNA polymerase @ và J của các polyprenyl benzoylphloroglucinol với giá trị ICs nằm trong khoảng 5. Ca hai hợp chất đều có khả năng ức chế mạnh enzyme a-glucosidase với giá tri ICs lần lượt là 21.8 pg/mL, vượt trội so với chất đối chứng dương acarbose. Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả đã chứng minh rằng hai chat này có khả năng được sử dụng trong quá trình điều trị bệnh tiêu đường [28]. Năm 2022, Nguyen cùng cộng sự đã phân lập từ quả của cây Bứa đồng được sáu hợp chat đã biết: quercetin (104), kaempferol (28).
Năm 2023, Duong cùng cộng sự đã phân lập từ qua của cây Bứa đồng được một hợp chất mới: epi-guttiferone Q (109) và mười hợp chat đã biết: guttiferone I (110), guttferone K (14), hypersampsone | (111), sampsonione D (112).