CHƯƠNG 1: PHÉP PHÓI CANH (PHÉP CHIEU XUYEN TAM) 1.1 Phối cảnh trong nghệ thuật Mô hình hiện đại của phối cảnh hội tụ (focused perspective) được khám phá bởi nhà điêu khắc, nhà kiến trúc sư Brunelleschi (1377-1446). sau đó được phát triên bởi họa si, nhà kiến trúc sư Leone Battista Alberti (1404-1472), và cuối cùng được hoàn thiện bởi Leonardo da Vinci (1452-1519). Những người nghệ sĩ này nhận ra rằng mắt người nhìn cảnh vật thế giới bằng cách tiếp nhận vô sé những tia sáng đi từ cảnh vật đến mắt ta. Một cách hiệu quả đề mồ tả hình ảnh 3 chiều lên trên nền2 chiêu sao cho sống động được dé ra như sau.
một tắm kính trong suốt được đặt giữa mắt và cảnh vật 3 chiều. Mỗi đường noi từ mắt tới một điểm của cảnh sẽ đâm xuyên tam kính tại một điểm nao đó. Tập hợp các điểm này tạo ra một hình ảnh trên tắm kính được biết tới tên riét điện (cross-section). Bởi vì mắt chúng ta không thê phân biệt sự khác nhau giữa các tia sáng đến từ các điểm của cảnh thực và các tia sáng đến từ các điểm của tiết diện tương ứng (vì chúng cùng hướng), nên mắt người nhìn nhận tiết điện như đang nhìn cảnh thực.
Nói cách khác, tiết diện cho ta một cách biểu điễn 2 chiều chân thật của cảnh vật 3 chiều. Nghệ sĩ người Đức, Albrecht Dũrer (1471-1528) đã giới thiệu thuật ngữ phối cảnh (perspective) (xuất phat từ động từ Latin nghĩa là “nhin thấu") dé diễn tả cách thức trên, và ông đã biểu điển nó bằng một loạt các tranh khắc gỗ nỗi tiếng trong cuốn sách của mình Underweysung der Messung mit dem Zyrkel und Rychtsscheyed (1525). Tranh khắc gỗ bên dưới diễn tá một người nghệ sĩ dang nhìn qua màn chắn lưới dé nghiên cứu phối cảnh và hiệu ứng xa gân. Di nhién, hinh anh duoc biéu dién trén man chắn chi là một cách biểu diễn của cảnh thực.
Nếu màn chắn được đặt gan hon hoặc xa hon đối với mắt thi kích thước của tiết điện sẽ thay đối. Đặt màn chắn ở những góc khác nhau đối với mắt hoặc chính mắt người nhìn đi chuyển tới một vị trí khác cũng khiến tiết điện thay đổi. Trong mỗi trường hợp, ta sẽ thu được một tiết diện khác nhau, tuy nhiên chúng đều có sự liên kết với nhau.2 Phép phối cảnh trong toán học — Phép chiếu xuyên tâm. Đề tìm hiểu mỗi quan hệ giữa các tiết diện của một cảnh thực, chúng ta sẽ nhìn phối cảnh dưới góc nhìn toán học.
Ta thay thé mat va chim tia sáng đến mat bang chùm đường thang đi đến một điểm cho trước (tức coi mắt là một điểm, chùm tia sáng là chùm đường thăng). Dé thuận tiện, điểm này thường chính là gốc Ø. Màn chắn được thay thé bằng một mặt phăng trong R* ma không đi qua điểm Ø. Đề so sánh các tiết điện trên mỗi màn chắn khác nhau, chúng ta xét 2 mặt phang không đi qua gốc Ø:z và 2’.
Một điểm P trên z và một điểm Q trên x‘ được gọi là trong phổi cảnh từ O (in perspective from O) nêu có một đường thăng đi qua 3 điểm Ø,P. Một phép phối cảnh hay phép chiếu xuyên tâm (perspectivity) từ z tới #ˆ tâm O là một hàm số biến một điểm P trên z thành một điểm Ø trên z' trong phối cảnh từ Ø. Chú ý rằng các mặt phăng « và z có thé nim cùng phía so với O hoặc nằm khác phía so với O như hình dưới Một điều rắc rỗi trong định nghĩa của phép chiếu xuyên tâm trên là vẻ tập nguồn của nó không nhất thiết là toàn bộ mặt phing +. Thật vậy, néu P là một điểm bất kỳ của x sao cho OP song song với mặt phăng z' như trong hình bên thì P không có ảnh trên zˆ và do đó P không thuộc tập nguồn của phép chiều xuyên tâm.
Từ góc nhìn toán học, việc loại trừ một vai điểm ngoại lai khỏi tập nguồn của phép chiếu xuyên tâm khá phiên toái. Ở phan 243 2 chúng ta sẽ xây dựng lại một định nghĩa về phép chiếu xuyên tâm mà tập nguồn của nó vẫn bao gồm những điểm ngoại lai này. Với định nghĩa cơ sở về phép chiều xuyên tâm như trên, ta có thể nhận thấy những tính chất sẽ được bảo toàn và không được bảo toàn dưới phép chiếu xuyên tâm. Vi dụ: Hình minh họa bên trái thé hiện một phép chiếu xuyên tâm cụ thé, biến một đoạn thang trên mặt phang thành một đoạn thang trên mặt phang còn lại.
Điều này cho thay phép chiếu xuyên tâm bảo toàn tính thăng hàng. Mặt khác, hình minh họa bên phải thê hiện một đường tròn trên mặt phăng qua phép chiếu xuyên tâm trở thành đường parabolic ở mặt phẳng còn lại. Điều này cho thay phép chiêu xuyên tâm không bảo toan "độ tròn”. Xét phép chiều xuyên tâm với tâm Ø biến điểm trên mặt z thành điểm trên mặt z'.
Một cách dé hình dung ảnh của một đường thing £ dưới phép chiều xuyên tâm đó là: Lay một điểm P bắt kì trên £, khi P đi chuyên đọc trên £, đường OP quét ra một mặt phang. Đường thăng £” nơi mà mặt phăng vừa tạo ra giao với mặt 7’ chính là ảnh của £. Ta xét trường hợp đặc biệt: Phép chiều xuyên tâm p với tâm O biến các điểm nằm trên mặt phẳng nằm ngang z thành các điểm trên mặt phẳng #' (tức 7 L z'), và đặt L là giao tuyến của z và z'. Như vậy, L biến thành chính nó.
Ta có duy nhất một trường hợp mà không tim thay ảnh của đường thăng đó là khi đường thăng A là giao tuyến của z và mặt phang di qua O, vuéng góc với z. Boi vì những đường noi từ các điểm trên h đến O đều song song với 7’. *% 2 A =l ;y/‘A= \ = \ Tiếp theo, ta xét ảnh của đường thăng £ trong z mà vuông góc với giao tuyến L dưới phép chiếu xuyên tâm p. Gọi P là chân đường cao từ O hạ xuống mặt phẳng z'.
Mặc dù P không phải ảnh của bất kì điểm nào của +, nhưng mặt phẳng đi qua O và £ giao 7‘ tại đường thăng ¢’ nào đó đi qua P. Điều nay dẫn đến ảnh của £ dưới phép chiếu xuyên tâm p là một đường” nào đó đi qua P nhưng ảnh này không lay điểm P (khuyết P). \ Rochen - ` a’ oy != , Nhận xét trên đúng với mọi đường thăng trong z mà vuông góc với L. Mọi đường thăng trong z dưới phép chiều xuyên tâm p đều khuyết P.
Chúng ta có thé kết hợp các quan sát về các đường thăng trong z song song hoặc vuông góc với L theo cách sau: Lấy tứ giác ABCD trong z nằm khác phía so với O qua 7, cạnh AB và CD nằm lan lượt trên đường £,,/, cùng vuông góc với L Khi đó AD và BC có ảnh A'D',B'C' nằm trên Z', nằm giữa L và P. Khi cạnh BC tiễn xa dần đường L, ảnh của nó là đoạn B'C’ sẽ tiến dan đến diém và trở nên ngắn dân đi. Nếu đặt mắt một người quan sát ở điểm Ø, người đó sẽ thấy các đường thăng £,.(, gặp nhau tại “vô cùng”, điều này tương ứng với ảnh của các đường thăng dưới phép chiêu xuyên tâm p gặp nhau tại điểm P.Diém P được gọi là điểm biển mat chính (principal vanishing point) của phép chiêu xuyên tâm p bởi vì ảnh trên 2‘ của tất cả các đường thăng trong z mà vuông sóc với L đều biến mắt tại đó. ; Thực tê, một phép chiêu xuyên tâm có rat nhiều điểm biên mat.
Vi dụ, lay £ là một đường thang bat kì trong x và tạo với ⁄ một góc =. Đặt / là đường nằm ngang trong 7’, qua P, và D là một điểm trên #“ sao cho OD song song với £. Khi đó mặt phăng đi qua O và £ giao với Z' tại một đường £' nào đó đi qua Ð. Điều này dẫn đến anh của £ dưới phép chiếu xuyên tâm p là một đường thang đi qua D nhưng không lay điểm D.
Điểm D được gọi là điểm biển mat chéo (diagonal vanishing point) của phép chiếu xuyên tâm. Tat cả các đường thăng trong + ma song song với một đường £ cho trước thì có ảnh trên z là các đường thing đi qua D và không lấy điểm D. Ngược lại, mỗi điểm trên đường thang nằm ngang hi’ đi qua điểm P là một điểm biến mat của những đường thang là ảnh của tất cả các đường thăng theo một hướng nào đó trong +; do đó đường thắng h’ được gọi là đường biến mat (vanishing line). Đường nay tương ứng với “đường chân trời” trong mặt phăng, nói cách khác nó tương ứng với những điềm “ở vô cực” khi mắt người quan sat nhìn theo một hướng nam ngang.3 Định lý Desargues Các thông tin trong không gian 3 chiều có thé thuật lại thành thông tin trong không gian 2 chiêu và ngược lại.
ý tưởng này đóng một vai trò quan trọng trong Nghệ thuật cũng như trong Toán học. xét mô hình 3 chiều gồm 2 tam giác AABC và A4'#C' dưới phép chiếu xuyên tâm tâm U. Hiện tại, chúng ta giả sử không có cặp cạnh tương ứng nào: BC và B'C', CA và CA', AB và A'B' là song song với nhau. = Chúng ta cần chỉ ra mô hình 3 chiều này có tính chất: BC và B'C’, CA va CA', AB và A‘B’ cắt nhau lần lượt tại P.
thăng hàng. Từ đây, chúng ta có thé xây dựng lại một kết quả tương đương trong không gian 2 chiều, được biết tới chính là Định lý Desagues. Đề chứng minh kết quả 3 chiều, ta quan sát rằng BC và B'C' nằm trong cùng một mặt phang đi qua các điểm U, B,C. Vì BC và B'C' đông phăng nhưng không song song nên chúng phải cat nhau tại điểm P nao đó.
Tương tự, các cạnh CA và C’A’ cắt nhau tại điểm @ và các cạnh AB và A'Ø' cắt nhau tại điểm R. ¬ Vì các điểm P,Q,R đều nam trên mặt phăng chứa tam giác AABC và trên mặt phăng chứa tam giác AA'#C", do đó P,Ø,R phải nằm trên đường giao tuyến £ của hai mặt phăng. Điều này dẫn đến P.R thăng hàng. Đề có được kết quả 2 chiều tương ứng, tưởng tượng rằng chúng ta đang nhìn mô hình 3 chiều này thông qua một màn chắn trong suốt.