CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO HỌC SINH THPT 1.1Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 1.1Một số nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên trên thế giới Ở thế giới nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên có mặt rất sớm nhưng được gọi với những cái tên khác nhau chẳng hạn sức khỏe vị thành niên hay giới tính tình dục thanh thiếu niên.Từ sau hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (4/1994) sau khi định nghĩa chính thức về về sức khỏe sinh sản được thống nhất phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới và là mối quan tâm của toàn xã hội. Vấn đề sức khỏe sinh sản được đẩy lên một trình độ mới Tại Châu Phi: Giáo dục sức khỏe sinh sản ở châu lục này tập trung vào việc đẩy lùi nạn dich AIDS và cố gắng thiết lập những chương trình giáo dục về AIDS hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO) Những chương trình này dạy cho họ và con em của họ các cách “ABC”. Với A để phòng chống AIDS.
B - Chung thủy và C - Dùng bao cao su Ở Ai Cập, trẻ từ 12 – 14 tuổi được giáo viên giảng dạy những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục. Tại các quốc gia Châu Á: Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc và Sri Lanka là những nước đã thực hiện chính sách riêng về giáo dục giới tính trong trường học về giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên. Tuy nhiên ở Bangladesh, Myanmar, Nepal và Pakistan thì không có những chương trình giáo dục giới tính như vậy. Đối với các quốc gia Châu Âu như Pháp, tháng 2/2000, Chính phủ Pháp Khóa luận tốt nghiệp 10 Phạm Thị Hồng - D3CT3 quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyền hình và sóng phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả.
Tại Đan Mạch, cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã có chương trình truyền hình được Chính phủ tài trợ đã trở thành kênh thông tin quen thuộc về giới tính và sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên.Đan Mạch là nước có tỷ lệ trẻ vị thành niên mang thai thấp nhất thế giới và là hình mẫu “lý tưởng” cho các nước khác học tập cách thức giáo dục giới tính trong trường học. Các quốc gia ở Châu Mỹ: Các trường học đều đưa giáo dục giới tính vào chương trình học của học sinh lớp 7 - 12, có nơi bắt đầu từ lớp 5, lớp 6. Học sinh tiếp cận với kiến thức giới tính thuộc 2 kiểu: toàn diện kiến thức chung chiếm 58% hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, vấn đề chiếm 34%. Tuy nhiên, Mỹ lại là một trong những nước có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao nhất thế giới, tỷ lệ nhiễm bệnh qua đường tình dục ở thanh thiếu niên cũng là cao nhất.
Điều này cho thấy người ta nên chú trọng vào phương pháp giáo dục hơn là xác định giáo dục ở cấp học nào (Theo giáo dục giới tính toàn cầu của trang tailieu.2 Một số nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, giáo dục giới tính đã bắt đầu được quan tâm rộng rãi. Lứa tuổi THPT đang ở giai đoạn cuối thời kỳ dậy thì và đầu giai đoạn thanh niên nên các em có sự thay đổi mạnh mẽ về cả sinh lý và tâm lý. Bản thân các em chịu sự tác động của gia đình, thầy cô, bạn bè… Nếu các em được giáo dục định hướng đúng sẽ giúp các em phát triển đúng hướng và vượt qua những khó khăn trở ngại của cuộc sống. Các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho ra những kết quả sau: Ở Việt Nam vị thành niên từ 10 đến 19 tuổi theo tổng điều tra của dân số 1989 có 14.336 482 người (22,3% dân số), trong cuộc tổng điều tra biến đổi DSKHHGĐ năm 1993 số trẻ vị thàn niên là 23,2% số mẫu điều tra.
Theo tổng điều tra năm 1999 vị thành niên là 17, 3 triệu người (22, 7% dân số) [10] theo Khóa luận tốt nghiệp 11 Phạm Thị Hồng - D3CT3 niên giám thống kê dân số năm 2000 vị thành niên là 17 553 000 người (22,46% dân số). Như vậy vị thành niên chiếm ¼ dân số cả nước, cơ cấu dân số sẽ tiếp tục tăng trong vòng 15 năm nữa. Như vậy sẽ có thuận lợi là nguồn nhân lực trẻ sẽ tăng lên và trở thành một lực lượng dồi dào. Tuy nhiên đó cũng là một thách thức với một quốc gia đang phát triên như Việt Nam là các vấn đề xã hội sẽ trở thành một gánh nặng cho những người làm chính sách.
Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2002 cả nước có 572.425 trường hợp nạo phá thai và năm 2003 là 540.377 trường hợp. Tỉ lệ phá thai trên tổng số sinh chung của toàn quốc là 52%. Trong đó vẫn còn khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở vị thành niên, thanh niên [3] Trong nhiều năm giáo dục sức khỏe sinh sản đã có những sự quan tâm và nghiên cứu nhất định. Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên giùm xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dương cho học sinh những kiến thúc về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”.
Bộ Giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước. Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính sức khỏe sinh sản. Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có kí hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến Khóa luận tốt nghiệp 12 Phạm Thị Hồng - D3CT3 hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12. Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khoẻ sinh sản; Giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; Giáo dục đời sống gia đình; Giáo dục giới tính cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh [6] Nhìn chung các đề tài nghiên cứu thường tập trung đi sâu vào tìm hiểu thực trạng hiểu biết về SKSS và thái độ hành vi của thanh thiếu niên về các kiến thức sức khỏe sinh sản. Những con số được đưa ra nêu trên cho thấy vấn đề giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản đóng vai trò rất quan trong trong mục tiêu phát triển con người Việt Nam, mà tập trung vào thế hệ trẻ, tương lai của đất nước.2 Khái niệm chính: 1.1 Khái niệm nhu cầu: Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.2 Khái niệm Giáo dục: Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy và người học theo hướng tích cực.
Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách cả thầy và trò Khóa luận tốt nghiệp 13 Phạm Thị Hồng - D3CT3 bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại [1] 1.3 Khái niệm chung về sức khoẻ sinh sản Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Sức khoẻ là một trạng thái hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế. Như vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái niệm rộng hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như: sức khoẻ là có một cơ thể cường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lành lặn, không bị tàn phế… Định nghĩa này tương đối tổng thể, tuy nhiên chưa thể hiện hết tính năng động của vấn đề sức khoẻ. Tôi chú trọng quan điểm của Michael Wilson, trong đó sức khoẻ bao hàm những lĩnh vực sau: Sức khoẻ thể chất: liên quan đến chức năng cơ học của cơ thể. Là thước đo nền tảng của sức khoẻ.
Sức khoẻ tâm thần: liên quan đến khả năng tư duy, độ minh mẫn trí tuệ Sức khoẻ cảm xúc: liên quan đến các cảm xúc: sợ sệt, buồn bã, giận dữ, vui vẻ, nó còn liên quan tới khả năng đương đầu với stress. Sức khoẻ về tâm linh: liên quan tới tín ngưỡng, và những nguyên tắc ứng xử. Nguyên tắc này giúp đạt được sự cân bằng tâm trí và sự an lạc cho bản thân. Sức khoẻ về môi trường xã hội: là quan hệ của con người với môi trường xã hội mà con người đang tồn tại.