Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp giữ vai trò là ngành sản xuất vật chất then chốt nhằm bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tạo nguồn hàng xuất khẩu thu ngoại tệ. Đối với tỉnh Lâm Đồng nói chung và huyện Lâm Hà nói riêng, nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng sản phẩm trên địa bàn và chi phối sinh kế của đa số cư dân. Nhằm đánh giá đầy đủ tiềm năng tự nhiên, nguồn lực kinh tế - xã hội, thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi, khóa luận tốt nghiệp ngành Địa lí với đề tài "Tìm hiểu tiềm năng, hiện trạng phát triển nông nghiệp huyện Lâm Hà - tỉnh Lâm Đồng" do sinh viên Đàm Thị Thương thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Vũ Thanh Nhật (Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013) đã được triển khai.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở đánh giá các tiềm năng tự nhiên và kinh tế - xã hội, tập trung phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện Lâm Hà, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển bền vững cho giai đoạn tiếp theo. Để thực hiện mục đích này, đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đúc kết cơ sở lí luận về nông nghiệp để phân tích, đánh giá các nguồn lực tự nhiên và kinh tế - xã hội phục vụ phát triển nông nghiệp của huyện.
  2. Phân tích hiện trạng phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Hà.
  3. Làm rõ vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với đời sống kinh tế - xã hội địa phương.
  4. Đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm gia tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp của huyện trong tương lai.

Phạm vi và giới hạn của đề tài được xác lập rõ ràng:

  • Không gian: Toàn bộ phạm vi lãnh thổ hành chính huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (bao gồm 2 thị trấn và 14 xã).
  • Thời gian: Tập trung phân tích số liệu thực trạng giai đoạn 2005 – 2011 và đề xuất định hướng phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2015.
  • Nội dung: Đánh giá các nhân tố nguồn lực, hiện trạng các phân ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp) và định hướng giải pháp không gian lãnh thổ nông nghiệp.

Khóa luận điểm lại lịch sử nghiên cứu tại Lâm Đồng, ghi nhận các công trình chuyên ngành nông học như nghiên cứu tái canh cà phê vối của ThS. Chế Thị Đa (2009), mô hình trồng dâu nuôi tằm tại Đam Rông của TS. Lê Quang Tú (2008), mô hình rau an toàn tại Bảo Lộc, hay các nghiên cứu tiềm năng cà phê và ca cao của Trường Đại học Đà Lạt. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học Địa lí kinh tế - xã hội, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể và có hệ thống về bức tranh nông nghiệp của huyện Lâm Hà, tạo nên tính cấp thiết của đề tài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng khung lí luận dựa trên các khái niệm nền tảng của Địa lí nông nghiệp và Kinh tế nông nghiệp: khái niệm về sản xuất nông nghiệp, vai trò kinh tế - xã hội, cơ cấu nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp; theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi), cùng hệ thống các nhân tố ảnh hưởng (nhân tố tự nhiên: đất, khí hậu, nguồn nước; nhân tố kinh tế - xã hội: dân cư, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật, thị trường, đường lối chính sách). Khung lí luận cũng phân tích các quan điểm chỉ đạo của Đảng từ Đại hội V và Đại hội VI (tập trung 3 chương trình mục tiêu: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; đường lối đổi mới kinh tế nông hộ và cơ chế khoán 10), đồng thời phân biệt các hình thức canh tác (thâm canh, quảng canh) và các giai đoạn tiến hóa sản xuất (nông nghiệp cổ truyền, hiện đại, sinh thái, nông nghiệp sạch và bền vững).

Nghiên cứu được tiếp cận dựa trên 4 quan điểm khoa học địa lí:

  • Quan điểm hệ thống: Đặt nông nghiệp Lâm Hà trong tổng thể nền kinh tế huyện và hệ thống kinh tế của tỉnh Lâm Đồng.
  • Quan điểm lãnh thổ: Phân tích sự phân hóa tiềm năng và hiện trạng sản xuất theo từng đơn vị hành chính xã, thị trấn, cụm xã.
  • Quan điểm viễn cảnh: Xem xét quá trình phát triển nông nghiệp trong mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và dự báo xu hướng tương lai.
  • Quan điểm tổng hợp: Phân tích sự tương tác qua lại giữa các nhân tố tự nhiên, kỹ thuật và kinh tế - xã hội tác động đến sản xuất.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp 4 phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp thu thập tài liệu: Khai thác dữ liệu từ Niên giám thống kê, Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng, Chi cục Thống kê huyện Lâm Hà, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, các báo cáo chuyên ngành và tài liệu khoa học liên quan.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: So sánh, đối chiếu, xử lý chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2005 – 2011 nhằm rút ra các chỉ số tăng trưởng, năng suất, sản lượng và cơ cấu kinh tế.
  • Phương pháp bản đồ và biểu đồ: Xây dựng bản đồ hành chính, biểu đồ cơ cấu đất đai, biểu đồ tăng trưởng các nhóm cây trồng và vật nuôi để trực quan hóa không gian và tiến trình biến động.
  • Phương pháp ngoài thực địa: Quan sát thực tế cảnh quan nông nghiệp, gặp gỡ nắm bắt tình hình canh tác tại các nông hộ, trang trại và cơ sở chế biến trên địa bàn huyện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lí luận

Chương này khái quát bản chất của nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất, giữ vai trò cung ứng lương thực, thực phẩm, tạo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, mở rộng thị trường và tạo nguồn hàng xuất khẩu. Tác giả phân tích cơ cấu nông nghiệp gồm ngành trồng trọt (cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, hoa màu) và ngành chăn nuôi (gia súc lớn, gia súc nhỏ, gia cầm). Đồng thời, chương I hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng:

  • Điều kiện tự nhiên (đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu; khí hậu quy định mùa vụ và tập đoàn cây trồng; nguồn nước chi phối khả năng thâm canh và tưới tiêu).
  • Điều kiện kinh tế - xã hội (dân số nông thôn, kinh nghiệm của lao động, cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, mạng lưới điện, cơ giới hóa, chính sách khuyến nông và vốn tín dụng).
  • Các hình thức canh tác nông nghiệp, chỉ rõ xu hướng chuyển dịch tất yếu từ quảng canh sang thâm canh, hướng tới phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch và sinh thái bền vững.

Chương II: Tiềm năng, hiện trạng phát triển nông nghiệp của huyện Lâm Hà - tỉnh Lâm Đồng

Chương II là phần trọng tâm của khóa luận, gồm 2 nội dung lớn:

1. Khái quát và đánh giá tiềm năng nông nghiệp huyện Lâm Hà:

  • Vị trí và địa hình: Huyện Lâm Hà nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Lâm Đồng, diện tích tự nhiên 97.852,49 ha (chiếm khoảng 10% diện tích tỉnh), tọa độ từ 11°40' đến 12°05' vĩ độ Bắc và 107°57' đến 108°25' kinh độ Đông; giáp thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương, Di Linh, Đức Trọng, Đam Rông và tỉnh Đắk Nông. Địa hình cao nguyên lượn sóng (độ cao trung bình 900 - 1.000 m so với mực nước biển), dốc từ đỉnh Hòn Nga (cao trên 1.900 m) xuống vùng trũng thấp nhất là thôn Phi Có (497 m), hạn chế ngập úng mùa mưa nhưng dễ xói mòn rửa trôi nếu thiếu mương rãnh thoát nước.
  • Tài nguyên đất: Năm 2011, tổng diện tích đất nông nghiệp đạt 48.089,8 ha (chiếm 51,17% diện tích tự nhiên). Các nhóm đất gồm: đất đỏ vàng phát triển trên đá bazan rộng 20.002 ha (chiếm 9,04% toàn tỉnh, là địa bàn lý tưởng trồng cà phê, chè); đất mùn đỏ vàng trên núi cao có rừng che phủ đạt 16.174,8 ha (13% toàn tỉnh); đất phù sa ven sông Đồng Nai, K'Rông Nô, Đa Nhim đạt 5.741 ha (19,29% toàn tỉnh, thích hợp cho lúa, rau, dâu tằm); đất đen trên đá bazan 3.797 ha (30,97% toàn tỉnh); đất lầy và than bùn 275 ha (49,28% toàn tỉnh).
  • Tài nguyên nước và khí hậu: Nguồn nước mặt dồi dào từ hệ thống sông Đa Dâng, sông Đa Đờn, suối Cam Ly; hệ thống thủy nông đập Đạ Đờn bảo đảm tưới cho khoảng 2.000 ha lúa 2 vụ và cây công nghiệp; đập Cam Ly Thượng cấp nước cho thị trấn Nam Ban và 3 xã lân cận. Khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình năm khoảng 21°C, độ ẩm trung bình 80%, phân hóa 2 mùa rõ rệt (mùa mưa tháng 5 – 10, mùa khô tháng 11 – 4 năm sau).
  • Nguồn lực kinh tế - xã hội: Dân số năm 2011 đạt 141.000 người, mật độ 150,5 người/km2, gồm 30 dân tộc chung sống (dân tộc K'ho có 17.146 người, dân tộc Mạ có 3.781 người, cùng cộng đồng người Kinh gốc Hà Nội và các tỉnh phía Bắc vào xây dựng kinh tế mới). Toàn huyện có 97.000 người trong độ tuổi lao động, trong đó lao động nông - lâm nghiệp chiếm 64.000 người.
  • Cơ sở hạ tầng và chế biến: Tuyến Quốc lộ 27 chạy dài trên 50 km qua địa bàn kết nối Đắk Lắk, Ninh Thuận, TP. Hồ Chí Minh; tỉnh lộ 725 kết nối Đà Lạt. Công nghiệp chế biến có Nhà máy Chế biến cà phê Thái Hòa (diện tích 15 ha, vốn đầu tư 550 tỷ đồng, dây chuyền chế biến ướt 65.000 tấn/năm, cà phê hòa tan 2.000 tấn/năm theo công nghệ sấy phun Niro Đan Mạch, chế biến phân vi sinh 20.000 tấn/năm); tại xã Phúc Thọ có 2 nhà máy chế biến chè vốn Đài Loan (tiêu biểu là Công ty Jung Hong với vùng nguyên liệu 96 ha chè ô long).

2. Hiện trạng sản xuất ngành nông nghiệp (2005 – 2011): Năm 2011, nông nghiệp chiếm khoảng 71% GDP của huyện, tốc độ tăng trưởng ngành đạt 8,47%, giá trị sản xuất bình quân đạt trên 86 triệu đồng/ha. Trồng trọt chiếm 84% cơ cấu giá trị nội ngành nông nghiệp.

Bảng tổng hợp diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chủ yếu giai đoạn 2005 - 2011:

Nhóm cây trồng Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2008 Năm 2011 Xu hướng biến động
Cây lúa Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Năng suất (tạ/ha)
3.488
13.968
40,05
2.502
9.800
39,17
2.964
14.100
47,57
Diện tích giảm do chuyển đổi đất, năng suất và sản lượng tăng nhờ thâm canh. Tập trung tại Tân Văn, Đạ Đờn, Đinh Văn.
Cây ngô Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Năng suất (tạ/ha)
1.622
7.730
47,66
1.954
9.400
48,11
1.683
7.739
45,98
Tăng nhẹ diện tích, dùng làm thức ăn chăn nuôi; trồng nhiều ở Đan Phượng (795 ha), Liên Hà (448 ha).
Khoai lang Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
716
118,97
560
120,47
335
122,00
Diện tích giảm hơn 50%, năng suất tăng nhẹ.
Sắn Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
63
788
45
540
21
265
Diện tích và sản lượng giảm mạnh, nhường đất cho cây công nghiệp.
Rau các loại Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
651
7.277
780
8.950
>1.000
>12.000
Tăng trưởng nhanh; tập trung tại Tân Thanh (160 ha), Mê Linh (138 ha), Đinh Văn (110 ha).
Đậu các loại Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
718
796
620
743
491
556
Diện tích giảm 227 ha, sản lượng giảm 240 tấn do chuyển sang cây dài ngày.
Cà phê Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
32.061
68.105
36.065
87.695
39.945
87.800
Cây trồng chủ lực, chiếm >80% đất nông nghiệp; đứng thứ 2 toàn tỉnh sau huyện Di Linh.
Chè Diện tích (ha)
Sản lượng búp (tấn)
506
3.250
450
2.980
365
2.450
Diện tích thu hẹp; tập trung 180 ha chè ô long công nghệ cao tại xã Phúc Thọ.
Dâu tằm Diện tích (ha) ~1.500 ~1.650 1.792 Phát triển ổn định gắn với các làng nghề ươm tơ dệt lụa Nam Ban, Tân Hà.

Bên cạnh trồng trọt, huyện phát triển chăn nuôi gia súc lớn (bò, trâu), gia súc nhỏ (lợn xuất chuồng), gia cầm; tận dụng 1.309 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản nước ngọt và quản lý 22.010 ha diện tích đất có rừng.

Chương III: Định hướng phát triển ngành nông nghiệp huyện Lâm Hà

Chương III trình bày hệ thống định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2015:

  • Định hướng chung: Gia tăng tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi gắn với công nghiệp chế biến và bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Định hướng theo phân ngành:
    • Cây công nghiệp lâu năm: Duy trì diện tích cà phê ở mức hợp lý (khoảng 39.000 – 40.000 ha), tập trung tái canh bằng giống ghép và Catimor năng suất cao; mở rộng diện tích chè ô long chất lượng cao tại Phúc Thọ; ổn định và nâng cao sản lượng dâu tằm tại vùng Nam Ban - Tân Hà.
    • Cây lương thực và thực phẩm: Giữ vững diện tích lúa nước 2 vụ tại vùng thung lũng phù sa (Đạ Đờn, Tân Văn, Đinh Văn) để bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ; mở rộng diện tích rau, hoa công nghệ cao tại các xã giáp ranh Đà Lạt (Mê Linh, Đông Thanh, Tân Thanh).
    • Chăn nuôi và thủy sản: Phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao theo mô hình gia trại, trang trại khép kín; khai thác hiệu quả diện tích mặt nước hồ chứa, ao đầm để nuôi thả cá nước ngọt.
  • Hệ thống giải pháp thực hiện: Tăng cường vốn đầu tư hạ tầng thủy lợi (kiên cố hóa kênh mương, xây dựng hồ đập trữ nước mùa khô); đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật thâm canh; củng cố mối liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông); hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa chi tiết bức tranh phát triển nông nghiệp của huyện Lâm Hà giai đoạn 2005 – 2011 thông qua các dữ liệu thực tế:

  • Xác định vị thế hàng đầu của huyện Lâm Hà về cây công nghiệp dài ngày tại tỉnh Lâm Đồng, với diện tích cà phê đạt 39.945 ha năm 2011 (trong đó có 4.100 ha cà phê Catimor, 325 ha cà phê ghép), đứng thứ hai toàn tỉnh sau huyện Di Linh.
  • Ghi nhận tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tới 71% GDP của huyện, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp năm 2011 đạt 8,47%, giá trị thu nhập bình quân đạt trên 86 triệu đồng/ha canh tác.
  • Làm rõ tính chuyển dịch cơ cấu cây trồng: giảm diện tích cây lương thực ngắn ngày (lúa giảm từ 3.488 ha xuống 2.964 ha; khoai lang giảm từ 716 ha xuống 335 ha; sắn giảm từ 63 ha xuống 21 ha) để chuyển sang cây công nghiệp lâu năm và vùng chuyên canh rau, hoa công nghệ cao (rau tăng từ 651 ha lên trên 1.000 ha).
  • Khái quát mô hình liên kết sản xuất - chế biến tiêu biểu với sự tham gia của các doanh nghiệp lớn (Nhà máy Chế biến Cà phê Thái Hòa quy mô 15 ha, vốn 550 tỷ đồng; các doanh nghiệp FDI chế biến chè ô long Jung Hong, Long Đỉnh tại Phúc Thọ).

Đóng góp của khóa luận là công trình đầu tiên tại Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh phân tích tổng hợp tiềm năng và hiện trạng nông nghiệp huyện Lâm Hà dưới góc độ khoa học Địa lí kinh tế - xã hội, cung cấp hệ thống chuỗi số liệu từ cấp huyện đến cấp xã một cách toàn diện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện của tác giả:

  • Nguồn số liệu thống kê giữa các cơ quan ban ngành đôi lúc chưa hoàn toàn đồng nhất về mốc thời gian, buộc tác giả phải quy chiếu theo số liệu công bố chính thức của Cục Thống kê và Chi cục Thống kê huyện.
  • Do giới hạn thời gian thực địa, phần nghiên cứu ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp chưa được đào sâu tương xứng với ngành trồng trọt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài có thể mở rộng đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của các mô hình nông nghiệp công nghệ cao (nhà kính, tưới tiết kiệm) trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khan hiếm nguồn nước mùa khô tại Tây Nguyên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu có giá trị khoa học và thực tiễn:

  • Đối tượng học tập, nghiên cứu: Sinh viên, học viên các ngành Địa lí học, Địa lí kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên đất đai khi thực hiện các khóa luận, đề tài nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp cấp huyện ở vùng Tây Nguyên.
  • Phần nội dung giá trị: Chương II của khóa luận là tài liệu tham khảo chi tiết về hệ thống số liệu thổ nhưỡng, mạng lưới thủy văn, hiện trạng phân bố các loại cây trồng (cà phê, chè ô long, dâu tằm, lúa, rau) theo từng đơn vị hành chính xã của huyện Lâm Hà giai đoạn 2005 – 2011.

Câu hỏi thường gặp

1. Huyện Lâm Hà có những nhóm đất chính nào và nhóm đất nào chiếm ưu thế cho sản xuất nông nghiệp? Theo văn bản, Lâm Hà có 6 nhóm đất chính: đất đỏ vàng phát triển trên đá bazan (20.002 ha), đất mùn đỏ vàng trên núi cao (16.174,8 ha), đất phù sa (5.741 ha), đất đen trên đá bazan (3.797 ha), đất lầy than bùn (275 ha) và đất thung lũng tích tụ. Trong đó, nhóm đất đỏ vàng bazan là nhóm đất có ý nghĩa lớn nhất, chiếm diện tích chủ yếu để phát triển cà phê, chè và dâu tằm.

2. Ba loại cây trồng nào được Huyện ủy và UBND huyện Lâm Hà chọn làm mũi nhọn đột phá từ năm 2008? Từ năm 2008, chính quyền huyện Lâm Hà đã xác định lấy cây cà phê, cây chè và cây dâu tằm làm "3 mũi nhọn" chiến lược để đột phá và tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

3. Công nghiệp chế biến nông sản tại Lâm Hà có cơ sở chế biến quy mô lớn nào được đề cập? Khóa luận nêu bật Nhà máy Chế biến cà phê Thái Hòa (xây dựng trên 15 ha, tổng vốn đầu tư 550 tỷ đồng, công suất 65.000 tấn chế biến ướt/năm, 2.000 tấn cà phê hòa tan/năm theo công nghệ sấy phun Niro của Đan Mạch và 20.000 tấn phân vi sinh/năm) cùng các nhà máy chế biến chè ô long xuất khẩu của doanh nghiệp Đài Loan tại xã Phúc Thọ như Công ty Jung Hong (sở hữu 96 ha chè nguyên liệu).

4. Xu hướng biến động diện tích giữa cây lương thực và cây công nghiệp tại Lâm Hà giai đoạn 2005 – 2011 diễn ra như thế nào? Giai đoạn 2005 – 2011, diện tích cây lương thực và cây hàng năm có xu hướng giảm (diện tích lúa giảm từ 3.488 ha xuống 2.964 ha, khoai lang giảm từ 716 ha xuống 335 ha, sắn giảm từ 63 ha xuống 21 ha), trong khi diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng mạnh từ 32.061 ha lên trên 40.000 ha, chiếm trên 80% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn huyện.

5. Cơ cấu dân tộc và đặc điểm lao động tại huyện Lâm Hà ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp? Huyện có 30 dân tộc chung sống, trong đó người K'ho (17.146 người) và người Mạ (3.781 người) là cư dân bản địa lâu đời, cùng bộ phận lớn người Kinh gốc Hà Nội và các dân tộc thiểu số phía Bắc di cư đến sau năm 1975. Năm 2011, lực lượng lao động nông - lâm nghiệp chiếm 64.000 người trên tổng số 97.000 người trong độ tuổi lao động, có kinh nghiệm canh tác phong phú nhưng trình độ tiếp cận khoa học kỹ thuật chưa đồng đều.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đàm Thị Thương đã phác họa toàn diện bức tranh nông nghiệp huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) giai đoạn 2005 – 2011 dưới góc độ Địa lí kinh tế - xã hội. Bằng việc phân tích sâu sắc các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và số liệu sản xuất thực tế, công trình đã làm nổi bật vai trò then chốt của 3 cây trồng mũi nhọn (cà phê, chè, dâu tằm) cùng mối liên kết với công nghiệp chế biến. Các định hướng và giải pháp được tác giả đề xuất bám sát thực tiễn lãnh thổ, cung cấp cơ sở khoa học hữu ích cho công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.