Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC SONG - KHÁI NIỆM VÀ CÁC CHỈ TIÊU MỨC SỐNG Il. Khái niệm về mức sống Mức sống là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế- xã hội phản ánh khả năng tình hình sử dụng qũy tiêu dùng của cá nhân. Hiện nay mức sống được hiểu một cách chung nhất là: “Tổng giá trị hàng hóa và các dịch vụ sinh hoạt mà với cơ cấu của sản xuất ra tư liệu tiêu dùng nhất định là mối quan hệ tỉ giá nhất định giữa các tư liệu đó có khả năng thỏa mãn nhu cẩu vật chất và văn hóa của người din tại một thời điểm phát triển kinh tế xã hội của đất nước ". Mức sống phẩn nào đánh giá được trình độ phát triển kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia.
Vì vậy, các quan điểm đánh giá mức sống rất phức tạp nó thay đổi theo thời gian và không gian tùy thuộc vào mỗi chế độ xã hội, đẳng cấp tôn giáo. Gần đây, nhóm chuyên gia của Liên Hợp Quốc đã nghiên cứu và đánh giá chất lượng cuộc sống của con người. Theo họ, ngoài thu nhập, và chỉ tiêu chất lượng cuộc sống còn phải kể đến tuổi thọ bình quân, giáo dục và sự tăng lên của tài nguyên. Mức sống mang tính định lượng, người ta đánh giá mức sống dựa vào các chỉ tiêu cơ bản vé đời sống tinh thin và đời sống vật chất của con người trong mối quan hệ tổng hòa với điều kiện phát triển dân số và tài nguyên môi trường.
Mới đây viện nghiên cứu phát triển xã hội của Liên Hợp Quốc (UNRISD) đã đưa ra chỉ số xã hội để đo vật chất sự phát triển của con người và qua đó cho phép hình dung mức sống giàu nghèo của mỗi quốc gia. Các chỉ số này vừa như bổ sung cho chỉ số thu nhậm bình quân đầu người, vừa như giải pháp khắc phục tính hạn chế của các chỉ số truyền thống. Những chỉ số xã hội đó là: số trẻ sơ sinh bị chết, tuổi thọ dự tính, mức tiêu dùng Protein, ti lệ xóa mù chữ ở người lớn và một số vẻ khả năng đảm bảo tự do, phát triển cá nhân. Hội đồng phát triển hải ngoại (ODC) đã đưa ra khái niệm * Chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống PQLI” để cập vào ba điểm có tính phổ biến về nhu cẩu cơ bản của con người: “Tuổi thọ dự báo khí một tuổi, Uf lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tỉ Luận văn tốt nghiệp GVHD TS : Phạm thị Xuân Thọ lẻ xóa mù chữ".
Theo những chỉ số này, các nước giàu nhất không phải luôn có chất lượng cuộc sống cao nhất. Ngoài ra, Liên Hợp Quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống của con người bao gốm cả thu nhập quốc dan bình quân đẫu người, thành tựu y tế xã hội và trình độ văn hóa, giáo dục. Tổng hợp lại là chỉ số phát triển HDI. Giá trị của HDI sẽ từ 0,00 đến 1.
Nước nào có HDI lớn hơn chứng tỏ sự phát triển con người cao hơn. Các chỉ tiêu đánh giá mức sống Các chỉ tiêu đánh giá mức sống chính là những vấn để thiết yếu đối với cuộc sống của con người như; lương thực dinh đưỡng, thu nhập, nhu cấu nhà ở, điện nước sinh hoạt. Theo điều tra cho thấy rằng: * Hai gia đình có mức thu nhập và chỉ tiêu đầu người như nhau, gia đình nào được sử dụng các dịch vụ công cộng cao hơn sé có mức sống khá hơn nhiều so với gia đình không sử dung”. Chính vì vậy mà nhiễu nước có thu nhập cao mà không có mức sống cao.
Ngược lại như ở Việt Nam chúng ta thu nhập tính theo đầu người (GDP) xếp ở nhóm thấp nhất, nhưng nếu xếp theo chỉ số phát triển nhân bản HDI thì lại xếp ở nhóm nước trung bình. (HDI) là sự kết hợp ba thành phẩn cơ bản: tuổi thọ trí thức (gồm cả người biết chữ và số năm đến trường) và GDP bình quân đầu người. Chỉ số này không chỉ phản ánh quy mô sản xuất, tiêu dùng theo đầu người về các giá trị sản xuất mà còn phản ánh một phần giá trị tinh thắn đạo lý, van hóa, giáo dục, y tế công bằng xã hội và chất lượng môi trường. Các chỉ tiêu đánh giá mức sống có sự khác nhau giứa các khu vực, quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên vé cơ bản đều dựa vào các chỉ tiêu cụ thể sau: 1.1 Thu nhập và thu nhập bình quân đầu người Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product (GNP)) là tiêu chuẩn được nêu ra trước tiên để so sánh, đánh giá quy mô mức độ phát triển kinh tế và mức sống giữa các nước. GNP là tổng giá trị toàn bộ các sản phẩm cuối cùng và các hoạt động dịch vụ được tạo ra hàng nim của mỗi nước, không kể các sản phẩm trung gian và các phan giá trị phải chỉ trả cho người nước ngoài. Nhung lại bao Luận văn tốt nghiệp GVHD TS : Pham thị Xuân Tho gốm các phan giá trị được tao ra ở nước ngoài mà thuộc quyển sở hữu của người trong nước. Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product (GDP)) là chỉ tiêu so sinh cũng thường được dùng hoặc thay thế cho GNP.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) cũng giống như tổng sản phẩm quốc dân (GNP) chỉ khác ở chỗ GDP không bao gém những phan giá trị của người trong nước tạo ra ở nước ngoài, nhưng lại bao gốm cả những phần giá trị của người nước ngoài tạo ra trong lãnh thổ quốc gia. Trên thế giới các quốc gia thường rơi vào một trong hai trường hợp: một là GNP lớn hơn GDP; hai là GNP nhỏ hơn GDP. Nhóm nước có GNP lớn hơn GDP là những nước có nên kinh tế mạnh có nhiều vốn dau tư nước ngoài. Các khoản tién gởi vé nước của họ khá lớn, trong khi các khoản tién trả cho người nước ngoài nhỏ hơn.
Ngược lại những nước có GNP nhỏ hơn GDP là những nước có nên kinh tế kém phát triển. Những nước này đang phát triển phải chấp nhận nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài nên phải chuyển một phân thu nhập cho Igười nước ngoài. Thu nhập quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm trong nước (GDP) phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, mức độ gia tăng dân số. Vì vậy GNP và GDP ở các nước, các khu vực rất khác nhau.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) phân thành 6 loại nước giàu nghèo theo mức thu nhập năm 1990 tính theo đầu người là: Trên 25000USĐ/ năm là nước cực giàu Từ 20000USD/ năm là nước giàu Từ 10000 - 20000USD/ năm là nước khá giàu Từ 2500 - 10000USĐ/năm là nước trung bình Từ 500 - 2500USD/nam là nước nghèo Dưới 500USĐ/ năm là nước cực nghèo. Nhưng GNP/người và GDP/người không phản ánh được tính ngang giá của sức mua. Vì vậy từ đầu thập niên 90 Liên Hợp Quốc đã đưa ra phương pháp tính GDP của mỗi nước theo sức mua tương đương PPP hay đơn giá sức mua. Kết quả cho thấy các nước đang phát triển có thu nhập thấp GDP thực tế bình quân đầu rang : u Hiện Luận vàn tốt nghiệp GVHD TS : Phạm thị Xuân Thọ ——— cm ==ễễễễễễ người đều tăng lên gấp hai lin.
Đối với các nước có thu nhập cao thì nhiều nước có kết quả ngược lại ( Thụy Sỹ GDP/ người năm 1998 theo tỉ giá hối đoái là 43060USD còn theo phương pháp PPP là 25240USD). Ngoài ra để đánh giá mức sống của mỗi dân tộc, quốc gia, Liên Hợp Quốc còn đưa ra một số chỉ tiêu bao gồm thu nhập quốc dn tính theo đấu người, thành tựu Y tế xã hội, trình độ văn hóa - giáo duc, đó chính là chỉ số phát triển nhân bản HDI. Chỉ số HDI cho thấy nhiều nước giàu có thu nhập cao nhưng chưa đầu tư cho Y tế giáo dục công đồng nên xếp theo HDI vị trí của nước này giảm đi. Ngược lại một nước có thu nhập thấp nhưng lại có biện pháp chính sách tích cực quan tâm đến Y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cộng đồng nên xếp theo chỉ số HDI của nhựng nước này tăng lên.
VD: Việt Nam, theo ngân hàng thế giới năm 1998 GDP bình quân dau người là 340USD xếp thứ 156 trong số 174 nước. Nhưng nếu tính theo phương pháp PPP thì GDP bình quân đấu người của năm 1998 là 1690USD xếp thứ 110 trong số 174 nước, với chỉ số 0,664. Theo báo cáo phát triển con người năm 2000 của UNDP, trong năm 2000 Việt Nam xếp thứ 108 trong số 174 nước chỉ số HDI là 0,671 Bằng 1.1: Chỉ số phát triển HDI một số nước Đông Nam A năm 1998 đầu người năm 1993 theo phương pháp Adas (USD) (Nguồn 3: Niên giảm thống kê dân số thé giới] Luận văn tốt nghiệp GVHD TS : Pham thi Xuân Tho ——— hv eer Sự phân hóa GDP va GNP bình quân đấu người rất khác nhau giữa các vùng trong nước. Chính sự chênh lệch về thu nhập dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
Đặc biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị mức sống chênh lệch nhau khá lớn. Ngân hàng thế giới cho rằng chỉ tiêu thu nhập trên đầu người hàng năm bằng 370USD (khoảng > 30USD /tháng) là ngưỡng đánh giá sự nghèo khổ. Tuy nhiên giữa các vùng và các quốc gia khác nhau chỉ số này có sự thay đổi. VD: người thu nhập ở Srilanca thu nhập là 27USD/ người/ tháng.
ở Bangladet là 11USD/ người/ tháng, ở Philippin 85USD/ người/ tháng. Ở Việt Nam chuẩn mực nghèo đo Bộ Lao động Thương bình và xã hội đưa ra nam 1977 lấy mức thu nhập bình quân đâu người một tháng quy ra gạo để đánh giá sự nghèo khổ được quy ra hai ngưỡng: Đói : xác định cho tình trang dân cư chỉ có thu nhập đảm bảo cho mức sống tối thiểu < 13kg gạo/ người/ tháng và thu nhập < 45000" / người/ tháng. Nghèo : Đối với nông thôn < 20kg gao/ người/ tháng và < 70000% người/ tháng Đối với thành thị < 25kg gạo/ người/ tháng và 70000/ người/ tháng Với tiêu chuẩn này năm 1998 cả nước còn 2,4 triệu hộ ( 12,5 triệu người nghèo đói chiếm 15,7% tổng số người dân. Đại bộ phận người nghèo (90%) sống ở nông thôn vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ duyên hải miền Trung va Tây Nguyên Bangl.
2: Tiêu chuẩn được coi là đói nghèo của Việt Nam năm 1997( do Bộ Lao động Thương bình Xã hội dé ra).