Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA TONG QUAN VE HỆ SINH THÁI RỪNG VIỆT NAM 1. Hệ sinh thái rừng Hệ sinh thái rừng là một hệ sinh thái mà thành phần nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lí của chúng (khí hậu, dat,. Nội dung nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng với các sinh vật khác trong quần xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa những sinh vật này với hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng (theo E.Belov - 1976 Rừng: dựa trên quan điểm hệ thống đưa ra định nghĩa “Rừng là một hệ thống sinh học tự điều chỉnh, bao gồm thảm cây gỗ, cây bụi, thảm cỏ, động vật, vi sinh vật, đất và chế độ thủy văn, không khí và các sinh vật sống trong đất". % Theo Luật bảo vệ va phát triển rừng năm 2004 Rừng: là một quần thể hệ sinh thái bao gồm quần thẻ thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phan chính có độ che phủ tán rừng từ 0,1% trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, dat rừng sản xuất. Rừng khộp Rừng khộp là loại rừng thưa và thoáng, thường phân bố những vùng có khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt. Ở rừng khộp, cây rừng phát triển mạnh vào mùa mưa và rụng lá vào mùa khô. Vì cây lá rụng nhiều, ở mặt dat lại thường có các loại cỏ, le và cây con mọc dày đặc nên loại rừng này cực kì dễ cháy vào mùa khô.
Tuy nhiên chính lại là yếu tố tích cực làm quả cây có đủ điều kiện để nảy mầm và tạo nên sức tái sinh mãnh liệt của rừng khộp. Vào mùa khô, rừng trơ trụi lá, đất đai khô căn, các -9- dòng suối trong rừng hau hết đều cạn kiệt, nhìn như những khu rừng chết, những chỉ cần có một cơn mưa thoáng qua là cả khu rừng lập tức bừng màu xanh trở lại. Sự suy thoái hệ sinh thái rừng Suy thoái hệ sinh thái rừng có thé hiểu là sự suy giảm diện tích, tính đa dạng, từ đó làm suy giảm giá trị, chức năng của hệ sinh thái rừng. Hiện nay, đối với rừng đang diễn ra suy thoái một cách nhanh chóng chưa từng có mà nguyên nhân chủ yếu là do tác động của con người.
Bảo ton da dang sinh học Bảo tồn đa dang sinh học là việc quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai (theo Từ điển Đa dạng sinh học và phát triển bền vững). Biến đổi khí hậu Theo công ước chung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lí hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hai đáng kể đến thành phan, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”. Theo Cục quản lí đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA): Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình. Nó có thể được hiểu như một sự thay đổi của nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình ở một vị trí nhất định trong thời gian dài thường là vài thập kỉ hoặc dài hơn.
Theo Tổng cục môi trường Việt Nam, biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí quyền, thủy quyển, sinh quyền, thạch quyền hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. Tóm lại, khái niệm về biến đổi khí hậu theo mỗi tổ chức khác nhau là khác nhau. Tuy vậy, qua quá trình tham khảo tài liệu nhận thấy: biến đổi khí hậu là sự thay đổi trạng thái khí hậu trên Trái Dat theo không gian và theo thời gian. Tong quan vé hé sinh thai rirng Viét Nam Ngày nay, do dân số tăng nhanh, nhu cầu về tài nguyên ngày càng lớn nên đã gây sức ép đối với các loại tài nguyên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng.
Vì vậy, vấn đề suy giảm tài nguyên rừng đã và đang trở thành van dé chung, cấp bách của toàn thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Trong những năm gan đây do việc khai thác quá mức cùng với thiên tai, tài nguyên rừng của nước ta đã bị suy giảm. Vì vậy, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng đang là vấn đề đặt ra hàng đầu đối với nước ta hiện nay. Diễn biến diện tích rừng ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 ~ Có rừng Rừng tự ong | Độ che phủ [Bs | SLOG | TREAT | H357 | 718.
| OT 2H | 8548 | T5EEES | HAIEIM | 5487H | Oe HH [sess | TEEH3H | NGHME| 75158 | ĐM5I —- [ows | 724886 | H2836 | 33M | 25B5H | ase 2m [58551 | H5EM | B62H5H | 52561 | TORS | [ TH | zee | H096 | 102186 | 3S | aa Nguon: ki wwem w.yn Theo Quyết định số 1739/QD-BNN-TCLN ngày 31/07/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2012, diện tích rừng toàn quốc chỉ còn 13.043ha, độ che phủ rừng 41,882% (không kẻ diện tích cây cao su) trong đó 10.844ha rừng tự nhiên và 3.200ha rừng trồng; được phân chia theo 3 loại rừng như sau: - Rừng đặc dụng: 2.6%; - Rừng phòng hộ: 4.403,89ha, chiếm 33,7%; - Rừng sản xuất : 6. - Ngoài quy hoạch đất Lâm nghiệp: 200. Báo cáo tổng hợp cho biết, tổng diện tích rừng tự nhiên cả nước khoảng hơn 10,4 triệu ha, tổng trữ lượng gỗ là 862 triệu mỶ. Trong đó, có 4,3 triệu ha rừng tự nhiên sản xuất với trữ lượng 350 triệu mỶ gỗ, nhưng diện tích rừng giàu, có trữ lượng gỗ cao trên 250 mỶ/ha chỉ chiếm khoảng 5%, trong khi rừng nghèo, rừng non phục hồi và rừng hỗn giao chiếm tới 80%.
Giai đoạn trước đây, do công tác quan lý lỏng léo nên hàng loạt các liên hiệp và các lâm trường quốc doanh ra đời, rừng tự nhiên bị khai thác lớn. Sản lượng khai thác bình quân lên đến 1 triệu m”/năm. Từ năm 2005, công tác quản lý khai thác gỗ được siết chặt, phân cấp cụ thé và giảm mạnh số lượng chủ rừng, nên lượng gỗ khai thác chi từ 200 - 300. Biểu đồ thể hiện sản lượng khai thác gỗ của nước ta và các vùng giai đoạn 2007 — 2012 Nguẳn số liệu: Tổng cục Thắng kê tinh Dak Lak Sản lượng gỗ khai thác nước ta liên tục tăng nhanh trong cả giai đoạn, năm 2012 tăng 51,7% so với năm 2007 (1.789,2 nghìn mỶ gỗ), trong đó giai đoạn tăng nhanh nhất là 2009 — 2011, chỉ trong hai năm mà sản lượng gỗ khai thác tăng 925,3 nghìn m’ gỗ.
Trong năm 2012, Tây Nguyên chiếm 11,8% sản lượng gỗ khai thác cả nước (620,3 nghìn mì), riêng tỉnh Dak Lak chiếm 15,6% trong toàn bộ vùng Tây Nguyên và chiếm 1,8% so với cả nước. -12- Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI RỪNG TỈNH DAK LAK 2. Khái quát tinh Đăk Lak 2. Vị trí địa lí Tinh Đăk Lak nằm trên địa bàn vùng Tây Nguyên, trong toa độ địa lí từ 10792857" — 108°59°37" kinh Đông và từ 12°09°45” — 13°25°06” vĩ Bắc.
- Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai - Phía Nam giáp tỉnh Đăk Nông, Lâm Đồng - Phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hoà - Phía Tây giáp Vương quốc Cam Pu Chia và tỉnh Đăk Nông. Là tỉnh có đường biên giới dài 70km chung với nước Cam Pu Chia, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vùng biên kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng. Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên. Trung tâm thành phố là điểm giao cắt giữa quốc lộ 14 (chạy xuyên suốt tỉnh theo chiều từ bắc xuống nam) với quốc lộ 26 và quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với các thành phố Nha Trang (Khánh Hoà), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Pleiku (Gia Lai).
Cùng với đường Hồ Chí Minh và trong tương lai khi đường hàng không được nâng cấp thì Đăk Lăk sẽ là đầu mối giao lưu rất quan trọng nối liền các trung tâm kinh tế của cả nước như Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là động lực lớn, thúc đây nền kinh tế của tỉnh cũng như toàn vùng Tây Nguyên phát triển. -13- i Perel aa tae Phe Fae Phe + eee oe ee oe oe Ber c na oe bee LỢI Dew ee Hình 2. Ban dé hành chính tinh Dak Lak 2.
Đặc điểm tự nhiên 2. Địa chất Nét đặc trưng của địa chất Dak Lak là sự có mặt của thành tạo địa chất cổ đới Kon Tum có tuổi Proterozoi với các thành phan thạch học chủ yếu bao gồm nhóm đá mắc - ma axit và đá biển chất phân bố ở M'Đräk, Ea Kar, Krông Bông va phần phía bắc Krông Nang, Ea H'leo; nhóm đá tram tích lục nguyên phân bố chủ yếu ở phía tây của tỉnh, khu vực Ea Sap, Buôn Đôn, Krông Pak, Lak; nhóm đã mắc — ma bazơ (chủ yếu đá bazan) có quy mô diện tích khá lớn, phân bố tập trung ở cao nguyên Buôn Ma Thuột, Ea H'leo và một phần nhỏ ở cao nguyên M’Drak: nhóm tram tích bở rời phủ sa vả dốc tụ (aluvi và deluvi) phân bố ở địa hình thung lũng sông và trũng giữa núi, ven ria các cao nguyên va đọc các sông lớn. Địa hình Đại bộ phận diện tích của tỉnh nằm ở phía tây Trường Sơn, có hướng thấp dần từ đông nam sang tây bắc. Địa hình đa dạng đồi núi xen kẽ bình nguyên vả thung lũng, khái quát có thể chia thành các dạng địa hình chính sau: & Địa hình vùng núi Vùng núi cao Chu Yang Sin: nằm ở phía đông nam cia tỉnh với điện tích xắp xi bằng 1⁄4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, ngăn cách giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng), vùng có nhiều đỉnh núi cao trên 1.