CHƯƠNG I: CƠ SỞ LY LUẬN 1. NGUỒN LAO ĐỘNG 1. Khới niệm nguồn lao động: 1. Nguồn lao động Là bộ phận dân cư có đẩy đủ khả năng có thể sử dụng vào công việc lao động, kể cả vật chất và tinh thần.
[11] - Nguồn lao động có thể hiểu đồng nghĩa với nguồn nhân lực: là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia vào các ngành kinh tế quốc dân. Tiêu chuẩn chủ yếu của nguồn lao động: + Độ tuổi. * Ở mỗi quốc gia tùy theo tình trạng sức khỏe và thể chất của người dân nước mình mà có những quy định riêng về độ tuổi lao động. Nguồn lao động ở nước ta quy định: - Những người trong nhóm tuổi: nam từ 16 đến 60 tuổi; nữ từ 16 đến 55 tuổi có khả năng lao động.
Tính đến thời điểm điều tra ngày | tháng 7 năm 2000, nước ta có 36.725,3 ngàn người trong độ tuổi lao động, chiếm gần 1,3% dân số trong độ tuổi lao động của thế giới. - Những người ngoài độ tuổi lao động (trên và dưới độ tuổi lao động thực tế có việc làm). Vai trò nguồn lao động: Nguồn lao động là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, quyết định đối với việc phát triển kinh tế đất nước. Nguồn lao động dồi dào là yếu tố thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển, đó còn là một tiểm lực kinh tế, nguồn tài nguyên quý giá của mỗi SVTH: ống Thi Thu Van Trang 8 LL) Khda luda tht ughibip quốc gia.
và sử dụng nguồn lao động hợp lý sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn đất nước. Nền kinh tế Việt Nam còn nghèo nàn và lạc hậu, vì vậy vấn để tổ chức, phân bố nguồn lao động rất cẩn thiết để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tình thần cho nhân dân. Ngày nay khoa học kỹ thuật tiến bộ, nhân loại có thể sử dụng máy móc để thay thế sức lao động của con người. Tuy nhiên nguồn lao động vẫn giữ được giá trị của nó khi chất lượng lao động được nâng cao.
Nguồn lao động có trình độ kỹ thuật cao, sự cân cù, sáng tạo tư duy nhạy bén luôn cẩn thiết đối với sự phát triển kinh tế nước ta, đặc biệt là đối với TP. Hd Chí Minh, một thành phố phát triển kinh tế năng động. sáng tạo có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng và cả nước. SỬ DỤNG LAO ĐỘNG: 1.
Việc làm: - Mọi hoạt động lao động tao ra thu nhập khong bị pháp luật ngắn cấm gọi là việc làm. |3] * Các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: - Lam các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật. - Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tién hoặc hiện vat) cho công việc đó, 1. Người có việc làm: - Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động : đang làm việc như + Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiến hoặc hiện vật.
SVTH Tống Thi Thu “Đàn Trang 9 LL) Kida tude cất «24244 + Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tién công hay lợi nhuận trong công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình, Năm 2001 TP. Hồ Chí Minh có 2337.173 người đang làm việc [18]. Tỷ lệ người có việc làm: - Tỷ lệ người có việc làm là phan trăm số người có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế. - Tỷ lệ người có việc làm trên dan số ở độ tuổi lao động ở TP.
Hồ Chi Minh năm 1999 là 70% [1]. - Tỷ lệ người có việc làm giảm thể hiện việc giải quyết việc làm ở nước ta còn yếu kém, đặc biệt ở khu vực thành thị, do số người bổ sung vào lực lượng lao động ngày càng tăng. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển kinh tế đất nước. Thất nghiệp: Thất nghiệp là tất cả những người trong độ tuổi lao động không có việc làm được trả lương hoặc không tự tạo việc làm nhưng sẵn sàng và đã tiến hành nhiều nỗ lực để tìm kiếm việc làm có thu nhập hoặc tự tạo việc làm.
Người thất nghiệp: Người thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên có nhu cẩu làm việc nhưng không tìm kiếm được việc làm. Họ đã có hoạt động đi tìm việc, hoặc không có hoạt động đi tim việc vì không biết tìm ở đâu hoặc tìm mãi không được. Hoặc những người có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, họ muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc làm. SVTH: Giống Thi Thu Van Trang 10 Năm 2001 TP.
Hồ Chí Minh có 238.706 người chưa có việc làm (chiếm 6,7% số người trong tuổi lao động) { 18]. Tỷ lệ thất nghiệp: Tỷ lệ người thất nghiệp là phan trăm số người thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế [3]. - Tỷ lệ thất nghiệp của nước ta năm 2000 là 6,44% [8]. - Tỷ lệ thất nghiệp của TP.
Hồ Chí Minh năm 2000 là 6,48% cao hơn so chút ít với tỷ lệ thất nghiệp của cả nước, nhưng thấp hơn so với tỷ lệ thất nghiệp của Hà Nội (7,95%). * Tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta khá cao (6,44% năm 2000) nguyên nhân chính là do cung cầu lao động không cân đối, sử dụng lao động chưa hợp lý. Điều này gây ra sự lãng phí lao động trong xã hội, góp phan gia tăng số lượng người nghèo đói và tệ nạn xã hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, nâng cao mức sống người dân.
Để giải quyết vấn để này nhà nước cần tăng cường thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho nguồn lao động, tận dụng tốt nhất nguồn tài nguyên vốn có của đất nước. Dân số hoạt động kinh lế: - Dân số hoạt động kinh tế hay còn gọi là lực lượng lao động. bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc [3}. - Theo quan niệm của Liên hợp quốc, dân số hoạt động kinh tế bao gdm không chỉ những người có việc làm mà cả những người không có việc làm.
Trong nhiều tài liệu, khái niệm dân số hoạt động kinh tế (economical active population) và nguồn lao động (labour force) đồng nghĩa với nhau [15]. Hộ gia đình: Hộ gia đình bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Những người này có thể có hoặc không có quỹ thu, chỉ chung, có thể có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt [3]. ¬ ¬ “ SVTH: “Tăng “Thị Thu “ân Trang 11 LL) 2444 tudes tht nghiip 1.
Phân chia khu vực lao động: - Có nhiều cách phân chia khu vực lao động như sau: + Căn cứ vào thời gian ra đời, người ta phân biệt khu vực cổ truyền (nông nghiệp. thủ công nghiệp.) và khu vực hiện đại (công nghiệp, dich vu.) + Dựa vào tính chất của quan hệ sản xuất có khu vực nhà nước, khu vực tập thể và khu vực gia đình. + Trên cơ sở tính chất của sản xuất, có khu vực I (nông - lâm - ngư nghiệp), khu vực Il (công nghiệp và xây dựng) và khu vực III (dịch vụ). - Tỷ lệ dân số lao động ở từng khu vực phản ánh tình hình kinh tế - xã hội của một nước và thường xuyên thay đổi theo thời gian và không gian.
Mối quan hệ giữa gia tăng dôn số va gia tang số người lao động: Người lao động là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội. Ngay cả khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới hiện nay đang diễn ra với những bước tiến kỳ diệu, đẩy mạnh tự động hóa quá trình sản xuất, thì người lao động vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Sản xuất ngày càng mở rộng va phát triển thì càng đòi hỏi nhiều về số lượng lao động. Người lao động chỉ trở thành nhân tố quan trọng bậc nhất của lực lượng sản xuất xã hội.
khi người lao động có trình độ sản xuất kết hợp với tư liệu sản xuất. Tỷ lệ phát triển dân số phải tương ứng với trình độ phát triển của sản xuất thì mới đủ tư liệu sản xuất để kết hợp với nguồn lao động thành lực lượng sản xuất xã hội. Việt Nam là nước đang phát triển, công nghệ sản xuất còn lạc hậu. Nhưng sự gia tăng dân số rất nhanh (tỷ suất gia tăng tự nhiên 1,8% năm 1998) đã kéo theo tốc độ gia tăng nguồn lao động (hơn | triệu lao động được bổ sung hàng năm.
Hiện nay nhà nước đang thực hiện chính sách dân số. nhằm điều chỉnh sự gia tăng dân sé phù hợp với tình hình kinh tế đất nước. nhưng việc thực hiện này đòi hỏi phải có thời gian lâu dài. SVTH: “Tăng Thi Thu “Dân Trang 12 LL) Kida xả» cất nghiip 1.
Đánh gió va sử dụng nguồn lao động:. Nguồn lao động đóng một vai trò rất quan trọng trong nền sản xuất xã hội. + Ở các nước phát triển nguồn lao động bao gồm: Những người có việc làm hoặc đang tìm việc làm, nó được xác định chủ yếu qua tổng số dân, tỷ lệ dân số theo các nhóm tuổi và giới tính và những yếu tố xã hội như: giáo dục và sự tự nguyện làm việc ngoài xã hội của phụ nữ. Các nước kinh tế phát triển có nền công nghiệp hóa cao, có nhiều việc làm, do đó các nước này có thể dé dàng đạt được sự tăng trưởng kinh tế bằng nguồn lao động sẵn có.
+ Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, tuy có nguồn lao động dồi dào song đó không phải là động lực của sự phát triển. Số người muốn làm việc nhiều hơn số người đang làm việc, và trong số người đang làm việc có nhiều người chưa làm hết năng lực của mình. Người lao động ở các nước đang phát triển được trả lương thấp hơn so với tiêu chuẩn của các nước công nghiệp. Lao động ở các nước dang phát triển có năng suất thấp, vì trình độ văn hóa và trình độ tay nghề còn thấp.
Ở các nước đang phát triển còn có một số lượng lớn lao động chưa được sử dung, gây lãng phí nguồn lao động. Đây là một vấn dé lớn đang đặt ra đối với các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Công nghiệp hóo, hiện đợi hóa.