Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành y khoa thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress trầm cảm lo âu của nhân viên y tế thuộc trung tâm y tế huyện sóc sơn thành phố hà nội năm 2019

Nghiên cứu về stress, trầm cảm và lo âu ở nhân viên y tế tại Sóc Sơn, Hà Nội năm 2019, phân tích nguyên nhân và giải pháp hỗ trợ hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2020

76
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về stress, lo âu, trầm cảm

1.2. Khái niệm stress. Khái niệm lo âu. Khái niệm trầm cảm

1.3. Khái niệm Nhân viên y tế (NVYT). Stress nhân viên y tế

1.4. Các yếu tố liên quan đến stress, lo âu và trầm cảm ở nhân viên y tế

1.5. Nguyên nhân gây ra stress, lo âu và trầm cảm. Những yếu tố gây ra rối loạn tâm thần trong lao động

1.6. Những điều kiện gây rối loạn tâm thần trong ngành y tế

1.7. Hậu quả của rối loạn tâm thần lên sức khoẻ

1.8. Giới thiệu về các thang đo lường stress, lo âu, trầm cảm và bộ công cụ DASS 21 của Lovibond

1.9. Một số nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm trên thế giới và tại Việt Nam

1.9.1. Một số nghiên cứu trên thế giới

1.9.2. Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của nhân viên y tế tại Việt Nam. Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.8. Các chỉ số và biến số nghiên cứu

2.9. Công cụ nghiên cứu

2.10. Phương pháp thu thập số liệu

2.11. Phương pháp phân tích số liệu

2.12. Các sai số và cách khắc phục

2.13. Đạo đức trong nghiên cứu

2.14. Hạn chế của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm công việc của nhân viên y tế huyện Sóc Sơn

3.3. Xác định tỉ lệ stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên y tế tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2019

3.4. Xác định một số yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

3.5. Phân bố mức độ rối loạn tâm thần ở nhân viên y tế theo đặc điểm cá nhân

3.6. Phân bố mức độ rối loạn tâm thần ở nhân viên y tế theo đặc điểm công việc

3.7. Phân tích đa biến giữa các yếu tố liên quan với stress, trầm cảm, lo âu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn năm 2019

4.2. Mô tả thực trạng về tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn năm 2019

4.3. Một số yếu tố liên quan đến stress, lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế huyện Sóc Sơn năm 2019

4.4. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tình trạng stress, lo âu, trầm cảm

4.5. Mối liên quan giữa các yếu tố về đặc điểm công việc với tình trạng stress, lo âu, trầm cảm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về stress lo âu trầm cảm

Phần này giới thiệu tổng quan về các khái niệm stress, lo âu, và trầm cảm. Stress được định nghĩa là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước các kích thích từ môi trường, theo Hans Selye. Lo âu là phản ứng cảm xúc tự nhiên trước các mối đe dọa, trong khi trầm cảm là rối loạn tâm thần đặc trưng bởi sự buồn rầu và mất hứng thú. Các khái niệm này được phân tích từ góc độ tâm lý học và y học, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các rối loạn này trong bối cảnh sức khỏe tâm thần.

1.1 Khái niệm stress

Stress được định nghĩa là phản ứng của cơ thể trước các kích thích từ môi trường, theo Hans Selye. Nó có thể góp phần giúp con người thích nghi với môi trường sống, nhưng nếu không được kiểm soát, nó có thể dẫn đến các rối loạn tâm lý và thể chất. Richard Lazarus nhấn mạnh rằng stress là trạng thái cảm xúc khi cá nhân nhận thấy các yêu cầu vượt quá khả năng đáp ứng của họ.

1.2 Khái niệm lo âu

Lo âu là phản ứng cảm xúc tự nhiên trước các mối đe dọa hoặc khó khăn. Khi lo âu trở nên dai dẳng và không liên quan đến sự kiện cụ thể, nó có thể trở thành rối loạn lo âu, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống và công việc của cá nhân.

1.3 Khái niệm trầm cảm

Trầm cảm là rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất hứng thú, và giảm năng lượng. Theo WHO, trầm cảm có thể ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày và cần được điều trị kịp thời.

II. Thực trạng stress lo âu trầm cảm ở nhân viên y tế

Phần này phân tích thực trạng stress, lo âu, và trầm cảmnhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2019. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhân viên y tế thường xuyên đối mặt với áp lực công việc cao, dẫn đến tỷ lệ stress, lo âu, và trầm cảm đáng kể. Các yếu tố như thời gian làm việc kéo dài, môi trường làm việc căng thẳng, và thiếu hỗ trợ tâm lý là nguyên nhân chính gây ra các rối loạn này.

2.1 Tỷ lệ stress lo âu trầm cảm

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stressnhân viên y tế là 32,5%, trong khi tỷ lệ lo âutrầm cảm cũng ở mức cao. Các yếu tố như thời gian làm việc kéo dài và áp lực công việc là nguyên nhân chính.

2.2 Yếu tố liên quan

Các yếu tố như tuổi, giới tính, thời gian công tác, và môi trường làm việc có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng stress, lo âu, và trầm cảmnhân viên y tế.

III. Các yếu tố liên quan đến stress lo âu trầm cảm

Phần này phân tích các yếu tố liên quan đến stress, lo âu, và trầm cảmnhân viên y tế. Các yếu tố bao gồm đặc điểm cá nhân, môi trường làm việc, và các yếu tố xã hội. Nghiên cứu chỉ ra rằng môi trường làm việc căng thẳng và thiếu hỗ trợ tâm lý là nguyên nhân chính gây ra các rối loạn này.

3.1 Đặc điểm cá nhân

Tuổi, giới tính, và thời gian công tác là các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến tình trạng stress, lo âu, và trầm cảmnhân viên y tế.

3.2 Môi trường làm việc

Môi trường làm việc căng thẳng, thiếu trang thiết bị, và áp lực công việc là các yếu tố chính gây ra các rối loạn tâm thần ở nhân viên y tế.

IV. Giải pháp và khuyến nghị

Phần này đề xuất các giải pháp để giảm thiểu stress, lo âu, và trầm cảmnhân viên y tế. Các giải pháp bao gồm cải thiện môi trường làm việc, cung cấp hỗ trợ tâm lý, và tăng cường đào tạo kỹ năng quản lý stress. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh và hỗ trợ tâm lý cho nhân viên y tế.

4.1 Cải thiện môi trường làm việc

Cải thiện điều kiện làm việc, giảm áp lực công việc, và cung cấp trang thiết bị đầy đủ là các giải pháp quan trọng để giảm thiểu stresslo âu.

4.2 Hỗ trợ tâm lý

Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tâm lý và đào tạo kỹ năng quản lý stress là cần thiết để giúp nhân viên y tế đối phó với các rối loạn tâm thần.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành y khoa thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress trầm cảm lo âu của nhân viên y tế thuộc trung tâm y tế huyện sóc sơn thành phố hà nội năm 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về stress, lo âu, trầm cảm 1. Khái niệm stress “Stress” là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “strictus” và một phần của từ “stringere” mang ý nghĩa là sự căng thẳng, bất hạnh, nghịch cảnh, đè nén. Thuật ngữ stress lúc đầu được dùng trong vật lý học để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu.

Sau đó đến thế kỉ thứ 17, stress được dùng trong y học và tâm lý học với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [39]. Trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn có rất nhiều khái niệm khác nhau về stress tuỳ theo từng cách nhìn vấn đề của mỗi tác giả mà họ đưa ra những quan niệm khác nhau.Cannon lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về y sinh học. Tuy nhiên, người có công lớn trong việc đưa ra khái niệm stress một cách khoa học đó là Hans Selye (nhà sinh lý học người Canada). Theo ông, stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những kích thích từ môi trường.

Đó là những phản ứng của cơ thể nhằm khôi phục trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống bất lợi để đảm bảo duy trì và thích nghi thoả đáng của cơ thể trước những điều kiện sống luôn luôn biến đổi. Nói cách khác, bình thường stress góp phần giúp con người thích nghi với môi trường sống. Nếu sự đáp ứng của cá nhân đối với stress không đầy đủ, không phù hợp và cơ thể không tạo nên một sự cân bằng mới, thì những chức năng của cơ thể ít nhiều cũng bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý về thể chất và tâm lý sẽ xuất hiện. Học thuyết của H.Selye nhấn mạnh vai trò của cảm xúc đối với thể chất và đó là nguyên nhân của một số bệnh tâm thể như loét dạ dày – tá tràng, hen phế quản… [15] Từ phát hiện của H.Selye, rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về stress.

Nhà tâm lý học Richard Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu, đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động đựợc [2]. 3 Nhà tâm lý học Mc Grath coi “stress như một sự mất thăng bằng giữa đòi hỏi và khả năng đáp ứng. Khi đáp ứng không thỏa đáng sẽ có hậu quả không tốt” [9]. Trong cuốn sách “Stress từ bệnh học tâm thần đến cách tiếp cận trị liệu” của Giáo sư Ferreri do Giáo sư Nguyễn Việt dịch thì stress được hiểu là mối liên quan giữa con người với môi trường xung quanh.

Stress vừa chỉ tác nhân công kích vừa chỉ phản ứng của cơ thể trước tác nhân đó. Do đó, stress là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể [30]. Còn theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, stress tiếng anh có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là một mối kích động đánh mạnh vào con người, nghĩa thứ hai chỉ phản ứng sinh lý – tâm lý của con người ấy. Mối kích động có thể là tác nhân vật lý, hóa học, một vi khuẩn hoặc một tác nhân tâm lý xã hội, nói chung là một tình huống căng thẳng đột xuất đòi hỏi con người huy động tiềm năng thích ứng và phản ứng lại.

Phản ứng gồm hai mặt: Phản ứng đặc thù riêng cho từng loại kích động và phản ứng chung cho một loại nhưng kích động khác nhau [13]. Như vậy, có thể thấy stress từ các góc độ khác nhau sẽ được hiểu theo những định nghĩa khác nhau. Có người nói đến stress như một nguyên nhân, có người nói đến như hậu quả. Có người nhìn nhận thuần túy dưới góc độ sinh học, như là phản ứng mang tính sinh lý của cơ thể, số khác, thường là của các nhà tâm lý, đề cập đến cả yếu tố sinh học và tâm lý.

Trong phạm vi nghiên cứu này, dưới góc độ tâm lý học, định nghĩa về stress của Richard Lazarus được chúng em sử dụng để định nghĩa tình trạng stress do phù hợp với điều kiện, định hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu. Khái niệm lo âu Lo là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước những mối đe dọa, khó khăn, thử thách mà nhận thức được của một người với tâm sinh lý bình thường, đó là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan toả cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó. Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe doạ từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, thử thách, đe doạ của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [21]. Tuy nhiên, khi lo âu mang tính chất dai dẳng, lan tỏa, tản mạn, không liên quan, không khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào đó ở xung quanh hoặc có liên quan với những sự kiện đã qua, không còn tính chất thời sự nữa thì nó lại trở 4 thành bệnh lý.

Khi đó lo âu gây trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt, ảnh hưởng xấu tới các mối quan hệ bình thường của cá nhân và được gọi là rối loạn lo âu [25]. Khái niệm trầm cảm Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm giác tội lỗi hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ, ăn uống và kém tập trung” [10]. Theo bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM – IV, 1984): “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần” [35]. Trầm cảm là một rối loạn khí sắc thường gặp trong các rối loạn tâm thần.

Nó là một tình trạng buồn chán, giảm hứng thú quá mức và kéo dài, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động trong cuộc sống như công việc/học tập, gia đình và xã hội. Là rối loạn tâm thần có thể điều trị được [6]. Với các khái niệm trên, trầm cảm được xem xét biểu hiện ở các mặt: cảm xúc, nhận thức, cơ thể và hành vi. Khái niệm Nhân viên y tế (NVYT) Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 thì NVYT là tất cả những người tham gia vào hành động có mục đích chính là để tăng cường sức khỏe.

Cụ thể hơn, nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, điều dưỡng viên, nữ hộ sinh, nha sĩ, dược sĩ, kĩ thuật viên phòng thí nghiệm, cũng như quản lý và công nhân hỗ trợ - chẳng hạn như quản lý bệnh viện, các quan chức tài chính, đầu bếp, bảo trì sửa chửa và nhân viên vệ sinh [3, 16]. Từ đó có thể hiểu NVYT là tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Stress nhân viên y tế Từ khái niệm về stress và khái niệm NVYT nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng em định nghĩa stress của NVYT như sau stress của NVYT là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người NVYT trong quá trình hoạt động lĩnh vực y tế cũng như trong đời sống thường ngày. Trong đó một phần là do sự tác động của những điều kiện khó khăn, phức tạp từ hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức 5 khỏe của nhân dân hoặc từ trong chính bản thân của mỗi người gây ra, một phần là do cách họ cảm nhận và giải thích những sự tác động đó, tùy thuộc vào khả năng xử lý của bản thân có thể ảnh hưởng đến NVYT trên các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội.

Các yếu tố liên quan đến stress, lo âu và trầm cảm ở nhân viên y tế 1. Nguyên nhân gây ra stress, lo âu và trầm cảm Giống như các rối loạn tâm thần khác, mặc dù nhiều nghiên cứu đã cung cấp một số dữ liệu nhưng cho đến nay khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra stress, lo âu, trầm cảm. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố liên quan đến các rối loạn đó. Bao gồm các yếu tố sau [7, 31, 46]: - Các đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, cân nặng, tình trạng bệnh tật, tính cách, suy nghĩ, trình độ học vấn, lối sống… - Gia đình: di truyền, số người trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tình trạng về kinh tế, vật chất… - Môi trường xã hội: an ninh trật tự, tình hình chính trị, văn hoá, kinh tế… - Nơi làm việc: các mối quan hệ trong công việc, văn hoá tổ chức, môi trường làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị, khối lượng công việc, các nguy cơ gặp phải trong công việc, vị trí, chức danh… - Môi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, nhiệt độ, giao thông, bụi, sự ô nhiễm… 1.

Những yếu tố gây ra rối loạn tâm thần trong lao động Các rối loạn tâm thần trong lao động là kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa người lao động và điều kiện lao động. Trong một nghiên cứu của Viện Y học lao động và An toàn của Mỹ đã nhận thấy nếu cá nhân đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây ra RLTT thì điều kiện lao động cũng là một yếu tố không thể thiếu. Một số điều kiện gây ra RLTT trong lao động như [4, 37]: - Nhiệm vụ: làm việc nặng nhọc, không được giải lao thường xuyên, thời gian làm việc kéo dài và làm việc ca kíp, công việc đòi hỏi trách nhiệm cao nhưng quyền lợi thấp, không sử dụng đúng kĩ năng… - Quản lý: thiếu sự tham gia của người lao động trong giải quyết cộng việc, giáo dục truyền thông nghèo nàn, thiếu chính sách gia đình-tình bạn… - Quan hệ cá nhân với cá nhân: môi trường xã hội nghèo nàn và thiếu sự giúp đỡ lẫn nhau hoặc sự giúp đỡ của đồng nghiệp và lãnh đạo. 6 - Vai trò công việc: có mâu thuẫn hoặc không hiểu rõ tính chất của công việc, trách nhiệm quá lớn, chịu áp lực chỉ đạo của nhiều người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khóa luận tốt nghiệp kinh tế quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của quản lý nhà nước trong việc đối phó với các vấn đề buôn lậu và gian lận thương mại. Nghiên cứu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp hiệu quả để cải thiện tình hình, mang lại lợi ích thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp địa phương. Để hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Khóa luận tốt nghiệp luật kinh doanh những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, hãy khám phá Các giải pháp hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng tại công ty cổ phần bảo vệ Long Hải. Để mở rộng kiến thức về quản lý cạnh tranh, đừng bỏ lỡ Khóa luận tốt nghiệp luật kinh doanh cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan.