Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao về khu hệ linh trưởng với 24 loài và phân loài (theo hệ thống phân loại của Groves, 2004) thuộc 3 họ: Cu li (Loridae), Khỉ (Cercopithecidae) và Vượn (Hylobatidae). Trong đó, có 5 loài liên tục nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới và 6 loài/phân loài đặc hữu. Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam, hiện được xếp ở bậc Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ của IUCN (2019), đồng thời thuộc Phụ lục I của Công ước CITES, nhóm IB theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và Phụ lục 01 Thông tư số 04/2017/TT-BNN&PTNT. Tổng số cá thể ngoài tự nhiên của loài ước tính chỉ còn khoảng 281–317 cá thể và bị chia cắt mạnh thành các quần thể nhỏ biệt lập.

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) đất ngập nước Vân Long (tỉnh Ninh Bình) là khu bảo tồn đất ngập nước nội địa đầu tiên tại Việt Nam, sở hữu hệ sinh thái núi đá vôi ngập nước đặc thù. Ngày 18/12/2010, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục Vân Long là nơi có quần thể Voọc mông trắng sinh sống nhiều nhất. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu trước đây về loài tại khu vực, dữ liệu cập nhật về hiện trạng quần thể, vùng phân bố cụ thể và các áp lực đe dọa sinh cảnh vẫn cần được bổ sung để phục vụ công tác quản lý và bảo tồn thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Cung cấp các thông tin cơ bản về tình trạng bảo tồn Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) tại KBTTN đất ngập nước Vân Long, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát, bảo tồn và phát triển loài tại Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định hiện trạng quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu.
    2. Xác định khu vực phân bố của quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu.
    3. Xác định và đánh giá các mối đe dọa đến quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu.
    4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát triển quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ/Nội dung nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu hiện trạng quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu khu vực phân bố của loài tại khu vực nghiên cứu.
  3. Xác định và đánh giá các mối đe dọa đến quần thể và sinh cảnh sống của loài.
  4. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát triển loài.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Loài Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri Osgood, 1932) và các yếu tố đe dọa tác động đến loài cùng sinh cảnh sống tại KBTTN đất ngập nước Vân Long.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (thuộc KBTTN đất ngập nước Vân Long).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện trong 4 tháng (từ tháng 01/2020 đến hết tháng 04/2020), gồm các giai đoạn: chuẩn bị đề cương (13/01/2020 – 18/01/2020), thu thập số liệu thực địa (10/02/2020 – 30/03/2020), xử lý số liệu và hoàn thiện báo cáo (01/04/2020 – 03/05/2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng hệ thống phân loại thú linh trưởng theo Groves (2004). Vị trí phân loại của loài nghiên cứu được xác định: Bộ Linh trưởng (Primates), Họ Khỉ/Voọc (Cercopithecidae), Phân họ Voọc (Colobinae), Giống Voọc (Trachypithecus), Loài Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri). Các căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn bảo tồn được áp dụng gồm: Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2019), Công ước CITES (Phụ lục I), Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Nhóm IB), Nghị định 160/2013/NĐ-CP và Thông tư 04/2017/TT-BNN&PTNT.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý số liệu bao gồm:

  1. Phương pháp kế thừa tài liệu: Tổng hợp dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phương, các công trình nghiên cứu sinh thái, tập tính, phân loại của giống Trachypithecus và loài Trachypithecus delacouri.
  2. Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn 15 người bằng phiếu câu hỏi định hướng và bán định hướng kết hợp hình ảnh nhận dạng. Đối tượng phỏng vấn gồm cán bộ phòng khoa học, kiểm lâm viên Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư – Vân Long, người dân các thôn Tập Ninh, Bích Sơn, Mai Trung, Phù Long (xã Gia Vân) và nhân viên lái đò.
  3. Phương pháp điều tra theo tuyến: Do địa hình ngập nước bao quanh chân núi đá vôi hiểm trở, nghiên cứu sử dụng thuyền nan di chuyển dọc các vách núi với tốc độ 1–2 km/h, phạm vi quan sát 50m mỗi bên tuyến bằng mắt thường và ống nhòm, định vị bằng GPS. Đã thiết lập 3 tuyến điều tra chính:
    • Tuyến 1: Chiều dài 2,9 km (Điểm đầu: 20°20'43,92"N / 105°53'2,33"E; Điểm cuối: 20°20'51,55"N / 105°53'23,44"E; sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đá vôi).
    • Tuyến 2: Chiều dài 2,08 km (Điểm đầu: 20°20'43,92"N / 105°53'2,33"E; Điểm cuối: 20°21'3,27"N / 105°53'9,3"E; sinh cảnh trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi).
    • Tuyến 3: Chiều dài 3,14 km (Điểm đầu: 20°20'43,12"N / 105°53'3,48"E; Điểm cuối: 20°20'51,55"N / 105°53'23,44"E; sinh cảnh trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi).
  4. Tiêu chí xác định cấu trúc đàn: Dựa theo phân loại của Nadler và cộng sự (2003) gồm 6 cấp:
    • Sơ sinh 1 (SS1): Dưới 4 tuần tuổi, toàn thân lông vàng, bám mẹ hoàn toàn.
    • Sơ sinh 2 (SS2): Từ 4 tuần đến 9 tháng tuổi, lông vàng có mảng đen ở khuỷu tay, chân, dưới đuôi.
    • Sơ sinh 3 (SS3): Trên 9 tháng đến dưới 2 năm tuổi, lông thân chuyển sang đen, đỉnh đầu nâu sáng/trắng, lông đùi bắt đầu chuyển trắng.
    • Con non (CN): Dưới 3 năm tuổi, đầu đen, đùi trắng, đuôi có túm tua ở mút đuôi.
    • Đực trưởng thành (ĐT): Trên 3 năm tuổi, đầu và thân đen, đùi trắng sáng, đuôi dạng cà rốt, bẹn màu đen.
    • Cái trưởng thành (CT): Trên 3 năm tuổi, đầu và thân đen, đùi trắng sáng, đuôi dạng cà rốt, bẹn có mảng trắng lớn.
  5. Phương pháp phân tích số liệu và xây dựng bản đồ: Xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm Excel, SPSS; thành lập bản đồ phân bố bằng phần mềm MapInfo và ArcGIS.
  6. Phương pháp đánh giá mối đe dọa: Áp dụng phương pháp đánh giá mối đe dọa của Margoluis và Salafsky (2001) dựa trên chấm điểm và xếp hạng theo 3 tiêu chí: Diện tích ảnh hưởng, Cường độ tác động và Tính cấp thiết.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng kết hệ thống phân loại linh trưởng Việt Nam và chi tiết về loài Voọc mông trắng. Loài có trọng lượng con trưởng thành từ 6,5–7,6 kg; chiều dài toàn bộ cơ thể 1400–1410 mm; dài đầu-thân 570–580 mm; đuôi dài 820–840 mm; bàn chân sau 183 mm; tai cao 40–43 mm; hộp sọ dài trung bình 98,4 mm. Về mặt sinh thái và thức ăn, dẫn liệu nuôi nhốt tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Cúc Phương ghi nhận loài ăn 204 loài thực vật thuộc 57 họ (trong đó ăn chồi lá 203 loài, hoa 16 loài, quả 13 loài, củ 3 loài, vỏ cây 10 loài); nhu cầu thức ăn trung bình đạt 1184 g/ngày (tương đương 16,91% khối lượng cơ thể); lượng nước uống 400–500 ml/ngày. Ngân sách thời gian hoạt động ngày-đêm của loài gồm: ngủ tối 42%, ngủ trưa 18% (thời gian ngủ trưa kéo dài 37–60 phút từ 12h đến 13h), ăn uống 17%, di chuyển 8%, hoạt động khác 15%. Về sinh sản, mùa giao phối - sinh sản tập trung từ tháng 2 đến tháng 8, thời gian mang thai trung bình 196 ngày, mỗi lứa đẻ 1 con (khối lượng sơ sinh 350–500 g), thuần thục sinh dục sau 5 năm tuổi.

Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết cơ sở phương pháp luận điều tra thực địa, bảng phân công tiến độ, các công cụ kỹ thuật sử dụng (bản đồ địa hình, la bàn, GPS, ống nhòm, sổ ngoại nghiệp, thuyền nan) và hệ thống biểu mẫu theo dõi cá thể, ghi nhận tác động con người trên tuyến tuần tra.

Chương 3: Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long nằm trên địa giới hành chính của 7 xã (Liên Sơn, Gia Hưng, Gia Hòa, Gia Vân, Gia Lập, Gia Tân, Gia Thanh) thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, với tọa độ địa lý 20°20’55” đến 20°25’45” vĩ độ Bắc và 105°48’00” đến 105°54’30” kinh độ Đông. Tổng diện tích tự nhiên là 8.727 ha (trong đó diện tích khu bảo tồn là 2.900 ha, vùng đệm ngoài khu bảo tồn là 5.827 ha). Địa hình nổi bật với các dãy núi đá vôi karst ngập nước ít bị phong hóa, độ cao phổ biến dưới 300m (đỉnh Ba Non cao nhất 391m, Cô Tiên 245m, Sim 233m, Mào Gà 208m). Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 23,3°C – 23,4°C, lượng mưa trung bình 1800–1900 mm/năm (tập trung 88–90% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10).

Về tài nguyên sinh vật, khu hệ thống kê được 488 loài thực vật bậc cao có mạch (135 họ), 258 loài tảo; khu hệ động vật gồm 39 loài thú (19 họ), 72 loài chim (33 họ, ghi nhận loài quý hiếm như Đại bàng Bonelli, Sâm cầm), 32 loài bò sát - lưỡng cư, 54 loài cá, cùng côn trùng quý hiếm Cà cuống (Belostomatidae). Về kinh tế - xã hội, dân số vùng lõi và vùng đệm 7 xã là 13.829 hộ với 43.725 nhân khẩu, mật độ 553 người/km², thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.000.000 đồng/tháng. Đời sống thuần nông chịu ảnh hưởng lũ lụt tạo áp lực khai thác củi và lâm sản phụ lên khu bảo tồn.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày toàn bộ số liệu điều tra ngoại nghiệp tại địa bàn xã Gia Vân:

  • Hiện trạng và cấu trúc đàn: Ghi nhận 7 đàn với tổng cộng 62 cá thể tại 7 khu vực. Cấu trúc đàn trung bình gồm 1–2 đực trưởng thành đi cùng nhiều con cái và con non.
  • Tỷ lệ thành phần tuổi/giới tính: Cá thể cái trưởng thành chiếm 82% (51 cá thể), đực trưởng thành chiếm 13% (8 cá thể), con non chiếm 1% (1 cá thể), sơ sinh 1 chiếm 2% (1 cá thể), sơ sinh 2 chiếm 0% (0 cá thể), sơ sinh 3 chiếm 2% (1 cá thể). Tỷ lệ cấu trúc tuổi/giới tính (Đực trưởng thành : Cái trưởng thành : Chưa trưởng thành) của quần thể đạt 1,1 : 7,3 : 0,4.
  • Phân bố và sinh cảnh: Ghi nhận Voọc xuất hiện tại 2 dạng sinh cảnh: Rừng thứ sinh trên núi đá vôi (8 lần bắt gặp/12 lần quan sát) và Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi (4 lần bắt gặp/12 lần quan sát).
  • Mối đe dọa: Xác định 5 mối đe dọa chính gồm: (1) Săn bắt, bẫy bắt và buôn bán động vật hoang dã (nghiêm trọng nhất, điển hình là vụ bắt giữ 2 đối tượng dùng súng hơi săn chim nước ngày 10/02/2020 tại xã Gia Vân); (2) Khai thác đá cho công nghiệp xi măng (tiếng ồn và khói bụi từ Nhà máy xi măng The Vissai Ninh Bình tại xã Gia Thanh giáp ranh KBT); (3) Phân mảnh quần thể; (4) Chăn thả gia súc; (5) Phát triển du lịch không bền vững.
  • Đề xuất 6 nhóm giải pháp: (1) Nâng cao năng lực cán bộ, thực thi pháp luật; (2) Nâng cao nhận thức cộng đồng; (3) Nghiên cứu mở rộng sinh cảnh ra ngoài phạm vi KBT; (4) Phục hồi sinh cảnh sống; (5) Phát triển du lịch sinh thái bền vững; (6) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.

Kết quả và đóng góp

Số liệu hiện trạng và cấu trúc quần thể Voọc mông trắng

Dữ liệu điều tra thực tế tại 7 điểm thuộc xã Gia Vân được tổng hợp trong bảng sau:

STT Khu vực quan sát Đực trưởng thành (ĐT) Cái trưởng thành (CT) Con non (CN) Sơ sinh 1 (SS1) Sơ sinh 2 (SS2) Sơ sinh 3 (SS3) Tổng số cá thể Sinh cảnh ghi nhận
1 Cánh Cổng 1 7 0 0 0 0 8 Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi
2 Cửa trạm 7 1 7 0 0 0 0 8 Rừng thứ sinh trên núi đá vôi
3 Bũng Sốc 1a 1 5 1 1 0 1 9 Rừng thứ sinh trên núi đá vôi
4 Bũng Sốc 1b 1 7 0 0 0 0 8 Rừng thứ sinh trên núi đá vôi
5 Bũng Sốc 2 2 12 0 0 0 0 14 Rừng thứ sinh trên núi đá vôi
6 Đá An Tái 1 7 0 0 0 0 8 Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi
7 Hang Bóng 1 6 0 0 0 0 7 Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi
Tổng Toàn khu vực 8 51 1 1 0 1 62 12 lần quan sát

So sánh cấu trúc quần thể với các nghiên cứu linh trưởng

Loài linh trưởng Tác giả và năm công bố Địa bàn nghiên cứu Số lượng TB/đàn Tỷ lệ cấu trúc (ĐT : CT : Chưa trưởng thành)
Voọc mông trắng (T. delacouri) Đỗ Văn Linh (2020) KBTTN Vân Long (xã Gia Vân) 9 cá thể/đàn 1,1 : 7,3 : 0,4
Voọc mông trắng (T. delacouri) Nguyễn Vĩnh Thanh (2008) KBTTN Vân Long 8 cá thể/đàn 12 : 30 : 13
Voọc cát bà (T. poliocephalus) Tạ Tuyết Nga (2014) VQG Cát Bà (Cửa Đông) 9 cá thể/đàn 1,0 : 3,5 : 4,5
Voọc hà tĩnh (T. hatinhensis) Nguyễn Hải Hà (2011) VQG Phong Nha - Kẻ Bàng 12 cá thể/đàn 3,5 : 5,9 : 1,4

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  1. Cập nhật số liệu thực địa năm 2020 về hiện trạng số lượng cá thể (62 cá thể thuộc 7 đàn) và tọa độ vị trí phân bố của Voọc mông trắng tại địa bàn xã Gia Vân.
  2. Xác định sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đá vôi là sinh cảnh sống và kiếm ăn chính của loài (chiếm 66,7% số lần bắt gặp).
  3. Chỉ ra đặc điểm tỷ lệ cá thể chưa trưởng thành và con non trong quần thể ở mức rất thấp (chỉ đạt 0,4 so với 7,3 cá thể cái trưởng thành), cảnh báo nguy cơ tăng trưởng chậm của quần thể.
  4. Nhận diện và xếp hạng 5 nguy cơ đe dọa sinh cảnh, trong đó hoạt động săn bắt động vật hoang dã trái phép và tác động từ nhà máy xi măng lân cận là các yếu tố trực tiếp nhất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu thực hiện trong thời gian 4 tháng (từ tháng 01/2020 đến tháng 04/2020), trùng với thời điểm mùa khô và đầu mùa sinh sản nên chưa bao quát toàn bộ biến động theo mùa trong năm.
    • Phạm vi không gian chỉ tập trung điều tra tại địa bàn xã Gia Vân, chưa khảo sát đồng bộ trên diện tích toàn bộ 7 xã thuộc KBTTN đất ngập nước Vân Long.
    • Đối tượng nghiên cứu là động vật hoang dã di chuyển trên vách đá vôi dựng đứng, việc điều tra bằng thuyền nan từ mặt nước gặp nhiều góc khuất tầm nhìn khi thảm thực vật che phủ dày.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi điều tra định kỳ trên toàn bộ diện tích 2.900 ha của khu bảo tồn và các vùng rừng giáp ranh thuộc tỉnh Hòa Bình, Hà Nam.
    • Áp dụng thêm các kỹ thuật bẫy ảnh tự động (camera trap) và phân tích di truyền phân tử qua mẫu phân để đánh giá độ đa dạng di truyền và mức độ suy thoái cận huyết của các quần thể nhỏ bị cô lập.
    • Nghiên cứu chi tiết hành lang sinh thái kết nối các dãy núi đá vôi nhằm giảm thiểu hiện tượng phân mảnh sinh cảnh do các hoạt động phát triển công nghiệp và du lịch.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh học, Bảo tồn đa dạng sinh học; cán bộ chuyên môn tại các ban quản lý rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh có phân bố núi đá vôi karst.
  • Nội dung giá trị:
    • Quy trình thiết lập tuyến điều tra linh trưởng bằng thuyền nan trên địa hình ngập nước nội địa kết hợp đo đạc GPS và định danh thị giác.
    • Bảng tiêu chí 6 cấp phân loại tuổi và giới tính cho giống Voọc (Trachypithecus) dựa trên biến đổi màu lông theo giai đoạn phát triển.
    • Phương pháp luận áp dụng khung đánh giá mối đe dọa của Margoluis & Salafsky (2001) trong phân tích tác động tài nguyên rừng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu cá thể và bao nhiêu đàn Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu?
Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 7 đàn với tổng số 62 cá thể tại 7 vị trí thuộc xã Gia Vân: Cánh Cổng (8 cá thể), Cửa trạm 7 (8 cá thể), Bũng Sốc 1a (9 cá thể), Bũng Sốc 1b (8 cá thể), Bũng Sốc 2 (14 cá thể), Đá An Tái (8 cá thể), Hang Bóng (7 cá thể).

2. Cấu trúc đàn và tỷ lệ giới tính của quần thể Voọc mông trắng tại đây có đặc điểm gì nổi bật?
Quần thể có kích thước trung bình 9 cá thể/đàn, gồm 1–2 đực trưởng thành đi cùng nhiều con cái. Tỷ lệ thành phần gồm: 82% cái trưởng thành (51 cá thể), 13% đực trưởng thành (8 cá thể), 2% sơ sinh 1 (1 cá thể), 2% sơ sinh 3 (1 cá thể), 1% con non (1 cá thể), không ghi nhận cá thể sơ sinh 2. Tỷ lệ Đực trưởng thành : Cái trưởng thành : Chưa trưởng thành là 1,1 : 7,3 : 0,4.

3. Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu phân bố chủ yếu ở dạng sinh cảnh nào?
Trong tổng số 12 lần quan sát thấy loài, có 8 lần ghi nhận tại sinh cảnh Rừng thứ sinh trên núi đá vôi (chiếm 66,7%) và 4 lần ghi nhận tại Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi (chiếm 33,3%). Sinh cảnh Rừng thứ sinh trên núi đá vôi là sinh cảnh ưa thích chính.

4. Những mối đe dọa chính nào đối với Voọc mông trắng được tác giả xác định và đánh giá?
Khóa luận xác định 5 mối đe dọa chính: (1) Săn bắt, bẫy bắt và buôn bán động vật hoang dã trái phép; (2) Khai thác đá làm nguyên liệu xi măng của Nhà máy xi măng The Vissai Ninh Bình tại ranh giới KBT; (3) Phân mảnh quần thể; (4) Chăn thả gia súc; (5) Phát triển du lịch không bền vững. Trong đó, săn bắt và buôn bán động vật hoang dã là mối đe dọa nguy hại trực tiếp nhất.

5. Phương pháp nào được sử dụng để điều tra thực địa thu thập số liệu về quần thể loài?
Tác giả sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến bằng thuyền nan di chuyển dọc 3 tuyến khảo sát (chiều dài 2,08–3,14 km) với tốc độ 1–2 km/h, quan sát cự ly 50m mỗi bên tuyến bằng mắt thường và ống nhòm, kết hợp máy GPS định vị và phỏng vấn 15 người thuộc lực lượng kiểm lâm, cán bộ khoa học và người dân địa phương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đỗ Văn Linh đã phản ánh thực trạng quần thể loài Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) tại xã Gia Vân, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long với quy mô ghi nhận 62 cá thể phân bố trong 7 đàn. Kết quả phân tích cấu trúc chỉ ra tỷ lệ con non và sơ sinh trong đàn còn ở mức thấp (0,4 so với 7,3 cá thể cái trưởng thành), phản ánh tiềm năng tăng trưởng đàn bị hạn chế. Đồng thời, công trình đã xác định rõ 5 tác nhân đe dọa môi trường sống, làm cơ sở khoa học để đề xuất 6 nhóm giải pháp quản lý và bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu cực kỳ nguy cấp này tại địa phương.