CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1. Bối cảnh của đề tài Vào đầu những năm 1960, tiếng Anh chuyên ngành (ESP) đã trở thành một trong những lĩnh vực giảng dạy nổi bật nhất tại các trường đại học trên toàn thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết kế và triển khai các khóa học như Tiếng Anh Kỹ sư, Tiếng Anh Hàng không, Tiếng Anh Quảng cáo, Tiếng Anh Marketing, Tiếng Anh Ngân hàng, v. Cho tới hiện nay, khi xu hướng hội nhập phát triển mạnh mẽ, đào tạo tiếng Anh theo mục đích học thuật không còn là lựa chọn duy nhất có trong chương trình đào tạo của các trường đại học, dạy và học tiếng Anh chuyên ngành đã trở nên ngày càng phổ biến cũng như vô cùng cần thiết đối với sinh viên bởi sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp. Một số minh chứng cho tầm quan trọng và phủ rộng của ESP chính là việc những tài liệu học tập, giáo trình đa ngành nghề bằng tiếng Anh đã trở nên vô cùng phong phú, được biên soạn cẩn thận để cả người dạy cũng như người học có thể dễ dàng tìm và đọc.
Do đó, việc tập trung vào đào tạo, cung cấp những thuật ngữ chuyên ngành cho sinh viên là một điều không thể thiếu. Hiện nay, theo như thông số từ "Đồng hồ Dân số Thế giới – World Population Clock", tiếng Anh đang được sử dụng như một phương tiện giao tiếp của xấp xỉ 1,5 tỷ người trong tổng dân số (vượt ngưỡng 7,5 tỷ người), tức chiếm khoảng 20% tổng dân số toàn cầu. Bên cạnh việc được sử dụng rộng rãi, đây cũng là ngôn ngữ được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới. Trong chương trình đào tạo đại học, cao đẳng, tiếng Anh là một môn học bắt buộc đối với hầu hết các ngành đào tạo và là một trong những điều kiện không thể thiếu để được công nhận tốt nghiệp (Trần Ngọc Mai cùng cộng sự, 2019).
Trong khi tiếng Anh chuyên ngữ là môn học cần thiết cho sinh viên muốn dử dụng ngôn ngữ chuyên sâu thì tiếng Anh chuyên ngành lại hướng tới pham vi đối tượng đa dạng hơn: sinh viên của tất cả những ngành khoa học khác hơn là tập trung đào tạo riêng biệt về ngôn ngữ. Do đó, sự kỳ vọng về nâng cao mục tiêu đào tạo với quy mô bao quát từ số lượng tới đạt chuẩn về chất lượng ở những cơ sở giáo dục đào tạo tiếng Anh chuyên ngành nhằm có thể đảm bảo đầu ra là những nguồn nhận lực chất lượng cao và đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng (Đỗ Thị Xuân Dung, Cái Ngọc Duy Anh, 2010). Trong bài nghiên cứu của một nhóm sinh viên đến từ Khoa Ngoại ngữ - Học viện Ngân hàng với đề tài “Đánh giá mức độ đáp ứng các vị trí việc làm tại các ngân hàng của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh - chuyên ngành tiếng Anh Tài chính - Ngân hàng (ATC) Học viện Ngân hàng” (2022) đã thu về kết quả rằng sinh viên chưa đáp ứng tốt các vị trí đòi hỏi về kiến thức về mảng Tài chính – Ngân hàng và tiếng Anh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng của nhà tuyển dụng. Từ kết quả này, có thể thấy nguyên nhân bắt nguồn từ việc sinh viên ATC còn gặp một vài hạn chế trong quá trình học tập.
Do đó, mối quan tâm hàng đầu hiện nay của các cơ sở đại học nói chung và Học viện Ngân hàng nói riêng là dựa trên những rào cản mà sinh viên gặp phải để cải thiện dần chương trình học, giúp các bạn trở nên tốt hơn trong quá trình học. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, ngành Giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đã và đang chuyển mình mạnh mẽ trong công cuộc đẩy mạnh chất lượng dạy và học, các chương trình đổi mới được triển khai hiệu quả ở tất cả các cấp học. Trong đó, chất lượng giáo dục bậc Đại học vẫn luôn là một trong những mối quan tâm lớn nhất đối với toàn xã hội. Chính vì vậy, nhằm đáp ứng được nguyện vọng và nhu cầu của sinh viên, nhiều cơ sở Đại học trên cả nước đã và đang bắt đầu thực hiện những thay đổi trong quản lý và tổ chức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Minh chứng được thể hiện ở việc các trường đang dần mở rộng về quy mô đào tạo đa ngành, trong đó có ESP, do đó sinh viên ở chuyên ngành Ngôn ngữ Anh không chỉ được đào tạo về một lĩnh vực sư phạm nhất định. Lê Thị Thanh Thu cùng cộng sự (2012) đưa ra nhận định rằng những cử nhân ngành tiếng Anh thường có nhu cầu muốn tham gia học tập thêm một ngành khoa học khác để có thể linh hoạt ở môi trường làm việc tương lai. Với tỷ lệ thất nghiệp ở mức 5,1% và 76,1% đối với những công việc khá, cơ hội việc làm rộng mở, họ có thể nhận được một mức thu nhập khá cao. Mặt khác, sinh viên cho rằng chương trình đào tạo tuy đã cung cấp đủ về lượng kiến thức chuyên môn cơ bản ở mức khá nhưng mới chỉ dừng lại ở lĩnh vực sư phạm, phục vụ giảng dạy còn nền tảng đối với các chuyên ngành khoa học khác chưa đáp ứng được nhu cầu về công việc.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công ban đầu đã đạt được trong công tác đào tạo ESP, vẫn còn những hạn chế tồn tại trong khả năng tiếp cận của sinh viên đối với các kiến thức chuyên ngành. Có thể nói, việc học ESP đang mở ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức từ nhiều phía. Lý do thứ nhất là bởi hiện nay số lượng người lựa chọn sử dụng tiếng Anh để giao tiếp là khá lớn và đối với một số nhóm người học, việc lựa chọn những ngành đào tạo chuyên sâu khác thay vì ngôn ngữ Anh ở một ngôi trường đại học đào tạo song ngành có thể sẽ là lựa chọn tốt hơn so với theo học chương trình ESP. Thứ hai đó là chương trình đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu xã hội.
Mặc dù đây là vấn đề được nhìn nhận từ lâu (Trần Kiều & Nguyễn Hữu Châu, 2000), các trường học cũng đã, đang cố gắng cải thiện nhằm rút ngắn khoảng cách giữa chất lượng chương trình đào tạo mà người học mong muốn nhận được và cơ hội việc làm trong tương lai. Tuy nhiên, đây là một quá trình khó khăn, cũng là thách thức đối với cơ sở đào tạo và đối với sinh viên khi không biết ngành học của mình sẽ đi theo hướng nào. Trong bối cảnh đó, đề tài “ Đánh giá về những khó khăn của sinh viên trong việc học tiếng Anh chuyên ngành ” được lựa chọn để nghiên cứu, tìm ra những yếu tố khiến cho hiệu quả học tập của sinh viên còn chưa được tốt; đồng thời, là cơ sở để cải thiện quá trình học tập của sinh viên. Mục tiêu nghiên cứu Mục đích chính của đề tài là đánh giá về những khó khăn trong việc học tiếng Anh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng của sinh viên ATC tại Học viện Ngân Hàng.
Từ đó, tìm ra giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn đó nhằm mục đích đạt được hiệu quả cao trong chất lượng đào tạo. Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát về nhận thức cũng như những yếu tố tác động tới quá trình tích lũy kiến thức của sinh viên trong thời gian học các học phần về tiếng Anh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, xét trên những phương diện về cá nhân, thái độ học tập, giảng viên và các yếu tố bổ trợ. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá về những khó khăn của người học trong quá trình học tập tiếng Anh chuyên ngành (tiếng Anh Tài chính - Ngân hàng) và cụ thể đối tượng của đề tài là sinh viên ATC. Nghiên cứu được thực hành trên đối tượng bao gồm chủ yếu là sinh viên các khóa 22, 23 đã hoàn thành học phần.
Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với bảng hỏi điều tra (đối tượng tự điền câu trả lời vào bộ câu hỏi đã dựng sẵn) là công cụ được sử dụng để nghiên cứu. Bảng câu hỏi được xây dựng gồm 5 phần với 30 câu hỏi. Số liệu thu được từ bảng hỏi sẽ được thu thập lại và phân tích nhằm đưa ra kết quả của bài nghiên cứu. Tính mới của đề tài Hiện nay, các nghiên cứu về vấn đề đào tạo ESP đối với các chuyên ngành như du lịch, y dược, quản trị kinh doanh đã được tập trung sử dụng làm đề tài nghiên cứu khá nhiều.
Tuy nhiên đối với chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng còn khá hạn chế và đặc biệt, ở khoa Ngoại ngữ Học viện Ngân Hàng hiện chưa được khai thác nhiều ở chủ đề này. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn thực hiện bài nghiên cứu với mục đích nhằm tìm hiểu khó khăn đến từ người học và khảo sát dưới góc độ của những sinh viên ATC sau khi đã kết thúc học phần tiếng Anh chuyên ngành. Câu hỏi và mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích “Đánh giá mức độ tiếp cận đối với tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên ATC – Học viện Ngân hàng sau khi hoàn thành các học phần liên quan” và để điều tra được, nghiên cứu tiến hành trả lời những câu hỏi sau đây: ➢ Những yếu tố nào gây cản trở trong quá trình học về học phần tiếng Anh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng? ➢ Cần làm gì để khắc phục và tiếp tục cải thiện những khó khăn ấy nhằm nâng cao hiệu quả học tập TACN? CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tiếng Anh chuyên ngành ESP nổi lên từ những năm 1960, khi xã hội phát triển mạnh mẽ về các ngành nghề, đa lĩnh vực, nhu cầu hợp tác và hội nhập tăng cao, dẫn tới kết quả là sự tăng nhanh của nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp.
Mặt khác, khi hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế - đời sống trở thành một xu hướng phát triển, việc sử dụng tiếng Anh cơ bản không còn đáp ứng được nhu cầu giao tiếp trong môi trường làm việc chuyên nghiệp, dẫn tới một nhu cầu cao hơn đối với mức tiếng Anh thông thường, đó là tiếng Anh chuyên ngành. Khái niệm về ESP vốn không phải là một phạm trù mới mà đã được đề cập tới từ khá nhiều học giả. Nếu tiếng Anh chuyên ngữ chỉ dành cho những đối tượng có nhu cầu học và sử dụng chuyên sâu về ngôn ngữ, ESP lại đóng vai trò quan trọng đối với một phạm vi người học rộng lớn và đa dạng hơn bao gồm: sinh viên, học viên thuộc các ngành khoa học khác.