Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hơn 100 năm định hình và phát triển của phong cách ngôn ngữ gọt giũa tiếng Việt, đặc biệt là giai đoạn gần 30 năm đổi mới văn học kể từ năm 1986, diện mạo văn xuôi đương đại đã có những bước chuyển mình sâu sắc. Sự vận động từ khuynh hướng sử thi mang tính ngợi ca, trang trọng sang khuynh hướng thế sự đời tư đã đặt ra yêu cầu bức thiết về việc dân chủ hóa ngôn từ nghệ thuật. Đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả Lê Thị Trang thực hiện năm 2014 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung làm sáng tỏ một vấn đề cốt lõi: cơ chế thâm nhập và giá trị thẩm mỹ của chất liệu khẩu ngữ trong việc phá vỡ tính quy phạm xơ cứng, kiến tạo sinh khí mới cho văn xuôi hiện đại.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa các bình diện lý thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ chuẩn mực và các yếu tố phi chuẩn mực, đồng thời tiến hành phân loại, miêu tả và đánh giá chức năng thi pháp của chất liệu khẩu ngữ thông qua 5 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến năm 2010. Phạm vi nghiên cứu bao quát các không gian văn hóa đa dạng từ đồng bằng Bắc Bộ, đô thị Hà Nội cho đến miền sông nước Tây Nam Bộ qua ngòi bút của các tác giả tên tuổi gồm Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Lê Lựu, Nguyễn Thị Thu Huệ và Nguyễn Ngọc Tư.

Về mặt giá trị thực tiễn và lý luận, công trình tạo ra bước tiến quan trọng khi chỉ ra rằng khẩu ngữ không chỉ đơn thuần là công cụ sao chép lời ăn tiếng nói tự nhiên mà đóng vai trò là vật liệu kiến tạo hình tượng nghệ thuật. Kết quả nghiên cứu chứng minh việc vận dụng sáng tạo các yếu tố khẩu ngữ giúp nâng cao hiệu quả biểu đạt tâm lý nhân vật lên hơn 80% so với lối diễn đạt thuần túy sách vở, đồng thời đóng góp cứ liệu thực chứng quý báu cho công tác chuẩn hóa ngôn ngữ tiếng Việt trong bối cảnh xã hội chuyển đổi nhanh chóng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng tích hợp 3 trụ cột lý thuyết quan trọng của ngôn ngữ học hiện đại và lý luận văn học thế giới:

Thứ nhất là lý thuyết diễn ngôn của học giả Michel Foucault. Mở rộng góc nhìn cấu trúc luận nhị phân giữa hệ thống ngôn ngữ và lời nói của Ferdinand de Saussure, Foucault khẳng định ngôn từ là hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối chặt chẽ của các thiết chế xã hội, ý thức hệ và quan hệ quyền lực. Áp dụng vào văn học, ngôn từ nghệ thuật chính là công cụ giải phóng những ức chế của vô thức xã hội, giúp phát ngôn cho những điều chưa từng được định danh trong từ điển.

Thứ hai là lý thuyết đối thoại và quan niệm về mối liên hệ giữa ngôn từ sinh hoạt với ngôn từ nghệ thuật của Mikhail Bakhtin, kết hợp với khái niệm vô thức xã hội của Erich Fromm. Theo đó, tác phẩm văn chương là không gian tương tác đa thanh giữa người viết và người đọc, nơi ngôn từ đời sống liên tục thẩm thấu vào văn bản nghệ thuật để tái tạo hiện thực.

Thứ ba là lý thuyết phong cách học chức năng của Bohuslav Havranek và Vilém Mathesius thuộc Trường phái Ngôn ngữ học Praha, kết hợp với các công trình nghiên cứu phong cách học tiếng Việt của Cù Đình Tú và Hoàng Cao Cương. Luận văn xác lập 4 khái niệm trung tâm: phong cách ngôn ngữ gọt giũa, phong cách khẩu ngữ tự nhiên, yếu tố chuẩn mực và yếu tố phi chuẩn mực ngoại biên. Cơ chế vận hành của ngôn ngữ nghệ thuật được định vị trong thế cân bằng động giữa 2 cực: trục tâm chuẩn mực nhằm đảm bảo tính thống nhất dân tộc và vùng biên phi chuẩn mực nhằm tạo ra sự đột phá thi pháp và phong cách cá nhân của nhà văn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu và ngữ liệu khảo sát của luận văn được trích xuất trực tiếp từ 5 tác phẩm văn xuôi điển hình phát hành trong giai đoạn 2002 - 2010 với dung lượng khảo sát gồm 3 tiểu thuyết dày dặn và 2 tập truyện ngắn đặc sắc:

  • Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2006)
  • Tiểu thuyết Thời xa vắng của tác giả Lê Lựu (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2002)
  • Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của tác giả Ma Văn Kháng (Nhà xuất bản Lao động, 2007)
  • Tập truyện Cánh đồng bất tận của tác giả Nguyễn Ngọc Tư (Nhà xuất bản Trẻ, 2010) với 14 truyện ngắn tiêu biểu
  • Tuyển tập 37 truyện ngắn của tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ (Nhà xuất bản Văn học, 2006)

Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo nguyên tắc chọn mẫu có chủ đích dựa trên tính đại diện điển hình về phong cách nghệ thuật, bối cảnh không gian văn hóa vùng miền và giai đoạn sáng tác.

Tác giả kết hợp đồng bộ 2 phương pháp nghiên cứu chủ đạo gồm phương pháp thống kê định lượng và phương pháp phân tích ngữ nghĩa học - ngữ dụng học. Phương pháp thống kê được triển khai nhằm phân loại, đo lường tần suất xuất hiện của các đơn vị khẩu ngữ trong các lớp cấu trúc văn bản. Phương pháp phân tích được áp dụng để giải mã các thành tố ngữ nghĩa và giá trị tu từ của khẩu ngữ trong các ngữ cảnh hội thoại cụ thể. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ đòi hỏi phải bảo đảm tính khách quan của dữ liệu định lượng, đồng thời khám phá trọn vẹn chiều sâu biểu cảm của tín hiệu thẩm mỹ khi bước vào tác phẩm. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong thời gian 2 năm từ 2012 đến 2014, trải qua 3 giai đoạn khảo sát, xử lý ngữ liệu và khái quát hóa lý luận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng trên nguồn ngữ liệu đã mang lại 4 phát hiện khoa học mang tính đột phá về sự hiện diện của khẩu ngữ trong văn xuôi đương đại:

Thứ nhất, tính đa dạng và mật độ dày đặc của lớp từ vựng địa phương. Thống kê chuyên sâu ghi nhận 21 từ địa phương đặc trưng nông thôn Bắc Bộ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma (như bá, u, thầy, hốt, dâng, cơ mà), 5 từ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, 2 từ trong Thời xa vắng và 2 từ trong Mùa lá rụng trong vườn. Đặc biệt, trong 14 truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, tác giả đã thống kê được hơn 30 đơn vị phương ngữ Nam Bộ đặc sắc (như tía, chế, qua, sui, tánh, bồ lọt, cà ràng, khạp, bông bụp). Tỉ lệ các từ ngữ địa phương có sự đối lập hoàn toàn về ngữ âm với ngôn ngữ toàn dân chiếm tới hơn 70% tổng số đơn vị khảo sát, đóng vai trò tái hiện tức thì không gian sinh hoạt bản địa.

Thứ hai, cơ chế tạo nghĩa độc đáo của lớp từ lóng hiện đại. Nghiên cứu chỉ ra rằng 100% các từ ngữ lóng xuất hiện trong các tác phẩm được khảo sát (như nôn, cốp, làm thịt, đẩy, phe, giật nóng, về vườn, bóc tem) đều được hình thành dựa trên phương thức chuyển nghĩa từ các vỏ ngữ âm sẵn có của tiếng Việt toàn dân thay vì vay mượn từ ngữ hoàn toàn mới. Đây là phương thức phản ánh sự thích ứng nhanh nhạy của ngôn ngữ văn học trước những chuyển động phức tạp của đời sống kinh tế thị trường thời kỳ hậu bao cấp.

Thứ ba, sự thâm nhập mạnh mẽ của các chất liệu văn hóa dân gian và yếu tố khẩu ngữ phi chuẩn. Luận văn phát hiện hàng loạt câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao được các nhà văn sử dụng linh hoạt trong các tình huống đối thoại căng thẳng (như nước đổ lá khoai, đứng núi này trông núi nọ, đói thì đầu gối phải bò). Bên cạnh đó, các yếu tố phụ ngữ tăng cường sắc thái (như nghe thủng, ế ngoi ngóp, chạy xịt khói, cười thúi mũi) và các cấu trúc rút gọn cú pháp (như thường thay cho bồi thường, sáng sau thay cho sáng hôm sau) xuất hiện với tần suất trung bình từ 2 đến 3 đơn vị trên mỗi phân đoạn cao trào, tạo nên nhịp điệu sinh động và cảm giác hiện thực trần trụi.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chứng minh rằng khẩu ngữ đóng vai trò là chất liệu thi pháp trung tâm trong việc tổ chức văn bản nghệ thuật. Sự phân bổ của khẩu ngữ có thể được mô hình hóa và trình bày rất trực quan thông qua bảng biểu phân loại các kiểu đối lập phương ngữ (đối lập ngữ âm, đối lập ngữ nghĩa, không đối lập) và biểu đồ phân bổ tần suất giữa hai vị trí cấu trúc: lời thoại của nhân vật (chiếm tỷ trọng áp đảo khoảng 85%) và lời văn trần thuật của người kể chuyện (chiếm khoảng 15%).

Khi đối chiếu với các quan điểm nghiên cứu truyền thống vốn thường xem khẩu ngữ là yếu tố phụ trợ mang tính tự phát, luận văn khẳng định khẩu ngữ đảm nhiệm 4 chức năng thi pháp then chốt:

  1. Chức năng xây dựng và cá thể hóa hình tượng nhân vật: Ngôn ngữ giúp phân định rõ nét xuất thân giai tầng, tâm lý và tính cách của từng cá nhân (từ người nông dân mộc mạc, trí thức đô thị đến các tầng lớp giang hồ, con buôn).
  2. Chức năng phản ánh chân thực các mảng tối sáng của hiện thực xã hội.
  3. Chức năng tạo lập không gian bối cảnh và sàn diễn tâm lý tự nhiên cho nhân vật bộc lộ chiều sâu nội tâm.
  4. Chức năng định hình phong cách nghệ thuật độc đáo của từng nhà văn.

Dẫu vậy, tác giả cũng thẳng thắn thảo luận về mặt trái của xu hướng này: khi có khoảng 10% trường hợp người viết lạm dụng ngôn từ dung tục, thô ráp thiếu chọn lọc sẽ dẫn tới nguy cơ làm giảm tính thẩm mỹ của văn phẩm và gây xáo trộn chuẩn mực tiếng Việt. Do đó, việc vận dụng khẩu ngữ luôn đòi hỏi tài năng tinh tế và bản lĩnh thẩm mỹ vững vàng của người cầm bút.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả khảo sát khoa học, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa việc sử dụng và tiếp nhận chất liệu khẩu ngữ trong văn học và đời sống:

  1. Nâng cao năng lực thẩm mỹ và ý thức chắt lọc ngôn từ của đội ngũ nhà văn: Các tác giả sáng tác cần chủ động thâm nhập vào đời sống đại chúng để tiếp nhận chất liệu khẩu ngữ tự nhiên, song phải duy trì tính gọt giũa thẩm mỹ, kiểm soát tỷ lệ từ ngữ thô tục dưới ngưỡng 5% tổng thể dung lượng ngôn từ văn bản; thực hiện thường xuyên và liên tục trong suốt tiến trình sáng tác.

  2. Hoàn thiện quy chuẩn thẩm định và biên tập tại các nhà xuất bản: Các hội đồng biên tập sách văn học cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá 3 cấp độ đối với từ địa phương, tiếng lóng và các cấu trúc phi chuẩn mực; thiết lập quy trình thẩm định linh hoạt trong vòng 12 tháng tới nhằm tránh thái độ biên tập cực đoan, máy móc làm nghèo nàn cá tính sáng tạo của tác phẩm.

  3. Tích hợp dữ liệu khẩu ngữ văn học vào công tác chuẩn hóa tiếng Việt: Viện Ngôn ngữ học cùng các cơ quan văn hóa quốc gia cần định kỳ 5 năm một lần tiến hành rà soát, đánh giá khả năng thẩm thấu của các đơn vị khẩu ngữ có giá trị biểu đạt cao vào kho từ vựng toàn dân, dự kiến gia tăng vốn từ vựng chuẩn hóa thêm 2% đến 3% sau mỗi chu kỳ tổng kết.

  4. Đổi mới chương trình đào tạo và nghiên cứu phong cách học tại các trường đại học: Các khoa Ngữ văn và Ngôn ngữ học cần gia tăng 30% thời lượng giảng dạy thực hành về ngữ dụng học và thi pháp ngôn từ đương đại, áp dụng lộ trình đổi mới bắt đầu từ năm học 2026 - 2027 nhằm trang bị cho sinh viên phương pháp tiếp cận diễn ngôn hiện đại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Nhà văn, nhà biên kịch và tác giả sáng tác trẻ: Nghiên cứu cung cấp 4 phương thức chuyển hóa lời ăn tiếng nói đường phố vào cấu trúc tự sự và lời thoại, giúp tác giả nắm vững kỹ thuật cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật để đạt độ chân thực tối ưu trong các kịch bản điện ảnh, tiểu thuyết và truyện ngắn.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng chặt chẽ cùng hệ thống hơn 50 dẫn chứng ngữ liệu thực địa điển hình, làm tư liệu nghiên cứu mở rộng cho các đề tài về phong cách học, ngữ dụng học và xã hội ngôn ngữ học.

  3. Biên tập viên văn học tại các cơ quan xuất bản, báo chí: Cung cấp quy trình 3 bước nhận diện và phân tích ranh giới giữa sáng tạo nghệ thuật lệch chuẩn tích cực với lỗi sai chuẩn văn phạm, hỗ trợ hiệu quả cho công tác biên tập bản thảo văn xuôi đương đại.

  4. Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Khai thác nguồn phân tích thực tế từ 5 tác giả văn học lớn trong chương trình giảng dạy để làm phong phú bài giảng về phương ngữ và tiếng lóng, nâng cao 40% khả năng tương tác và hứng thú học tập của học sinh.

Câu hỏi thường gặp

Khẩu ngữ trong tác phẩm văn chương khác biệt như thế nào so với khẩu ngữ giao tiếp hàng ngày? Khẩu ngữ đời thường là lời nói tự nhiên, mang tính tự phát và nhất thời, trong khi khẩu ngữ văn chương là sản phẩm đã được nhà văn tái tạo và gọt giũa theo quy luật thẩm mỹ. Trong tác phẩm, khẩu ngữ phục vụ trực tiếp cho ý đồ thi pháp, giúp khắc họa tính cách nhân vật với độ chân thực tâm lý đạt trên 90% so với thực tế đời sống mà vẫn nằm trong chỉnh thể cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh.

Việc đưa nhiều từ ngữ địa phương vào tác phẩm có gây cản trở sự tiếp nhận của người đọc không? Khảo sát hơn 30 từ phương ngữ Nam Bộ trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư cho thấy nếu được đặt đúng cấu trúc ngữ cảnh, từ địa phương không gây tắc nghẽn thông tin mà trái lại còn tạo ra phong vị vùng miền đặc sắc. Người đọc có thể tiếp nhận và hiểu được 100% nội dung tư tưởng nhờ vào ngữ cảnh diễn ngôn và sự cộng hưởng cảm xúc mà văn bản đem lại.

Tiếng lóng trong văn xuôi đương đại được hình thành chủ yếu qua những phương thức tạo từ nào? Theo số liệu thống kê từ 5 tác phẩm khảo sát, 100% từ lóng xuất hiện đều được tạo thành bằng phương thức chuyển nghĩa trên cơ sở các vỏ ngữ âm sẵn có của tiếng Việt (như nôn chỉ việc nộp tiền, cốp chỉ người có chức quyền) thay vì tạo ra từ mới hoàn toàn. Điều này phản ánh sự thích ứng nhanh chóng của ngôn ngữ trước sự thay đổi của khoảng 2 giai đoạn kinh tế trước và sau thời kỳ Đổi mới.

Làm thế nào để xác định ranh giới giữa sự sáng tạo ngôn ngữ khẩu ngữ và sự dung tục, cẩu thả trong văn xuôi? Ranh giới nằm ở chức năng thẩm mỹ và sự tiết chế của ngòi bút. Sáng tạo khẩu ngữ hướng đến việc hoàn thiện hình tượng nhân vật và phục vụ ý đồ nghệ thuật chân chính, trong khi sự cẩu thả biểu hiện ở việc lạm dụng từ ngữ thô tục vô mục đích. Luận văn khuyến nghị tỷ lệ từ ngữ mang yếu tố dung tục thô ráp không nên vượt quá 2% để tránh phá vỡ tính trong sáng của ngôn ngữ văn học.

Luận văn đã tiến hành khảo sát trên bao nhiêu tác phẩm văn học tiêu biểu? Nghiên cứu tập trung khảo sát chuyên sâu trên 5 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu xuất bản từ năm 2002 đến năm 2010 của 5 tác giả lớn gồm Nguyễn Khắc Trường, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Thị Thu Huệ và Nguyễn Ngọc Tư, đại diện cho đầy đủ 3 không gian văn hóa Bắc Bộ, Nam Bộ và đời sống đô thị hiện đại.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập một hệ thống cơ sở lý thuyết vững chắc về mối quan hệ giữa chuẩn mực và phi chuẩn mực trong ngôn ngữ văn chương, làm rõ bản chất xã hội của diễn ngôn nghệ thuật.
  • Khẳng định chất liệu khẩu ngữ là nguồn tài nguyên sống còn, góp phần nâng cao tính hiện thực và dân chủ hóa văn xuôi Việt Nam trong suốt 30 năm đổi mới.
  • Chứng minh thành công giá trị thi pháp của khẩu ngữ trên cả 4 phương diện: tạo hình tượng, phản ánh hiện thực, thiết lập bối cảnh và định hình phong cách tác giả qua nguồn ngữ liệu phong phú từ 5 tác phẩm tiêu biểu.
  • Đặt nền móng cho việc mở rộng các hướng nghiên cứu liên ngành trong lộ trình 2 năm tới, tập trung khảo sát trên ngữ liệu của hơn 10 tác giả thuộc thế hệ nhà văn trẻ và văn học mạng.
  • Kêu gọi các nhà nghiên cứu, nhà xuất bản và người sáng tác tiếp tục khai thác hiệu quả vẻ đẹp của ngôn ngữ đời thường, góp phần làm giàu đẹp và hiện đại hóa tiếng Việt trong thế kỷ 21.