Luận Văn Thạc Sĩ Về Chất Liệu Khẩu Ngữ Trong Văn Xuôi Những Năm Gần Đây

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh chất liệu khẩu ngữ trong văn xuôi những năm gần đây 60 22 01001, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

226
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.3. MỤC ĐÍCH CỦA NGHIÊN CỨU

0.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

0.6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. VĂN CHƯƠNG VÀ CHẤT LIỆU NGÔN TỪ

1.2. CÁC YẾU TỐ CHUẨN MỰC TRONG VĂN CHƯƠNG

1.2.1. Chuẩn mực về sử dụng các phương tiện ngữ âm

1.2.2. Chuẩn mực về sử dụng các phương tiện từ ngữ

1.2.3. Chuẩn mực về sử dụng các phương tiện cú pháp

1.2.4. Chuẩn mực trong cách diễn đạt

1.3. CÁC YẾU TỐ NGOẠI BIÊN TRONG VĂN CHƯƠNG

1.4. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH VĂN XUÔI NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

2. CHƯƠNG 2: SỰ HIỆN DIỆN CỦA KHẨU NGỮ TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐƯỢC KHẢO SÁT

2.1. CHẤT LIỆU KHẨU NGỮ TRONG VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI

2.2. Chất liệu khẩu ngữ trong các tác phẩm được khảo sát

2.3. TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG TRONG CÁC TÁC PHẨM ĐƯỢC KHẢO SÁT

2.3.1. Khái niệm từ địa phương

2.3.2. Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân

2.3.3. Từ vựng địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân

2.3.4. Tiếng địa phương trong các tác phẩm được khảo sát

2.3.5. Cách xưng gọi mang đặc trưng vùng miền

2.3.6. Các từ vựng mang đặc trưng vùng miền

2.4. TIẾNG LÓNG TRONG VĂN XUÔI

2.4.1. Khái niệm về tiếng lóng

2.4.2. Tiếng lóng trong các tác phẩm văn học được khảo sát

2.5. YẾU TỐ VAY MƯỢN TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐƯỢC KHẢO SÁT

2.5.1. Hiện tượng từ ngoại nhập

2.5.1.1. Hiện tượng từ ngoại nhập trong tiếng Việt hiện nay
2.5.1.2. Hiện tượng từ ngoại nhập trong các tác phẩm được khảo sát

2.5.2. Mượn từ chất liệu dân gian

2.5.3. Thành ngữ, tục ngữ

2.5.4. Văn vần dân gian

2.6. CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ PHI CHUẨN MỰC KHÁC TRONG VĂN XUÔI

2.6.1. Các dạng phụ ngữ

2.6.2. Rút gọn cấu trúc

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA KHẨU NGỮ TRONG SÁNG TẠO NGÔN TỪ VĂN XUÔI. TÂM VÀ BIÊN TRONG NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG

3.1. CHỨC NĂNG THI PHÁP CỦA KHẨU NGỮ

3.1.1. Tạo hình tượng văn học

3.1.2. Khẩu ngữ với vai trò xây dựng hình tượng văn học

3.1.3. Phản ánh hiện thực. Tạo hoàn cảnh và đất diễn cho nhân vật

3.1.4. Tạo lập phong cách tác giả

3.2. KHẨU NGỮ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH NGÔN NGỮ VĂN XUÔI VÀ NGÔN NGỮ CHUẨN MỰC CỦA MỘT THỜI ĐẠI

3.2.1. Đối với ngôn ngữ chuẩn mực

3.2.2. Đối với cái đẹp của ngôn ngữ văn xuôi một thời đại

3.3. NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA KHẨU NGỮ

3.3.1. Đối với văn xuôi

3.3.2. Đối với chuẩn mực hóa ngôn ngữ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHỮNG TÁC PHẨM VĂN HỌC CÓ CÂU TRÍCH DẪN

BẢNG PHỤ LỤC 1

BẢNG PHỤ LỤC 2

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Khẩu Ngữ Trong Văn Xuôi Việt Nam

Khẩu ngữ là một phần không thể thiếu trong văn xuôi Việt Nam, phản ánh sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ dân tộc. Nghiên cứu gần đây cho thấy khẩu ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa trong các tác phẩm văn học. Việc tìm hiểu khẩu ngữ giúp hiểu rõ hơn về tâm tư, tình cảm và phong cách của nhân vật trong văn xuôi.

1.1. Khái Niệm Khẩu Ngữ Trong Văn Xuôi

Khẩu ngữ được định nghĩa là những yếu tố ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Trong văn xuôi, khẩu ngữ không chỉ đơn thuần là lời nói mà còn mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện phong cách và bản sắc văn hóa của từng vùng miền.

1.2. Vai Trò Của Khẩu Ngữ Trong Văn Học

Khẩu ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh nhân vật và tạo nên không khí cho tác phẩm. Nó giúp tác giả thể hiện rõ nét tâm lý và tính cách của nhân vật, đồng thời phản ánh hiện thực xã hội.

II. Thách Thức Trong Nghiên Cứu Khẩu Ngữ Việt Nam

Nghiên cứu khẩu ngữ trong văn xuôi Việt Nam gặp nhiều thách thức, từ việc xác định các yếu tố khẩu ngữ đến việc phân tích chúng trong ngữ cảnh văn học. Các tác phẩm văn học hiện đại thường sử dụng khẩu ngữ một cách linh hoạt, điều này tạo ra khó khăn trong việc phân loại và đánh giá.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Xác Định Khẩu Ngữ

Việc xác định khẩu ngữ trong văn xuôi không đơn giản, bởi nó thường bị ảnh hưởng bởi ngữ cảnh và phong cách của từng tác giả. Điều này đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ và văn hóa.

2.2. Phân Tích Khẩu Ngữ Trong Ngữ Cảnh

Phân tích khẩu ngữ trong ngữ cảnh văn học là một thách thức lớn. Các yếu tố như địa phương, thời gian và tâm lý nhân vật đều ảnh hưởng đến cách thức sử dụng khẩu ngữ, làm cho việc phân tích trở nên phức tạp.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Khẩu Ngữ Trong Văn Xuôi

Để nghiên cứu khẩu ngữ trong văn xuôi, các phương pháp thống kê và phân tích ngữ nghĩa thường được áp dụng. Những phương pháp này giúp xác định tần suất và chức năng của khẩu ngữ trong các tác phẩm văn học.

3.1. Phương Pháp Thống Kê Khẩu Ngữ

Phương pháp thống kê cho phép xác định tần suất xuất hiện của các yếu tố khẩu ngữ trong văn xuôi. Qua đó, người nghiên cứu có thể đánh giá mức độ phổ biến và vai trò của khẩu ngữ trong các tác phẩm.

3.2. Phân Tích Ngữ Nghĩa Của Khẩu Ngữ

Phân tích ngữ nghĩa giúp hiểu rõ hơn về chức năng của khẩu ngữ trong văn học. Điều này bao gồm việc xem xét cách thức khẩu ngữ tạo ra hình ảnh và cảm xúc cho nhân vật, cũng như phản ánh hiện thực xã hội.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Khẩu Ngữ

Nghiên cứu khẩu ngữ không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc sáng tạo văn học. Các tác phẩm văn học hiện đại thường sử dụng khẩu ngữ như một công cụ để thể hiện bản sắc văn hóa và tâm tư của nhân vật.

4.1. Khẩu Ngữ Trong Sáng Tác Văn Học

Khẩu ngữ được sử dụng trong sáng tác văn học để tạo nên sự gần gũi và chân thực cho nhân vật. Nó giúp tác giả thể hiện rõ nét tâm lý và tính cách của nhân vật, đồng thời tạo ra không khí cho tác phẩm.

4.2. Khẩu Ngữ Trong Giao Tiếp Hàng Ngày

Nghiên cứu khẩu ngữ cũng có thể áp dụng trong giao tiếp hàng ngày, giúp nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết về văn hóa ngôn ngữ. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

V. Kết Luận Về Khẩu Ngữ Trong Văn Xuôi Việt Nam

Khẩu ngữ là một yếu tố quan trọng trong văn xuôi Việt Nam, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa và phong cách của từng tác phẩm. Nghiên cứu khẩu ngữ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong xã hội.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Khẩu Ngữ

Tương lai của nghiên cứu khẩu ngữ trong văn xuôi Việt Nam hứa hẹn sẽ có nhiều phát triển mới. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phân tích sâu hơn về vai trò và chức năng của khẩu ngữ trong các tác phẩm văn học.

5.2. Khuyến Khích Nghiên Cứu Khẩu Ngữ

Khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu và khai thác giá trị của khẩu ngữ trong văn xuôi. Điều này không chỉ giúp làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam mà còn góp phần bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh chất liệu khẩu ngữ trong văn xuôi những năm gần đây 60 22 01001

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có phần nội dung gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết Chƣơng 2: Sự can thiệp của khẩu ngữ trong các tác phẩm đƣợc khảo sát Chƣơng 3: Vai trò của khẩu ngữ trong sáng tạo ngôn từ văn xuôi Cuối luận văn là danh sách các tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học có câu trích dẫn và phần phụ lục. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. VĂN CHƢƠNG VÀ CHẤT LIỆU NGÔN TỪ Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nhƣng cho đến nay trong hầu hết các tài liệu l í luận văn học ở Việt Nam đều chỉ hiểu ngôn từ nhƣ một phƣơng tiện biểu đạt, một công cụ bề ngoài, chƣa đi sâu tìm hiểu bản chất xã hội, thẩm mĩ của nó, và do đó cũng chƣa hiểu rõ bản chất của ngôn từ văn học. Sau hơn nửa thế kỉ tìm tòi đặc trƣng văn học từ phƣơng diện ngữ học, theo nhà lí luận văn học Mỹ J.Culler trong bài Về tính văn học (1989) cho biết: cả R.

Jakobson và Tz. Todorov đều thừa nhận rằng cái “tính văn học” mà họ chủ trƣơng dễ dàng tìm thấy trong các văn bản phi văn học! Con đƣờng đúng đắn để tìm hiểu ngôn từ văn học phải xuất phát từ sự thống nhất không tách rời giữa ngôn từ và ý thức. Marx và Engels hiểu ngôn từ (ngôn ngữ) nhƣ là biểu hiện của ý thức về thực tại trong giao tiếp: “Ngôn ngữ cũng xƣa nhƣ ý thức. Ngôn ngữ chính là ý thức thực tế, thực tiễn, tồn tại cả đối với những ngƣời khác, vậy lần đầu tiên cũng tồn tại đối với chính tôi”.

Ở đây ngôn từ và ý thức không tách rời, giống nhƣ âm thanh và ý nghĩa không tách rời trong kí hiệu ngôn ngữ. Đồng thời, ngôn ngữ với tƣ cách là ý thức về thực tại, thực tiễn, tồn tại trong giao tiếp xã hội, chứ không phải là trong từ điển. Trong tiểu luận Ngôn từ sinh hoạt và ngôn từ nghệ thuật, Bakhtin xem TPVC nhƣ là sản phẩm và sự kiện của sự tác động qua lại của ngƣời nói và ngƣời nghe, ngƣời sáng tác và ngƣời thƣởng thức, và chỉ trong quan hệ tác động qua lại đó văn học mới có đƣợc tính nghệ thuật. Tuy nhiên, vấn đề bản chất xã hội, thẩm mĩ của ngôn từ văn học phải đợi đến M.

Foucault nêu ra khái niệm discours (ngôn từ) thì mới hiện ra rõ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rệt thêm một bƣớc. Theo ông, nhƣợc điểm lớn của F. de Saussure là qua sự đối lập ngôn ngữ (language) và lời nói (parole), ông đã bỏ qua thành phần thứ ba là ngôn từ (discours). Và do ảnh hƣởng to lớn của Saussure mà vấn đề ngôn từ bị để quên quá lâu.

Trong các công trình Từ ngữ và đồ vật, Khảo cổ học tri thức, M. Foucault đƣa ra khái niệm về ngôn từ nhƣ sau: “Ngôn từ (discours) do kí hiệu tạo thành, nhƣng điều nó làm đƣợc còn lớn hơn nhiều sự biểu đạt, cái nhiều hơn đó không thể qui về ngôn ngữ và lời nói.” Ý kiến của Foucault đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Tuy nhiên discours trong quan niệm của Foucault là một từ khó giải thích và khó dịch. Trong ngôn ngữ học discours chỉ một đoạn lời truyền đạt một thông tin, cho nên thƣờng dịch là “văn bản”, “ngôn bản” hay “diễn ngôn”.

Nhƣng khái niệm của M. Foucault có ý nghĩa đặc biệt, chỉ một hình thái, một kiểu lời nói do những yếu tố của đời sống xã hội, lịch sử qui định, có thể dịch thành “ngôn từ”, để phân biệt với ngôn ngữ, với lời nói và với diễn ngôn của các nhà ngữ học. Trƣớc đây, các nhà phê bình mới của Anh, Mỹ cũng đã dùng thuật ngữ ngôn từ với nghĩa là loại hình ngôn từ, để phân biệt ngôn từ thơ, ngôn từ văn xuôi… nhƣng Foucault nêu ra bình diện mới. Theo ông, đem văn học mà chỉ qui vào văn bản tất yếu sẽ tƣớc bỏ mất các điều kiện đã hình thành và tạo thành văn bản, kết quả là gạt bỏ các nhân tố tạo nên ý nghĩa của văn bản.

Ông phê phán chủ nghĩa cấu trúc đã cô lập văn bản để nhìn nó một cách tĩnh tại. Ông cho rằng sức mạnh kinh tế, chính trị, hình thái ý thức và cả chế độ văn hóa chi phối quá trình biểu đạt ý nghĩa của ngôn từ. Do đó, ngôn từ không phải là diễn ngôn trong ý nghĩa của ngôn ngữ học, mà là hoạt động thực tiễn chủ yếu của con ngƣời. Ngôn từ là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của một quần thể ngƣời trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định.

Nó 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không có tác giả riêng biệt, mà chỉ là một kiểu logic tiềm tại, đƣợc cất giấu trong ý thức của quần thể, ngầm chi phối ngôn ngữ, tƣ tƣởng, phƣơng thức hành vi của mọi ngƣời trong quần thể. Đó là cái cơ chế ràng buộc, qui định mọi ngƣời nói chung trong các điều kiện xã hội, lịch sử đƣợc nói gì và nên nói nhƣ thế nào. Foucault nói: “Anh tƣởng là anh đang nói, kì thực là lời nói đang nói về anh!”; “Một ngƣời không phải bất cứ lúc nào, ở đâu, muốn nói cái gì thì nói”. Nhƣ vậy, ngôn từ là hình thức biểu đạt của ngôn ngữ, chịu sự chi phối của một mô hình tƣ duy, một kiểu giải thích, một cơ chế ràng buộc nhất định.

Sự phân tích ngôn từ trong từng xã hội đã cho thấy cái logic nội tại, cái cơ chế thầm kín chi phối ngôn từ đó là hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con ngƣời và cơ chế quyền lực trong xã hội. Ở đây, ngôn từ với các yếu tố nội tại kể trên có tác dụng nhào nặn con ngƣời và cầm tù con ngƣời mà văn học, nghệ thuật có sứ mệnh giúp con ngƣời vƣợt thoát ra. Vận dụng vào văn học Việt Nam ta cũng thấy có sự phù hợp. Ví dụ, ở thời trung đại Việt Nam, chữ Hán với tƣ cách ngôn ngữ quan phƣơng và ngôn ngữ khoa cử đã có một sức mạnh và hấp dẫn gấp bội ngoài phạm vi một ngôn ngữ.

Việc phân biệt “nói chữ” và “nói nôm” buộc mọi ngƣời khi phát ngôn phải ý thức rõ về thân phận, địa vị, tri thức của mình. Những kẻ “hay chữ” mở miệng là trích dẫn thánh hiền, ngâm nga danh cú, “chi, hồ, giả, dã”, đã khiến cho ngƣời bình dân không có chữ ở vào địa vị mất tiếng nói. Lịch sử đã chứng kiến các cuộc đổi thay ngôn từ do các nhân tố ý thức hệ, trạng thái tri thức và hệ thống quyền lực thay đổi. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở Việt Nam đã diễn ra cuộc đảo lộn ngôn từ dữ dội.

Đó là lúc nhà thơ Tú Xƣơng đã than: “Nào có ra gì cái chữ Nho! Ông nghe ông cống vẫn nằm co!”. Công cuộc xây dựng nền văn xuôi mới gắn với tầng lớp trí thức 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tây học, hệ thống tri thức mới tiếp nhận từ phƣơng Tây, áp lực thống trị của Pháp. Bây giờ nói tiếng Tây là sang, dẫn ngạn ngữ tây, điển tích Tây là lịch sự. Cuộc xung đột thơ cũ thơ mới thực chất là xung đột ngôn từ, có hạ bệ ngôn từ thơ cũ thì thơ mới mới rộng đƣờng phát triển.

Cuộc xung đột giữa Vũ Trọng Phụng và một số nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng có tính chất nhƣ vậy. Cuộc cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tiếp theo cũng kéo theo cả một cuộc đảo lộn ngôn từ mới. Khẩu hiệu địa chúng hóa, học tập ca dao dân ca, học tập lời ăn tiếng nói của quần chúng công nông binh đã làm thay đổi ngôn từ nặng về sách vở của trí thức Tây học cũ. Những cuộc đấu tranh ý thức hệ đã hầu nhƣ chính trị hóa toàn bộ đời sống tinh thần xã hội.

Ngƣời có văn hóa thời này phải thƣờng xuyên sử dụng các thuật ngữ chính trị nhƣ tƣ sản, vô sản, giai cấp đấu tranh, chuyên chính, cách mạng, dân tộc, tập thể, dân chủ tập trung… Muốn cho lời nói có sức nặng thì trích dẫn văn kiện Đảng hay trƣớc tác của Marx, Engels, Lenin, Plekhnov, thậm chí cả Timôpheev v.v… Ý thức xã hội, trạng thái tri thức, hệ thống quyền lực đã làm cho ngôn từ trong đời sống hoàn toàn thay đổi, mặc dù ngữ pháp và vốn từ vựng cơ bản không đổi thay đáng kể. Vấn đề là vị trí, trật tự, sắc thái các lớp từ đổi thay, ý nghĩa xã hội lịch sử đổi thay. Ví dụ về nghĩa đen các từ trí thức, nông dân, công nhân trong từ điển không đổi, song về xã hội, từ nông dân, công nhân nghe sang hơn, tự tin hơn hai chữ trí thức. Trong các bản khai lí lịch, mấy từ tiểu tƣ sản, thƣơng nhân từng một thời gây một cảm giác tội lỗi, thua lép cho những ai mang chúng.

Có khái niệm ngôn từ đời sống nhƣ trên ta mới hiểu thực chất ngôn từ nghệ thuật (văn học). Khi một hệ thống ngôn từ đời sống lên ngôi thì nó trở thành một áp lực chi phối toàn bộ đời sống công cộng, chi phối ngôn từ cá nhân. Các hiện tƣợng kiêng húy, các phép tu từ đặc trƣng (nói tăng, nói 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảm, nói tránh…) xuất hiện. Khi đó các ý nghĩ, tình cảm độc lập, thành thực của các cá thể ngƣời bị đè nén, ức chế, rơi vào tình trạng mất tiếng.

Nhà triết học mácxit phƣơng Tây là E.Fromm đề xuất khái niệm “vô thức xã hội” để chỉ tình trạng đó. Trong xã hội càng có nhiều điều bất hợp lí tồn tại thì sự đè nén kinh nghiệm thành thực của con ngƣời càng lớn. Nói chung, theo Fromm thì “ý thức đại diện cho con ngƣời xã hội”, “vô thức đại diện (…) cho con ngƣời nhân loại, tức con ngƣời toàn diện, con ngƣời đƣợc tự nhiên hóa, mà tự nhiên đó là tự nhiên đƣợc ngƣời hóa” [12]. “Vô thức xã hội” là một khái niệm mang nội dung tƣ tƣởng xã hội rất sâu sắc.

Sự tiến bộ và lành mạnh của đời sống đòi hỏi biến cái vô thức thành ý thức. Sứ mệnh của khoa học và nghệ thuật là đƣa trạng thái tƣ tƣởng của con ngƣời từ vô thức trở thành ý thức. Xét về mặt lịch sử thì nói chung, mọi ngƣời đều thừa nhận là nghệ thuật, thi ca có trƣớc ngôn ngữ. Nhƣng một khi hình thành, ngôn từ đời sống có tác dụng đè nén vô thức xã hội, làm cho ngôn từ nghệ thuật biểu hiện nó luôn luôn ở vào địa vị phân biệt, thậm chí đối lập với nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ