Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa Công nghệ thông tin trường Đại học Nha Trang" do tác giả Đặng Thị Thu Hằng thực hiện (ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Nha Trang) dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Ái Cẩm vào tháng 7/2021.

Nghiên cứu được hình thành dựa trên các bối cảnh thực tiễn và lý luận cụ thể:

  • Bối cảnh kinh tế - xã hội: Giai đoạn 2020–2021 chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ đại dịch bệnh toàn cầu, khiến vấn đề việc làm trở nên nan giải. Dẫn liệu từ Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy năm 2020 cả nước có 101,7 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể hoặc hoàn tất giải thể. Trong bối cảnh này, đẩy mạnh hoạt động khởi nghiệp là yêu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết áp lực việc làm.
  • Chỉ số khởi nghiệp quốc gia: Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Toàn cầu (GEM) Việt Nam 2017/2018 do VCCI công bố chỉ ra nhận thức cơ hội kinh doanh ở Việt Nam năm 2017 đạt 46,4% (xếp 23/54 nền kinh tế). Tỷ lệ người trưởng thành có ý định khởi sự kinh doanh trong vòng 3 năm tiếp tục tăng từ 18,2% (2014) lên 22,3% (2015) và 25% (2017), xếp thứ 19/54 quốc gia khảo sát.
  • Tiềm năng khởi nghiệp lĩnh vực công nghệ thông tin: Theo số liệu từ Hội Tin học TP.HCM (HCA), tính đến tháng 4/2017, số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam đạt mức cao, trong đó công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò nền tảng. Theo quy hoạch nhân lực quốc gia, nhu cầu tuyển dụng ngành CNTT cần khoảng 250.000 đến 1 triệu lao động. Đồng thời, tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa, chỉ trong 9 tháng đầu năm 2020 đã có 1.433 doanh nghiệp thành lập mới.
  • Thực trạng tại Trường Đại học Nha Trang: Nhà trường có bề dày hơn 60 năm đào tạo, xếp thứ 30 tại Việt Nam theo Webometrics (2019) và thứ 33 theo UniRank. Khoa CNTT đào tạo hơn 1.500 sinh viên ở các bậc học. Mặc dù nhà trường đã triển khai các cuộc thi như "Ý tưởng khởi nghiệp NTU" hay "The Erpsim Apj Friendly Student Competition (SAP ERP) 2020", số lượng chương trình và nghiên cứu chuyên sâu về khát vọng khởi nghiệp dành riêng cho sinh viên khối ngành CNTT tại trường còn thiếu vắng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định các nhân tố tác động đến khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT Trường Đại học Nha Trang, đo lường mức độ tác động và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 5 nội dung:

  1. Xác định các nhân tố tác động đến Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT Trường Đại học Nha Trang.
  2. Xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên.
  3. Kiểm định sự khác biệt về Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4 khoa CNTT theo các đặc điểm cá nhân (giới tính, năm học, chuyên ngành đào tạo).
  4. Kiểm định riêng sự khác biệt về Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên theo đặc điểm nghề nghiệp của bố mẹ (làm việc trong lĩnh vực kinh doanh, giữ chức vụ quản lý trở lên).
  5. Đề xuất giải pháp và kiến nghị dựa trên kết quả định lượng nhằm hỗ trợ nhà trường hoạch định chính sách phát triển ý tưởng và tinh thần khởi nghiệp cho sinh viên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến khát vọng khởi nghiệp của sinh viên.
  • Đối tượng khảo sát: Sinh viên đại học hệ chính quy năm thứ 3 và năm thứ 4 thuộc Khoa Công nghệ thông tin Trường Đại học Nha Trang (gồm 3 chuyên ngành: Công nghệ thông tin, Công nghệ phần mềm, Hệ thống thông tin quản lý).
  • Phạm vi không gian: Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu và nghiên cứu được triển khai từ tháng 3/2021 đến tháng 6/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu tiếp cận các khái niệm học thuật nền tảng:

  • Khởi sự kinh doanh (Entrepreneurship): Là quá trình thiết kế, triển khai và điều hành một doanh nghiệp mới, mang thái độ làm việc đề cao tính sáng tạo, tự chủ, đổi mới và chấp nhận rủi ro (Bird, 1988). Đề tài phân biệt giữa "Lập nghiệp" (mang tính tự chủ, bao quát) và "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" (Startup - gắn với đỉnh cao công nghệ và mô hình kinh doanh mới).
  • Ý định và Khát vọng khởi nghiệp: Tác giả dẫn luận quan điểm của Bird (1988), Krueger (1993), Thompson (2009), Fayolle (2013), Hessels (2008) và Andrew Henley (2005) để khẳng định khát vọng khởi nghiệp là trạng thái tâm lý hướng đến mong muốn thành lập doanh nghiệp, đi kèm quyết tâm và kế hoạch hành động cụ thể.

Khung lý thuyết vận dụng hai mô hình kinh điển:

  1. Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991): Giải thích ý định hành vi qua ba tiền đề gồm Thái độ đối với hành vi (Attitude Toward Behavior), Chuẩn chủ quan (Subjective Norm) và Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control).
  2. Lý thuyết Sự kiện Khởi nghiệp (Shapero’s Entrepreneurial Event – SEE) của Shapero & Sokol (1982): Xác định ý định khởi sự phụ thuộc vào sự dịch chuyển trong cuộc sống (Displacement), Cảm nhận tính khả thi (Perceived Feasibility) và Cảm nhận sự mong muốn (Perceived Desirability).

Kế thừa các công trình thực nghiệm quốc tế (Paul Weiss, 2015; Mat và cộng sự, 2015; Maresch và cộng sự, 2016; Haris và cộng sự, 2016) và trong nước (Hoàng Thị Thương, 2014; Ngô Thị Mỵ Châu, 2018; Nguyễn Phương Mai và cộng sự, 2018; Châu Thị Ngọc Thùy, 2019), tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 6 nhóm biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc:

Ký hiệu giả thuyết Biến độc lập Mối quan hệ kỳ vọng Biến phụ thuộc
H1 Hỗ trợ khởi nghiệp (HTKN) Dương (+) Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT
H2 Môi trường giáo dục (MTGD) Dương (+) Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT
H3 Cảm nhận tính khả thi (CNKT) Dương (+) Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT
H4 Thái độ khởi nghiệp (TĐKN) Dương (+) Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT
H5 Tính cách cá nhân (TCCN) Dương (+) Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT
H6 Tiếp cận tài chính (TCTC) Dương (+) Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT

Phương pháp nghiên cứu và quy trình xử lý dữ liệu

Quy trình nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:

  • Nghiên cứu sơ bộ (Định tính): Thực hiện phỏng vấn sâu chuyên gia, thảo luận nhóm tập trung và khảo sát thử nghiệm nhằm hiệu chỉnh nội dung 35 biến quan sát thuộc 7 thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý) cho tương thích với sinh viên CNTT Trường Đại học Nha Trang.
  • Nghiên cứu chính thức (Định lượng): Dựa trên quy tắc kích thước mẫu tối thiểu của Hair và cộng sự (2006) (tỷ lệ 5 quan sát cho 1 biến đo lường, tương đương $35 \times 5 = 175$ mẫu), tác giả phát 270 bảng câu hỏi (260 bảng trực tiếp trên lớp và 10 bảng khảo sát trực tuyến). Sau khi sàng lọc, loại bỏ 20 phiếu không hợp lệ (do để trống nhiều hoặc sai đối tượng), cỡ mẫu chính thức đạt $n = 250$.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu được mã hóa, làm sạch trên MS Excel và xử lý bằng phần mềm SPSS 24.0 thông qua: Thống kê mô tả, Kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha $\ge 0.6$, hệ số tương quan biến - tổng $\ge 0.3$), Phân tích nhân tố khám phá (EFA với phép trích Principal Axis Factoring / Principal Components và phép xoay Varimax), Phân tích tương quan Pearson, Phân tích hồi quy tuyến tính bội (OLS), và Kiểm định sự khác biệt giá trị trung bình (Independent Samples T-test, One-Way ANOVA).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu chung

Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tái cấu trúc nền kinh tế sau đại dịch và làn sóng khởi nghiệp công nghệ số. Tác giả chỉ ra vai trò đào tạo đa ngành của Trường Đại học Nha Trang, nhấn mạnh tiềm năng thương mại hóa sản phẩm phần mềm của sinh viên CNTT nhưng thiếu vắng các công trình định lượng đo lường nguyện vọng khởi sự của nhóm này. Chương này xác định rõ 5 mục tiêu/nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng khảo sát là sinh viên năm 3 và năm 4 khoa CNTT, khung thời gian khảo sát từ tháng 3/2021 đến tháng 6/2021 cùng bố cục 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2 phân tích hệ thống các khái niệm: khởi nghiệp, lập nghiệp, ý định khởi nghiệp và khát vọng khởi nghiệp. Tác giả luận giải cơ sở khoa học của thuyết TPB (Ajzen, 1991) và thuyết SEE (Shapero & Sokol, 1982). Tiếp đó, chương tổng thuật chi tiết 4 nghiên cứu nước ngoài (Paul Weiss tại Hà Lan & Indonesia; Mat và cộng sự tại ĐH Kuala Lumpur; Maresch và cộng sự tại Áo; Haris và cộng sự về sinh viên CNTT tại Malaysia) và 4 nghiên cứu tại Việt Nam (Hoàng Thị Thương; Ngô Thị Mỵ Châu; Nguyễn Phương Mai và cộng sự; Châu Thị Ngọc Thùy). Từ việc tổng hợp 17 yếu tố xuất hiện trong các nghiên cứu trước, tác giả xây dựng mô hình đề xuất gồm 6 nhân tố độc lập (HTKN, MTGD, CNKT, TĐKN, TCCN, TCTC) và thiết lập 6 giả thuyết nghiên cứu tương ứng ($H1$ đến $H6$).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 giới thiệu bối cảnh đào tạo của Trường Đại học Nha Trang và quá trình phát triển của Khoa CNTT từ bộ môn Tin học năm 1993 đến khi đào tạo độc lập từ năm 2000 với 3 chuyên ngành (Công nghệ thông tin, Công nghệ phần mềm, Hệ thống thông tin quản lý). Chương trình bày quy trình nghiên cứu chuẩn hóa từ nghiên cứu định tính sơ bộ đến nghiên cứu định lượng chính thức với cỡ mẫu $n=250$. Toàn bộ hệ thống thang đo 35 biến quan sát được vận hành hóa chi tiết dựa trên thang đo Likert 5 điểm, bao gồm: thang đo Hỗ trợ khởi nghiệp, Môi trường giáo dục, Cảm nhận tính khả thi, Thái độ khởi nghiệp, Tính cách cá nhân, Tiếp cận tài chính và Khát vọng khởi nghiệp.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày kết quả phân tích số liệu thực chứng trên phần mềm SPSS 24.0:

  • Thống kê mô tả mẫu: Phân tích cơ cấu 250 sinh viên theo giới tính, năm học (năm 3, năm 4), chuyên ngành học và hoàn cảnh gia đình.
  • Đánh giá thang đo: Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach's Alpha cho các thang đo thành phần sơ bộ và chính thức, xác nhận các biến quan sát đạt độ tin cậy cao và hệ số tương quan biến - tổng phù hợp.
  • Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Kiểm định KMO và Bartlett cho các biến độc lập và biến phụ thuộc đều đạt yêu cầu ($KMO > 0.5$, $p < 0.05$). Ma trận xoay nhân tố hội tụ rõ ràng các nhóm biến.
  • Phân tích hồi quy tuyến tính: Kiểm định đa cộng tuyến (hệ số VIF), kiểm định phân phối chuẩn của phần dư (biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa và biểu đồ P-P Plot). Kết quả hồi quy bội khẳng định 5 biến có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến Khát vọng khởi nghiệp:

$$\text{Khát vọng khởi nghiệp} = f(\text{TCCN}, \text{TĐKN}, \text{TCTC}, \text{CNKT}, \text{HTKN})$$

  • Kiểm định sự khác biệt (T-test và ANOVA): Kiểm định sự khác biệt về khát vọng khởi nghiệp theo giới tính, năm học, ngành học, đặc điểm bố mẹ làm kinh doanh và đặc điểm bố mẹ giữ chức vụ quản lý trở lên.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện thực chứng và đề xuất hệ thống hàm ý quản trị phân bổ theo 5 nhóm nhân tố có ảnh hưởng (Tính cách cá nhân, Thái độ khởi nghiệp, Tiếp cận tài chính, Cảm nhận tính khả thi, Hỗ trợ khởi nghiệp). Tác giả kiến nghị các giải pháp cụ thể cho Ban Giám hiệu, Khoa CNTT và Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp của trường, đồng thời chỉ ra các giới hạn của nghiên cứu để định hướng cho các công trình tiếp theo.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính

Kết quả phân tích hồi quy bội trong văn bản xác định 5 nhân tố độc lập tác động thuận chiều, có ý nghĩa thống kê đến biến phụ thuộc Khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT Trường Đại học Nha Trang, được sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần qua hệ số hồi quy chuẩn hóa ($\beta$):

Thứ hạng Nhân tố ảnh hưởng Ký hiệu Hệ số hồi quy chuẩn hóa ($\beta$) Mức độ tác động
1 Tính cách cá nhân TCCN $\beta_5 = 0.423$ Tác động mạnh nhất
2 Thái độ khởi nghiệp TĐKN $\beta_4 = 0.303$ Tác động mạnh thứ hai
3 Tiếp cận tài chính TCTC $\beta_6 = 0.168$ Tác động thứ ba
4 Cảm nhận tính khả thi CNKT $\beta_3 = 0.121$ Tác động thứ tư
5 Hỗ trợ khởi nghiệp HTKN $\beta_1 > 0$ Tác động thuận chiều

Ghi chú: Nhân tố Môi trường giáo dục (MTGD) không cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê trực tiếp trong mô hình hồi quy sau cùng của mẫu nghiên cứu.

Kết quả kiểm định sự khác biệt (độ tin cậy 95%):

  • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khát vọng khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên phân theo: Giới tính, Năm học (năm 3 so với năm 4), và Ngành học chuyên sâu trong khoa CNTT.
  • Đặc điểm nghề nghiệp của bố mẹ (bố mẹ làm việc trong lĩnh vực kinh doanh; bố mẹ có chức vụ từ quản lý trở lên) không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với khát vọng khởi nghiệp của sinh viên.

Hàm ý và giải pháp đề xuất

Dựa trên 5 nhóm yếu tố có tác động, tác giả đưa ra các hàm ý thực tiễn cho nhà trường và khoa:

  1. Nhóm Tính cách cá nhân ($\beta = 0.423$): Xây dựng môi trường rèn luyện tính chủ động, bồi dưỡng sự tự tin, tinh thần dám chấp nhận rủi ro và khả năng thích ứng linh hoạt trong môi trường công nghệ nhiều biến động.
  2. Nhóm Thái độ khởi nghiệp ($\beta = 0.303$): Đẩy mạnh truyền thông, tổ chức các buổi tọa đàm với các cựu sinh viên khởi nghiệp thành công trong ngành CNTT nhằm định hình nhận thức tích cực về việc tự làm chủ và theo đuổi đam mê công nghệ.
  3. Nhóm Tiếp cận tài chính ($\beta = 0.168$): Thiết lập mạng lưới kết nối giữa sinh viên với các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần và các vườn ươm doanh nghiệp; hỗ trợ kiến thức lập dự toán tài chính và gọi vốn khởi nghiệp công nghệ.
  4. Nhóm Cảm nhận tính khả thi ($\beta = 0.121$): Tăng cường đào tạo kỹ năng phân tích thị trường, đánh giá đối thủ cạnh tranh, lập kế hoạch kinh doanh và kiểm thử tính khả thi của sản phẩm phần mềm trước khi thương mại hóa.
  5. Nhóm Hỗ trợ khởi nghiệp: Mở rộng các hoạt động tư vấn, xây dựng không gian làm việc chung (co-working space) tại trường và phát huy vai trò định hướng từ phía giảng viên, gia đình và các tổ chức đoàn thể.

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp học thuật: Kiểm chứng thực nghiệm mô hình kết hợp giữa TPB và SEE trong bối cảnh đặc thù của sinh viên ngành kỹ thuật - CNTT tại một trường đại học khu vực Nam Trung Bộ, bổ sung dữ liệu thực chứng cho mảng nghiên cứu khởi sự kinh doanh công nghệ tại Việt Nam.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu và căn cứ khoa học giúp Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Khoa CNTT cùng các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp điều chỉnh chương trình ươm tạo, tổ chức sân chơi học thuật sát với nhu cầu và tâm lý của người học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ rõ các giới hạn xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Phạm vi đối tượng và không gian: Mẫu nghiên cứu chỉ khảo sát 250 sinh viên năm 3 và năm 4 thuộc Khoa CNTT của Trường Đại học Nha Trang, chưa mở rộng ra các khóa dưới (năm 1, năm 2) hoặc các trường đại học khác trên địa bàn miền Trung và toàn quốc.
  • Phương pháp lấy mẫu và thời gian: Nghiên cứu được thực hiện tại một thời điểm cắt ngang (tháng 3/2021 – 6/2021) trong điều kiện dịch bệnh, có thể chịu ảnh hưởng bởi tâm lý thị trường lao động giai đoạn đó.
  • Mô hình nghiên cứu: Biến Môi trường giáo dục chưa cho thấy tác động trực tiếp có ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy, đòi hỏi cần xem xét vai trò biến trung gian hoặc bổ sung thêm các nhân tố môi trường chính sách, công nghệ mới.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát sang các khối ngành kỹ thuật khác hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh liên trường giữa các cơ sở đào tạo CNTT tại miền Trung và cả nước.
  • Bổ sung các biến số mới liên quan đến năng lực chuyển giao công nghệ, xu hướng ứng dụng chuyển đổi số và kiểm định vai trò trung gian/điều tiết của môi trường hỗ trợ từ trường đại học.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế: Tham khảo phương pháp vận dụng mô hình TPB và SEE, kỹ thuật thiết kế thang đo khảo sát ý định hành vi, và quy trình xử lý định lượng trên SPSS 24.0 (Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy tuyến tính, T-test, ANOVA).
  • Cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên phụ trách khởi nghiệp tại các trường đại học: Tham khảo dữ liệu thực chứng về mức độ tác động của các nhân tố (đặc biệt là Tính cách cá nhân và Thái độ khởi nghiệp) để xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng mềm và ươm tạo dự án sinh viên CNTT phù hợp.
  • Người nghiên cứu về khởi nghiệp công nghệ (Tech Startups): Cung cấp hệ thống 35 biến quan sát đã qua sàng lọc độ tin cậy và bảng tổng hợp các nghiên cứu tiền nhiệm trong và ngoài nước về ý định khởi nghiệp lĩnh vực kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu cốt lõi và đối tượng khảo sát chính của khóa luận là gì?

Khóa luận nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khát vọng khởi nghiệp của sinh viên. Đối tượng khảo sát chính thức là 250 sinh viên hệ đại học chính quy năm thứ 3 và năm thứ 4 thuộc 3 chuyên ngành (Công nghệ thông tin, Công nghệ phần mềm, Hệ thống thông tin quản lý) tại Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Nha Trang.

2. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm những yếu tố nào và dựa trên khung lý thuyết nào?

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB - Ajzen, 1991) và Thuyết Sự kiện Khởi nghiệp (SEE - Shapero & Sokol, 1982), gồm 6 biến độc lập: Hỗ trợ khởi nghiệp (HTKN), Môi trường giáo dục (MTGD), Cảm nhận tính khả thi (CNKT), Thái độ khởi nghiệp (TĐKN), Tính cách cá nhân (TCCN), Tiếp cận tài chính (TCTC) và 1 biến phụ thuộc là Khát vọng khởi nghiệp lĩnh vực CNTT.

3. Yếu tố nào có mức độ tác động mạnh nhất đến khát vọng khởi nghiệp của sinh viên trong kết quả hồi quy?

Kết quả hồi quy bội chỉ ra yếu tố Tính cách cá nhân (TCCN) có mức độ tác động thuận chiều mạnh nhất với hệ số $\beta_5 = 0.423$, tiếp đến là Thái độ khởi nghiệp (TĐKN) với $\beta_4 = 0.303$.

4. Các yếu tố nhân khẩu học và nghề nghiệp của bố mẹ có tạo ra sự khác biệt về khát vọng khởi nghiệp không?

Kiểm định T-test và ANOVA (với độ tin cậy 95%) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khát vọng khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên theo Giới tính, Năm học, Ngành học chuyên sâu, cũng như đặc điểm nghề nghiệp của bố mẹ (làm việc trong lĩnh vực kinh doanh hoặc giữ vị trí từ quản lý trở lên).

5. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và phương pháp thu thập dữ liệu như thế nào?

Tác giả phát ra 270 bảng khảo sát (260 bản trực tiếp tại lớp học và 10 bản trực tuyến). Sau khi sàng lọc và loại bỏ 20 phiếu không hợp lệ, dữ liệu chính thức đưa vào phân tích gồm 250 quan sát, đáp ứng yêu cầu kích thước mẫu tối thiểu ($n = 175$ cho 35 biến quan sát theo tỷ lệ 5:1).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Thu Hằng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về khởi sự kinh doanh và đo lường thực chứng các nhân tố tác động đến khát vọng khởi nghiệp của sinh viên khoa CNTT Trường Đại học Nha Trang. Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng trên mẫu 250 sinh viên năm 3 và năm 4, công trình đã xác định 5 nhân tố có tác động tích cực gồm Tính cách cá nhân, Thái độ khởi nghiệp, Tiếp cận tài chính, Cảm nhận tính khả thi và Hỗ trợ khởi nghiệp. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn, cung cấp luận cứ rõ ràng cho công tác hoạch định chính sách hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học.