Chương 1: Giới thiệu chung Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và cấu trúc đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Giải thích khái niệm, trình bày các mô hình nghiên cứu trước đó có đề tài liên quan đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết cho bài nghiên cứu. Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 Trình bày phương pháp thực hiện bài nghiên cứu từ các bước xây dựng mô hình nghiên cứu, thu thập dữ liệu đến phân tích xử lý số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả thu thập thực tế và phân tích dữ liệu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra hàm ý quản trị cho đề tài nghiên cứu. Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến nghiên cứu, trình bày và tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đó của các tác giả trong và ngoài nước. Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm khởi sự kinh doanh Khởi nghiệp (tiếng Anh: Startup hoặc Start-up) là thuật ngữ chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (Startup company), thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp. Khởi sự kinh doanh (tiếng Anh: Entrepreneurship) hay Lập nghiệp mô tả tinh thần kinh doanh là quá trình thiết kế, triển khai và điều hành một doanh nghiệp mới, mà thường ban đầu một doanh nghiệp nhỏ, hoặc là năng lực và sẵn sàng để phát triển, tổ chức và quản lý một dự án kinh doanh cùng với bất kỳ rủi ro của nó để tạo ra lợi nhuận.
Khởi sự kinh doanh theo từ điển tiếng Việt là khởi đầu một cái mới, là một thái độ làm việc đề cao tính sáng tạo, độc lập, tự chủ, đổi mới và luôn chấp nhận rủi ro tạo ra các giá trị mới trong các doanh nghiệp hiện tại (Bird,1988). Nói về sự khác nhau giữa khởi nghiệp và lập nghiệp theo ông Trương Gia Bình, Chủ tịch FPT cho hay: "Một bên là Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, một bên được hiểu là Lập nghiệp (Entrepreneurship). Lập nghiệp cũng có thể trở thành doanh nghiệp cực kỳ lớn. Nói đến Startup phải nói đến đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến điều thế giới chưa từng làm".
Theo ông Bùi Thế Duy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ: "Doanh nghiệp khởi nghiệp phải dựa trên một công nghệ mới hoặc tạo ra một hình thức kinh doanh mới, xây dựng một phân khúc thị trường mới, nghĩa là phải tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới". Nhìn chung khái niệm về Khởi nghiệp và Lập nghiệp rất dễ bị nhầm lẫn, tuy nhiên hai khái niệm này đều bao hàm một ý nghĩa chung đó là việc cá nhân tạo dựng một doanh nghiệp và đứng ra làm chủ. Bên cạnh đó qua hai khái niệm được đưa ra có thể thấy khái niệm Lập nghiệp bao hàm cả khái niệm Khởi nghiệp, khái niệm Lập nghiệp thường được Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 sử dụng phổ biến hơn vì nó mang tinh thần kinh doanh và tình thần tự chủ cao, vì thế khi nói đến tinh thần doanh nhân hay khát khao thành lập doanh nghiệp thì thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu trước đó sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu. Trong khi đó thuật ngữ Khởi nghiệp được xuất hiện sau và thường mang thêm tính đột phá, đổi mới, sáng tạo trong doanh nghiệp; đây là thuật ngữ thường được sử dụng nhiều trong bối cảnh thời đại công nghiệp kỹ thuật số ngày nay.
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng thuật ngữ Lập nghiệp cho nghiên cứu vì thuật ngữ Lập nghiệp mang tính bao quát hơn thuật ngữ Khởi nghiệp và phổ biến hơn đối với các đề tài nghiên cứu.2 Khái niệm Ý định khởi nghiệp Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ý định khởi nghiệp từ nhiều nguồn tác giả khác nhau. Ý định khởi nghiệp là trạng thái tâm lý cá nhân hướng đến việc hình thành, thiết lập hình thức hoạt động kinh doanh (Bird, 1998). Ý định khởi sự kinh doanh là cam kết khởi nghiệp bằng việc thành lập và làm chủ doanh nghiệp mới (Krueger, 1993), hay là sự khẳng định của chủ thể về dự định làm chủ doanh nghiệp mới và xây dựng kế hoạch hành động tại một thời điểm cụ thể trong tương lai (Thompson, 2009) hay đơn giản là động lực thiết lập kế hoạch hành động để thành lập một doanh nghiệp mới (Fayolle, 2013). Theo Gurbuz & Aykol (2008), ý định khởi nghiệp là sẵn sàng thực hiện các hoạt động của doanh nhân; là sự liên quan đến suy nghĩ quyết định khởi đầu một công việc kinh doanh của một cá nhân (Souitaris & cộng sự, 2007).
Ý định khởi nghiệp còn được định nghĩa là quá trình nhận dạng, đánh giá và khai thác cơ hội kinh doanh từ bên ngoài (Shane & Venkataraman, 2000); là một đại diện các hành động có kế hoạch để thực hiện một hành vi kinh doanh (Tubbs & Ekeberg, 1991). Như vậy, có thể nhận định rằng ý định khởi nghiệp là dự định và cam kết khởi sự kinh doanh của cá nhân bằng cách thành lập công ty riêng trong tương lai (Hoàng Thị Thương, 2014). Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.3 Khái niệm Khát vọng khởi nghiệp Khát vọng khởi nghiệp là sự thúc đẩy mong muốn khởi nghiệp của cá nhân hướng đến việc thành lập một doanh nghiệp mới (Hessels, 2008). Nói cách khác, Khát vọng khởi nghiệp là những mong muốn nhất định được lên kế hoạch để bắt đầu một dự án kinh doanh mới hoặc kỳ vọng rằng một dự án sẽ được bắt đầu thực hiện (Andrew Henley, 2005), định nghĩa đã nêu đồng quan điểm với (Thompson, 2009) và (Fayolle, 2013) đã nêu về Ý định khởi nghiệp.
Trong những câu chuyện thành công về khởi nghiệp ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia khác, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (hiện tại là Chủ tịch nước) nhận thấy có một số điểm chung để khởi nghiệp thành công: Đó là đam mê, khát vọng, dám nghĩ dám làm và nhất là không sợ thất bại. Không có đam mê và khát vọng thì không thể “dốc hết trái tim, trí tuệ và nhiệt huyết của mình” cho mục tiêu hướng đến. Không dám nghĩ, dám làm thì không thể đi đến cùng với thách thức. Điều đó cũng có nghĩa là có tầm nhìn mà không có hành động cụ thể.
“Thất bại là mẹ thành công. Nếu sợ thất bại thì chắc chắn bạn sẽ không thể thành công”. Dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám chấp nhận thất bại để thành công là tinh thần để mạnh dạn khởi nghiệp sáng tạo (2020). Vì vậy, có thể thấy rằng để thành công mỗi cá nhân chỉ có khát vọng là chưa đủ mà phải có kế hoạch rõ ràng và thời gian thực hiện cụ thể để thực hiện kế hoạch đó.
Như vậy, có thể nhận định rằng khát vọng khởi nghiệp là trạng thái tâm lý cá nhân hướng đến những mong muốn tốt đẹp, sẵn sàng và có quyết tâm để thực hiện mong muốn đó, những cá nhân có khát vọng khởi nghiệp thường có tính liều lĩnh trong kinh doanh cao (Andrew Henley, 2005). Như các nhà nghiên cứu (Hessels, Thompson, Fayolle và Henley) đã nêu ở trên về Khát vọng khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp có ý nghĩa tương đồng với nhau. Vì vậy trong nghiên này tác giả có thể sử dụng hai từ khóa “Khát vọng khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp” thay thế cho nhau.2 Các lý thuyết nghiên cứu 2.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 Lý thuyết hành vi dự định TPB (Ajzen, 1991) cho rằng hành vi của con người là kết quả của ý định thực hiện và khả năng kiểm soát hành vi của họ. Thuyết này được phát triển Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 dựa trên Thuyết hành động hợp lý (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975).
Thuyết TPB phát triển thêm yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi so với thuyết TRA. Ajzen nhận định Ý định hành vi của một cá nhân sẽ bị tác động bởi ba yếu tố: (1) Thái độ (Attitude Toward Behavior): được hiểu là mức độ cảm nhận và đánh giá của cá nhân đó lên đối tượng mà họ xem xét thực hiện (cụ thể trong nghiên cứu này là Thái độ đối với Khởi nghiệp). (2) Chuẩn chủ quan (Subjective Norm): chỉ đến nhận định và đánh giá của xã hội lên một vấn đề nào đó. Chuẩn chủ quan còn được xem là áp lực của định kiến xã hội lên Ý định thực hiện hành vi mà một cá nhân nhận thấy được.
(3) Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavior Control): được hiểu là cảm nhận của cá nhân về mức độ khó dễ trong việc thực hiện một hành động. Trong Thuyết TPB tác giả Ajzen nhấn mạnh yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tác động trực tiếp đến Ý định hành vi. Thái độ với hành vi Hành vi khởi nghiệp Tiêu chuẩn chủ quan Ý định khởi nghiệp Kiểm soát hành vi mong muốốn Hình 2.1 Lý thuyết hành vi dự định TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) 2.2 Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (The Entrepreneurial – SEE) Thuyết sự kiện khởi nghiệp SEE (The Entrepreneurial Event – SEE) được đưa ra bởi nhóm tác giả Shapero & Sokol vào năm 1982. Lý thuyết của nhóm tác giả chỉ ra rằng khi chủ thể nhận thấy một cơ hội mang tính khả thi và họ mong muốn chớp lấy cơ hội đó thì họ Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 sẽ bắt đầu nảy sinh ý định thành lập một doanh nghiệp (hay khởi sự kinh doanh).
Tuy nhiên để ý định khởi sự kinh doanh biến thành hành động thì thì cá nhân bị phụ thuộc và tác động bởi hai yếu tố, thứ nhất đó những thay đổi quan trọng trong cuộc sống (Displacement) của cá nhân đó, thứ hai là thái độ của cá nhân đó đối với việc khởi sự kinh doanh. Trong đó thái độ này được thể hiện qua hai khía cạnh đó là cảm nhận của cá nhân về tính khả thi và cảm nhận của cá nhân về mong muốn thành lập doanh nghiệp. Lý thuyết cũng chỉ ra rằng những sự thay đổi trong cuộc sống của chủ thể đóng vai trò quan trọng như một chất xúc tác lên sự hình thành thành hành động của ý định khởi sự của họ.