Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI Ở MƯỜNG LA 1. Điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Mường La là huyện miền núi của Sơn La, cách Thành phố Sơn La 41 km về phía Đông Bắc, có toạ độ địa lý: 21015' - 21042' vĩ Độ Bắc; 103045' - 104020' kinh độ Đông. Phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái; phía Đông Nam giáp huyện Bắc Yên; Phía Tây giáp huyện Quỳnh Nhai và huyện Thuận Châu; Phía Nam giáp huyện Mai Sơn và Thành phố Sơn La.
Do vị trí địa lý như vậy, Mường La có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu văn hoá, trao đổi hàng hoá với các địa phương khác. Đây là những thế mạnh mà Đảng bộ, chính quyền địa phương đã xác định tập trung khai thác lợi thế trong thời gian tới. - Địa hình Huyện Mường La nằm ở độ cao trung bình từ 500- 700m so với mặt nước biển, phía Đông và phía Đông Bắc của huyện là những dãy núi cao, địa hình thấp dần về phía Nam và dọc theo 2 bờ sông Đà. Sông Đà là sông lớn nhất chảy qua huyện.
Một số sông suối lớn khác là Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia. Khi đập thủy điện Sơn La được hoàn thành, hồ thủy điện Sơn La sẽ chiếm một phần không nhỏ diện tích toàn huyện. - Khí hậu Mường La có khí hậu nhiệt độ gió mùa, khí hậu trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, vào mùa mưa thường Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 11 Khóa luận tốt nghiệp kèm theo lốc và lũ quét tại các sông suối đầu nguồn.
Mùa khô chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam, gió mùa Đông Bắc và khí hậu tiểu vùng sông Đà, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20-260C, lượng mưa bình quân là 1.347mm/năm, độ ẩm trung bình là 85%. - Đất đai Huyện Mường La có tổng diện tích đất tự nhiên là 142,205. Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 89.792 ha, chiếm 63,14% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện; diện tích đất phi nông nghiệp (đất ở và đất chuyên dùng) là 3.725 ha chiếm 2,6%; diện tích đất chưa sử dụng là 48.844 ha chiếm 34,34%, diện tích này chủ yếu là đối núi chưa sử dụng với 38.154 ha, trên diện tích này chủ yếu là thảm thực vật xen cây lùn, còn lại 10.69 ha là núi đá không rừng cây.
- Hệ thống thủy văn Trên địa bàn có sông Đà chảy qua theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, với tổng chiều dài 50km. Có 5 con suối lớn là suối Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia chảy qua với chiều dài 200km và nhiều con suổi nhỏ rải rác trong toàn huyện. Hệ thống sông suối ở đây nhiều thác ghềnh đều chảy trên các sườn dốc, dồn nước vào các thung lũng hẹp, đổ ra sông suối lớn, nên chế độ dòng chảy rất thất thường gây khó khăn cho thuyền bè đi lại trên sông, nhất là vào mùa nước lũ. Nhưng cũng vì thế mà chúng đã tạo ra một nguồn năng lượng sức nước vô tận phát triển thủy điện.
Hiện nay, trên địa bàn huyện đã và đang xây dựng 13 công trình thuỷ điện lớn, vừa và nhỏ. Tổng công suất khoảng 3.200MW, trong đó thuỷ điện Sơn La là công trình thuỷ điện lớn nhất nước ta. - Giao thông Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 12 Khóa luận tốt nghiệp Đến nay huyện đã có 16/16 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, nhưng do địa hình hơn 90% là đồi núi nên việc đi lại còn gặp rất nhiều khó khăn. Đường giao thông liên bản hầu như chưa có, việc đi lại giữa các bản chủ yếu là dùng ngựa hoặc đi bộ trên những con đường mòn nhỏ.
Vào mùa mưa việc đi lại của bà con còn gặp nhiều khó khăn hơn, nhiều khi không đi được vì đường bị sạt lở, các rãnh nước từ khe núi chảy ra làm chia cắt, ngập đường. Riêng hệ thống giao thông khu trung tâm huyện khá phát triển, bao gồm đường thủy, đường hàng không, đặc biệt là mạng lưới giao thông đường bộ bao gồm các tuyến đường vào nhà máy, đường vào các khu mỏ khai thác, tuyến đường 106, các tuyến nội thị…đều được hoàn thiện theo tiêu chuẩn, chủ yếu là đường nhựa, đường bê tông và cấp phối phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” các tuyến đường liên xã, liên bản, đến các điểm tái định cư thủy điện Sơn La được đầu tư xây dựng, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn. Có thế thấy, với địa hình núi cao, sông rộng, nhiều suối, có đường thuỷ, đường bộ và đường không nên Mường La có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng trong khu vực Tây Bắc nói chung.
Được đánh giá là huyện giàu tiềm năng về đất đai, môi trường, tài nguyên, trong đó có thế mạnh là phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện. Tuy có nhiều tiềm năng nhưng Mường La vẫn có tên trong danh sách 5 huyện nghèo của tỉnh Sơn La do phải đối mặt với những khó khăn như: địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp; tập quán canh tác lạc hậu, các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp, nhất là khi tiếp nhận thêm gần 1 vạn công nhân đến làm việc trên công trường Nhà máy thuỷ điện Sơn La. Điều kiện văn hóa xã hội - Các đơn vị hành chính Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 13 Khóa luận tốt nghiệp Toàn huyện có 16 đơn vị hành chính, gồm 01 thị trấn là thị trấn Ít Ong và các xã: Chiềng Hoa, Tạ Bú, Mường Chùm, Chiềng San, Nậm Păm, Pi Toong, Mường Bú, Hua Trai, Chiềng Lao, Nậm Giôn, Mường Trai, Chiềng Muôn, Chiềng Ân, Chiềng Công, Ngọc Chiến. Trong đó có 7 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn, nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II là các xã: Chiềng Lao, Nậm Giôn, Mường Trai, Chiềng Muôn, Chiềng Ân, Chiềng Công, Ngọc Chiến.
- Dân số, dân tộc Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2009, dân số toàn huyện là 16. Trong đó số dân của huyện là 79.779 người, còn lại là công nhân phục vụ thủy điện Sơn La. Mật độ dân số bình quân 60 người/km2 với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,86%. Về dân tộc, toàn huyện có 6 dân tộc anh em cùng chung sống, bao gồm: dân tộc Thái chiếm 63,21%; Mông 16,98%; Kinh 12,65%; La Ha 5,91%; Kháng 0,93%; Khơ Mú 0,32%.
Cũng như nhiều vùng khác của Tây Bắc, các dân tộc ở Mường La chủ yếu phân bố như sau: Người Thái tập trung tại vùng thấp, dọc sông suối, có cánh đồng rộng. Sinh sông chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, cây hoa màu trên nương và đánh bắt thuỷ sản. Người La Ha, Kháng, Khơ Mú sinh sống ở rẻo giữa bằng nghề làm nương, thu hái lâm sản. Người Mông sống ở vùng cao bằng nghề trồng cây trên nương là chủ yếu Người La Ha không dệt vải mà chỉ trồng bông đem đổi với người Thái để lấy quần áo mặc nên trang phục của người La Ha tương tự như trang phục của người Thái đen.
- Giáo dục, y tế Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 14 Khóa luận tốt nghiệp Về giáo dục, huyện luôn giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở và xây dựng 13 trường học đạt chuẩn quốc gia. Trong công tác y tế tương tự như nhiều vùng núi, dân tộc trong cả nước, hệ thống y tế của huyện Mường La bao gồm: bệnh viện huyện, bác sĩ.Đối với từng xã trong huyện đã có đủ trạm y tế xã, nhân viên y tế thôn và y tế tư nhân (rất ít). Trong đó bệnh viện huyện à đơn vị có vai trò chính trong việc quản lý và chăm sóc sức khoẻ cho người dân trong huyện - Các đặc điểm văn hóa Là huyện miền núi có nhiều dân tộc anh em sinh sống (trong đó người Thái chiếm đa số nhưng chủ yếu là Thái đen). Mỗi dân tộc đều có những bản sắc văn hóa riêng nhưng các nền văn hoá đó không độc lập tồn tại (trong cái chung có cái riêng) mà hoà quyện, bổ trợ lẫn nhau tạo nên một văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhìn chung đồng bào các dân tộc trong huyện đều có chung truyền thống: dũng cảm, cần cù, sáng tạo trong lao động, có tinh thần yêu nước, ngoan cường đấu tranh chống áp bức, bóc lột, tính tình thật thà, chất phác, ưa phóng khoáng, rộng lượng và rất mến khách. Không những vậy, nhân dân trong huyện còn có tinh thần đoàn kết và tính cộng đồng cao : “Tuy khác bản nhưng chung mường; ở khác phương nhưng chung vùng; ở mỗi người một khe suối nhưng chung một vận mệnh” (ca dao Thái). Khát quát về người Thái ở huyện Mường La 1. Tên gọi, dân số và sự phân bố Người Thái Mường La tự gọi mình là Phủ Tay hay Côn Tay đều có nghĩa là người.
Người Thái ở Mường La thuộc ngành Thái Đen. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga 15 Khóa luận tốt nghiệp Huyện Mường La trước đây rộng: 1.421,0 km2, dân số: 67,294 người, trong đó: Thái: 48,969 người (1999). Hiện nay, người Thái ở huyện Mường La có 54.344 người, chiếm 63,21% dân số toàn huyện. Tên Mường La xuất hiện từ thế kỷ XII.
Đó là tên đông nghĩa với tên Mường Lò. Theo Quam tô mương (Kể chuyện bản mường) của người Mường La nói: khi Lạng Chượng đưa người Thái tới Mường La, đã dựng nhà để cúng tổ tiên tại nơi trung tâm “ mường”.Ngày cúng tổ tiên họ Lò ( họ quý tộc) là ngày “hài” ( tức ngày bính) nên đặt địa điểm dựng nhà cúng đó là bản hài. Nay xác định đó là bản Hài thuộc xã Chiềng An huyện Mường La. Xưa kia vì bản Hài là trung tâm châu Mường nên gọi là “Viềng hài”.
Trung tâm châu mường gọi là Chiềng An nên tên châu mường cũng gọi là Chiềng An. Những “ mường nhỏ” thuộc phạm vi châu mường có: Mường Trai hay Chiêng Nghiêm, Mường Bú hay Chiềng Biên, Mường Chùm, Mường Chiến. Theo Quam tô mương, khoảng thế kỷ XV sau đời Ta Ngần ở Mường La có Duông Căm làm thủ lĩnh, Mường La bắt đầu dần dần phát triển thế lực. đên khoảng thế kỷ XVII đời thủ lĩnh Bun Pành, Mường La tách hẳn khỏi Mường Muội thành châu mường lớn mạnh.
Bước sang thế kỷ XVIII đời thủ lĩnh Bun Phanh, Mường La đã trở thành châu mường có ảnh hưởng khắp vùng “ Mười sáu châu Thái”.