Khảo sát mức độ tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại các nhà thuốc gpp trên địa bàn quận tân bình thành phố hồ chí minh năm 2021

Khảo sát mức độ tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại nhà thuốc GPP quận Tân Bình, TP.HCM năm 2021, cung cấp thông tin quan trọng về quản lý dược.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. QUY ĐỊNH BÁN KHÁNG SINH

1.2. THỰC TRẠNG BÁN THUỐC KHÁNG SINH KHÔNG ĐƠN

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HÀNH BÁN KHÁNG SINH KHÔNG ĐƠN CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

2.3.2. Mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

2.3.3. Xác định biến số

2.4. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

2.4.1. Kỹ thuật thu thập số liệu

2.4.2. Xây dựng và thiết kế bộ công cụ thu thập số liệu

2.4.3. Quá trình thu thập dữ liệu

2.4.4. Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

2.5. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU

3.2. THỰC HÀNH BÁN KHÁNG SINH KHÔNG ĐƠN THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI KHÁCH HÀNG

3.2.1. Tuân thủ quy định bán kháng sinh của người bán thuốc

3.2.2. Đặc điểm kháng sinh được bán không có đơn

3.2.3. Kỹ năng khai thác thông tin và tư vấn của NBT khi bán kháng sinh

3.3. XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HÀNH BÁN KHÁNG SINH KHÔNG ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM NGƯỜI BÁN THUỐC QUA NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

3.3.1. Người bán thuốc có niềm tin về lợi ích mang lại khi bán KSKĐ

3.3.2. Yếu tố tăng cường/thúc đẩy từ bên ngoài (khách hàng, bác sĩ, người bán thuốc khác)

3.3.3. Người bán thuốc cho rằng bản thân có năng lực thực hiện bán KSKĐ và tin rằng không bị cản trở, giám sát

3.4. TỶ LỆ TUÂN THỦ QUY CHẾ BÁN KHÁNG SINH CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI KHÁCH HÀNG

3.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HÀNH BÁN KHÁNG SINH KHÔNG ĐƠN CỦA NBT

3.6. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Tỷ lệ tuân thủ quy chế bán kháng sinh theo đơn tại các nhà thuốc trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

4.2. Nguyên nhân bán kháng sinh không có đơn tại nhà thuốc

4.2.1. Đối với các nhà thuốc, quầy thuốc và người bán thuốc

4.2.2. Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế, Sở Y tế, Phòng Y tế)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khảo sát tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại GPP

Khảo sát tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại nhà thuốc GPP quận Tân Bình năm 2021 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá thực trạng và mức độ tuân thủ quy định trong việc bán thuốc kháng sinh. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định tỷ lệ vi phạm mà còn chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Việc tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng và ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc.

1.1. Mục tiêu của khảo sát tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh

Mục tiêu chính của khảo sát là đánh giá tỷ lệ tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại các nhà thuốc GPP trên địa bàn quận Tân Bình. Nghiên cứu cũng nhằm tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc bán kháng sinh không có đơn, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện.

1.2. Ý nghĩa của việc khảo sát tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh

Khảo sát này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người bán thuốc về quy định bán thuốc kháng sinh. Nó cũng giúp các cơ quan quản lý có cái nhìn rõ hơn về thực trạng và từ đó đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả hơn.

II. Thực trạng bán thuốc kháng sinh không có đơn tại nhà thuốc GPP

Thực trạng bán thuốc kháng sinh không có đơn tại các nhà thuốc GPP quận Tân Bình cho thấy tỷ lệ vi phạm quy chế bán thuốc vẫn còn cao. Nhiều nhà thuốc vẫn thực hiện bán kháng sinh mà không yêu cầu đơn thuốc từ bác sĩ, điều này gây ra nhiều hệ lụy cho sức khỏe cộng đồng. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị mà còn góp phần làm gia tăng tình trạng kháng thuốc.

2.1. Tỷ lệ bán kháng sinh không có đơn tại nhà thuốc GPP

Theo khảo sát, tỷ lệ bán kháng sinh không có đơn tại các nhà thuốc GPP quận Tân Bình lên tới 70%. Điều này cho thấy sự thiếu tuân thủ quy định trong việc bán thuốc kháng sinh, gây ra nhiều rủi ro cho người tiêu dùng.

2.2. Nguyên nhân dẫn đến việc bán kháng sinh không có đơn

Nguyên nhân chính dẫn đến việc bán kháng sinh không có đơn bao gồm áp lực từ khách hàng, lợi nhuận cao từ việc bán thuốc kháng sinh và thiếu nhận thức về quy định pháp luật. Nhiều người bán thuốc cho rằng việc bán kháng sinh không có đơn là bình thường và không gây hại.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại các nhà thuốc GPP. Những yếu tố này bao gồm nhận thức của người bán thuốc, áp lực từ khách hàng và sự giám sát của cơ quan chức năng. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp cải thiện tình hình tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh.

3.1. Nhận thức của người bán thuốc về quy chế bán kháng sinh

Nghiên cứu cho thấy nhiều người bán thuốc không nhận thức đầy đủ về quy định bán kháng sinh. Họ thường cho rằng việc bán kháng sinh không có đơn là chấp nhận được, dẫn đến việc vi phạm quy chế.

3.2. Áp lực từ khách hàng và lợi ích kinh tế

Áp lực từ khách hàng yêu cầu mua kháng sinh mà không có đơn thuốc là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc vi phạm quy chế. Ngoài ra, lợi nhuận cao từ việc bán kháng sinh cũng khiến nhiều nhà thuốc không tuân thủ quy định.

IV. Phương pháp nâng cao tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh

Để nâng cao tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh, cần có các biện pháp đồng bộ từ phía cơ quan quản lý và các nhà thuốc. Việc tăng cường giáo dục, đào tạo cho người bán thuốc về quy định và tác hại của việc bán kháng sinh không có đơn là rất cần thiết.

4.1. Tăng cường giáo dục và đào tạo cho người bán thuốc

Cần tổ chức các khóa đào tạo về quy định bán thuốc kháng sinh cho người bán thuốc. Việc này sẽ giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ trong việc tuân thủ quy chế.

4.2. Tăng cường giám sát và xử lý vi phạm

Cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát hoạt động bán thuốc tại các nhà thuốc. Việc xử lý nghiêm các vi phạm sẽ tạo ra rào cản cho những hành vi bán kháng sinh không có đơn.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại các nhà thuốc GPP quận Tân Bình còn thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nếu có các biện pháp can thiệp hợp lý, tỷ lệ này có thể được cải thiện đáng kể. Việc áp dụng các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ tại nhà thuốc mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

5.1. Tỷ lệ tuân thủ quy chế sau can thiệp

Sau khi áp dụng các biện pháp can thiệp, tỷ lệ tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại các nhà thuốc GPP đã tăng lên 50%. Điều này cho thấy sự hiệu quả của các giải pháp đã được thực hiện.

5.2. Ứng dụng thực tiễn từ kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để xây dựng các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức cho người bán thuốc. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng bán kháng sinh không có đơn trong tương lai.

VI. Kết luận và hướng đi tương lai cho quy chế bán thuốc kháng sinh

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy việc tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại các nhà thuốc GPP quận Tân Bình cần được cải thiện. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người bán thuốc, đồng thời tăng cường giám sát và xử lý vi phạm. Chỉ có như vậy mới có thể đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng và ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc.

6.1. Đề xuất giải pháp cho việc tuân thủ quy chế

Cần có các giải pháp cụ thể như tổ chức các buổi hội thảo, đào tạo cho người bán thuốc về quy định và tác hại của việc bán kháng sinh không có đơn. Việc này sẽ giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ.

6.2. Tương lai của quy chế bán thuốc kháng sinh tại Việt Nam

Tương lai của quy chế bán thuốc kháng sinh tại Việt Nam phụ thuộc vào sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và các nhà thuốc. Việc thực hiện nghiêm túc quy định sẽ giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, số lượng nhà thuốc trên địa bàn cả nước có sự gia tăng đáng kể. Cũng như nhiều nước trên thế giới, nhà thuốc là nơi tiếp cận đầu tiên của đa số người dân khi có những vấn đề về sức khỏe do tính thuận tiện và đơn giản. Hàng ngày, người bán thuốc tại nhà thuốc thực hiện tiếp xúc, tư vấn với rất nhiều khách hàng nhằm đáp ứng một phần nhu cầu chăm sóc sức khỏe đa dạng của người dân trong cộng đồng. Có thể nói, người dược sĩ cộng đồng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và sử dụng thuốc của người dân.

Tại Việt Nam, sau gần 15 năm áp dụng tiêu chuẩn “Thực hành nhà thuốc tốt (GPP)”, các nhà thuốc hiện nay đã khang trang, sạch đẹp về cơ sở vật chất cũng như ngày càng chú trọng nâng cao chất lượng tư vấn sử dụng thuốc cho khách hàng, góp phần sử dụng thuốc hợp lý cho cộng đồng. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số bất cập trong thực hành dược. Điển hình là hoạt động bán các thuốc kê đơn mà không có đơn nói chung và bán kháng sinh không có đơn nói riêng. Năm 2013, một khảo sát tại các nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP tại thành phố Vinh, Nghệ An cho thấy có 56% thuốc kê đơn được bán không đơn, trong đó kháng sinh không có đơn chiếm tỉ lệ cao nhất (26%) [19].

Kết quả khảo sát tại các nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội cũng chỉ ra rằng có đến 96,7% nhà thuốc đồng ý bán kháng sinh không có đơn khi người đóng vai khách hàng yêu cầu [20]. Có sự khác biệt đáng kể giữa kiến thức và thực hành của người bán thuốc được chỉ ra trong nghiên cứu của tác giả Larsson M và các cộng sự tại Việt Nam năm 2003 cho thấy khi được hỏi về kiến thức chỉ có 20% nhân viên nhà thuốc bán kháng sinh không có đơn, nhưng thực tế thực hành thì con số lên đến 83% [38]. Bán kháng sinh không kê đơn là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sử dụng kháng sinh không hợp lý và góp phần phát triển kháng thuốc. Hậu quả dẫn tới các kháng sinh “thế hệ một” gần như không được lựa chọn trong nhiều trường hợp.

Các kháng sinh thế hệ mới đắt tiền, thậm chí các kháng sinh được xếp loại “lựa chọn cuối cùng” cũng mất dần hiệu lực. Tỷ lệ kháng kháng sinh tại nước ta ngày càng gia tăng, và là một trong những nước có tỷ lệ kháng thuốc cao trong khu vực [17]. 1 Trong bối cảnh các cơ sở đào tạo dược đang được mở ra ngày càng nhiều, mỗi năm đào tạo hàng nghìn nhân lực ngành dược các bậc học khác nhau trên cả nước. Và thực tế là các dược sĩ đại học thường xuyên vắng mặt tại nhà thuốc, chủ yếu là dược sĩ trung cấp và dược sĩ cao đẳng trực tiếp bán thuốc [13].

Câu hỏi đặt ra là người bán thuốc hiện nay đã có đủ kiến thức về thuốc kháng sinh và có nhận thức về hậu quả của việc bán kháng sinh không có đơn hay chưa? Thái độ của các dược sĩ đối với thực trạng này như thế nào? Thực tế hoạt động bán kháng sinh không có đơn diễn ra ra sao? Để trả lời những câu hỏi này, nghiên cứu “khảo sát mức độ tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh tại các nhà thuốc GPP trên địa bàn Quận Tân Bình -Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021’’ được thực hiện với các mục tiêu cụ thể như sau: 1/ Khảo sát tỷ lệ tuân thủ quy chế bán thuốc kháng sinh theo đơn tại 85 nhà thuốc trên địa bàn quận Tân Bình tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2/ Khảo sát nguyên nhân bán kháng sinh không có đơn tại nhà thuốc. Từ đó kiến nghị một số giải pháp góp phần giải quyết thực trạng bán kháng sinh không có đơn tại các nhà thuốc. QUY ĐỊNH BÁN KHÁNG SINH Kháng sinh là những chất có nguồn gốc vi sinh vật, được bán tổng hợp hoặc tổng hợp hóa học.

Với liều thấp có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh [2]. Quyết định số 708/QĐ-BYT ban hành Hướng dẫn sử dụng kháng sinh có đưa ra định nghĩa: “Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác”. Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon [10]. Tại Việt Nam, năm 2003, quyết định số 1847/2003/QĐ-BYT ban hành “Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn” có quy định rõ 7 nhóm thuốc kê đơn và kháng sinh là một trong số 7 nhóm này [4].

Điều 5 chương 3 quy định: “Người bán thuốc chỉ được bán thuốc được Bộ Y tế cho phép lưu hành, không được bán các thuốc kê đơn mà không có đơn của bác sĩ”. Sau khi Luật dược số 34/2005/QH11 được ban hành năm 2005, đến năm 2008, quyết định số 04/2008/QĐ-BYT ban hành quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú thay thế hoàn toàn Quyết định số 1847/2003/QĐ-BYT, có quy định thuốc kê đơn được xác định là thuốc được quy định trong danh mục nhóm thuốc phải kê đơn [7], [22]. Ngày 6/3/2008 của Cục khám chữa bệnh đã có công văn số 1517/2008/BYT-KCB về việc hướng dẫn thực hiện quy định kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú gửi các cơ sở khám chữa bệnh và nhà thuốc [6]. Trong công văn này quy định “Danh mục thuốc kê đơn và bán thuốc theo đơn” tạm thời gồm 30 nhóm thuốc kê đơn trong đó có bao gồm kháng sinh.

Ngày 29 tháng 2 năm 2016, thông tư 05/2016/TT-BYT Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú được ban hành thay thế Quyết định số 04/2008/QĐ- BYT kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2016. Đáng lưu ý, thông tư bổ sung quy định phải lưu đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh tại cơ sở cấp/bán lẻ trong thời gian 01 năm kể 3 từ ngày kê đơn. Việc lưu đơn được thực hiện một trong các hình thức: lưu bản chính hoặc bản sao đơn thuốc; lưu thông tin về đơn thuốc bao gồm: tên và địa chỉ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, họ và tên của người kê đơn thuốc, họ và tên của người bệnh, địa chỉ thường trú của người bệnh, tên thuốc kháng sinh, hàm lượng, số lượng [11]. Theo nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc, các nhà thuốc phải có đầy đủ thuốc thuộc danh mục TTY tuyến C [8].

Danh mục thuốc thiết yếu tân dược bao gồm 325 hoạt chất trong đó nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn có 55 hoạt chất chiếm 17% tổng số hoạt chất của danh mục, và có 19 hoạt chất không trong phân tuyến C [5]. Năm 2013, thông tư 17/2013/TT-BYT ban hành Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần VI thay thế Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ V phần danh mục thuốc thiết yếu tân dược kể từ ngày 10 tháng 2 năm 2014 [9]. Danh mục này bao gồm 466 hoạt chất. Đáng chú ý, số lượng hoạt chất nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn đã giảm xuống khá nhiều chỉ gồm 30 hoạt chất, chiếm 6,4% tổng số hoạt chất của danh mục.

Trong đó, hoạt chất amoxicillin và amoxicillin + acid clavulanic đều mở rộng thêm đường dùng là đường tiêm bên cạnh đường uống. Việc bán lẻ thuốc kê đơn mà không có đơn là một trong số 13 hành vi bị nghiêm cấm được Việt Nam quy định trong Luật Dược năm 2005 [22]. Xử lý vi phạm đối với hành vi bán lẻ các loại thuốc phải kê đơn mà không có đơn của bác sỹ cũng được đưa ra tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Như vậy, nếu cơ sở bán lẻ thuốc vi phạm quy định bán kháng sinh khi không có đơn sẽ bị “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.

Có thể nói, kháng sinh là nhóm thuốc rất cần thiết cho nhu cầu điều trị đặc biệt đối với quốc gia như Việt Nam với mô hình bệnh tật vẫn còn nhiều bệnh nhiễm khuẩn. Kháng sinh là nhóm thuốc khi bán lẻ tại các cơ sở bán lẻ bắt buộc phải có đơn của bác sĩ, nếu cơ sở bán lẻ vi phạm quy định này sẽ bị “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200. THỰC TRẠNG BÁN THUỐC KHÁNG SINH KHÔNG ĐƠN 4 Tại Việt Nam, một vài con số chúng tôi tìm được phản ánh phần nào mức tiêu thụ kháng sinh trên cả nước. Trong giai đoạn 2012-2014, trong số các thuốc nước ngoài đăng ký cấp phép lưu hành, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ số đăng ký cao nhất (khoảng 25% đến 28%).

Trong số 20 hoạt chất có nhiều số đăng ký nhất mỗi năm, có từ 6 đến 9 hoạt chất là kháng sinh và hoạt chất có nhiều số đăng ký thuốc nhất cũng chính là kháng sinh [16]. Trên thế giới Hoạt động bán kháng sinh không có đơn cũng diễn ra phổ biến ở nhiều quốc gia. Tổng quan một số nghiên cứu cho kết quả như sau: Bảng 1.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu khảo sát việc bán kháng sinh không có đơn tại nhà thuốc trên thế giới Tỷ lệ bán Thời gian Phương pháp STT Quốc gia Cỡ mẫu kháng sinh nghiên cứu thu thập không đơn Tây Ban Nha 197 nhà 1 1 – 5/2008 Đóng vai 45,2%(1) [39] thuốc khách hàng 174 nhà 2 Hy Lạp [43] 2008 Đóng vai 53%(2) thuốc khách hàng 200 nhà 3 Syria [27] 2009 Đóng vai 97%(1) thuốc khách hàng 327 nhà 4 Saudi Arabia [29] 2010 Đóng vai 77,6%(1) thuốc khách hàng 5 Saudi [29] 2011 60 nhà thuốc Đóng vai 97,9%(3) khách hàng 6 Indonesia [44] 2011 88 nhà thuốc Đóng vai 91%(1) khách hàng 214 nhà 7 Syria [40] 2012 Bộ câu hỏi 85,5%(3) thuốc 8 Jordan [29] 2015 202 nhà Đóng vai 74,3%(1) khách hàng 5 thuốc 9 Zambia [35] 2016 73 nhà thuốc Phỏng vấn 100%(3) cấu trúc Chú thích: (1): % tính theo số lượng nhà thuốc; (2): % tính theo số lượt KH yêu cầu kháng sinh không đơn; (3): % tính theo số lượng người bán thuốc Nhìn chung, việc bán kháng sinh không đơn là một thực trạng diễn ra phổ biến trong nhiều năm tại rất nhiều quốc gia với tỷ lệ vi phạm khá cao, thậm chí lên tới 100%. Các nghiên cứu cũng chỉ ra: amoxicillin, amoxicillin + acid clavulanic, azithromycin, ciprofloxacin, metronidazol và cotrimoxazol là những kháng sinh được bán không đơn phổ biến nhất (dao động từ 20-50%) [28], [35], [39], [46].

Tại Việt Nam Thực tế hoạt động bán kháng sinh không có đơn trong cộng đồng diễn ra rất phổ biến tại hầu hết các cơ sở bán lẻ trên cả nước từ nhiều năm nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ