Chương 1: Bối cảnh nghiên cứu và tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và chính sách can thiệp của Nhà nước đối với thức uống có cồn Chương 3: Đánh giá về lượng tiêu thụ đồ uống có cồn ở Việt Nam Chương 4: Phân tích kết quả khảo sát thói quen tiêu thụ đồ uống có cồn ở Việt Nam Chương 5: Phân tích chính sách can thiệp của nhà nước Việt Nam đối với đồ uống có cồn -4- Chướng 6: Khuyến nghị chính sách 1.5 Tóm tắt chƣơng 1 Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi mà niềm tin của công chúng vào các thông tin tốt đẹp của xã hội dễ bị nghi ngờ, trong khi các thông tin xấu thường bị thổi phồng. Việc tiêu thụ rượu bia gia tăng trong những năm qua là có thật, và làm dụng rượu bia được chứng minh là có nhiều tác hại cho cá nhân người tiêu thụ và xã hội, tuy nhiên liệu thông tin Việt Nam uống rượu bia nhiều nhất nhì thế giới có phải là sự thật. Luận văn thực hiện nghiên cứu thông qua phương pháp nghiên cứu định tính, thống kê mô tả với số liệu thứ cấp kết hợp với điều tra khảo sát nhằm mục đích xem xét lượng tiêu thụ bình quân đồ uống có cồn Việt Nam đứng ở đâu trên thế giới và trong khu vực, đồng thời xem xét các thói quen có hại trong tiêu thụ đồ uống có cồn và các can thiệp của Nhà nước Việt Nam. -5- Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CỦA NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐỒ UỐNG CÓ CỒN Nhà nước thực hiện can thiệp vào thị trường nhằm sửa chữa những thất bại của thị trường như độc quyền, bất cân xứng thông tin, ngoại tác, hàng hóa công.
Các quốc gia trên thế giới hầu hết có các chính sách can thiệp vào đồ uống có cồn. Vậy đồ uống có cồn thuộc nhóm hàng hóa nào trong các nhóm hàng hóa cần can thiệp ở trên? 2.1 Cơ sở để nhà nƣớc thực hiện các can thiệp vào đồ uống có cồn Thức uống có cồn là hàng hóa có ngoại tác tiêu cực (WHO, 2014). Ngoại tác xảy ra khi một bên làm tăng hay giảm chi phí, lợi ích của một hay một số bên khác nhưng không thông qua giao dịch thị trường và không được phản ánh qua giá. Ngoại tác tiêu cực làm của đồ uống có cồn xảy ra làm lượng sản xuất và tiêu thụ nhiều hơn mức tối ưu đối với tổng thể nền kinh tế, gây tổn thất xã hội.
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện cho thấy thức uống có cồn ngoài việc gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe và tài chính và các vấn đề cá nhân khác của người sử dụng và gia đình, nó còn là gây nên gánh nặng bệnh tật đối với hệ thống y tế công cộng, các vấn đề và các chi phí kinh tế khác như trật tự xã hội, an toàn giao thông, suy giảm năng suất…. Gánh nặng chi phí đối với việc lạm dụng các thức uống có bị phân bổ cho nhiều thành phần khác nhau ngoài người trực tiếp sử và gia đình họ như các nạn nhân của các tội phạm và các vụ tai nạn liên quan đến thức uống có cồn, tổ chức bảo hiểm tư nhân, cơ quan quản lý nhà nước (US Report, 2000) 2.1 Các tác hại đồ uống có cồn Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, uống nhiều các đồ uống có cồn sẽ chịu nhiều tác hại cả trong ngắn hạn và dài hạn đối với cá nhân và gia đình người sử dụng. Đồ uống có cồn là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây ra các loại bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới, liên quan đến hơn hai trăm các loại bệnh tật và tổn thương khác nhau cũng như các loại bạo lực, chấn thương do tai nạn giao thông….Ước tính năm 2012, trên toàn thế -6- giới có 3,3 triệu ca tử vong, chiếm 5,9% số ca tử vong, (tính riêng nam giới là 7,6%, nữ giới là 4,0%) có nguyên nhân từ việc tiêu thụ các thức uống có cồn. Đồng thời, có 5,1% các ca bệnh tật trên toàn thế giới là do lạm dụng các thức uống có cồn (WHO, 2014).
Khi uống các thức uống có cồn, lượng cồn trong máu tăng lên, tác động lên não, lên hệ thần kinh, làm góc nhìn bị thu hẹp, thời gian phản ứng chậm hơn, nhưng nó lại gây kích thích làm tăng sự kích động, giảm tự chủ, giảm sự phán đoán và giảm ý thức về mọi mặt. Rehm (2011) đã chỉ ra rằng trong ngắn hạn đồ uống có cồn có thể gây ra một số tác hại. Thứ nhất, sau khi uống rượu bia, do bị giảm sự nhanh nhạy trong phản ứng, có khả năng bị hoặc gây ra các tai nạn và chấn thương như tai nạn giao thông, té ngã, chết đuối hoặc cháy nổ… Thứ hai, sử dụng rượu là làm gia tăng tình trạng bạo lực, trong đó bao gồm cả giết người, tự tử và lạm dụng tình dục. Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, nhiều vụ án xảy ra trong đó bị cáo gây án trong hoặc sau khi uống khá nhiều rượu bia.
Nguyên nhân có thể do thiếu khả năng kiềm chế hoặc không thể suy nghĩ thông suốt dưới sự tác động của rượu bia mà nếu tỉnh táo bình thường sẽ không xảy ra. Thứ ba, khi uống nhiều lượng cồn trong máu tăng, có khả năng gây ra tình trạng ngộ độc rượu, nhẹ có thể gây choáng, khó thở phải chăm sóc và can thiệp y tế. Thứ tư, uống rượu bia còn làm gia tăng các hành vi tình dục nguy hiểm như quan hệ không được bảo vệ, có thể dẫn đến tình trạng mang thai ngoài ý muốn hoặc các bệnh lây truyền nguy hiểm như HIV, lậu, giang mai…. Ngoài ra, phụ nữ mang thai uống rượu bia, cũng có những bằng chứng cho thấy sẽ gây rủi ro cho thai nhi như làm cho trẻ sinh ra bị nhẹ cân, thiếu cân, sẩy thai tự nhiên hoặc gây ra một số khuyết tật bẩm sinh cho đứa trẻ.
Uống nhiều rượu bia và kéo dài sẽ gây ra những rủi nhiều hơn cho sức khỏe bằng các bệnh mãn tính như các bệnh về gan. Xơ gan có nguyên nhân nhiều nhất là từ lạm dụng rượu bia, và đây được cho là một trong mười nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Lạm dụng rượu bia còn gây các bệnh về huyết áp, các rối loạn liên quan đến hệ tiêu hóa, tim mạch và -7- cả một số bệnh ung thư….Nó cũng là nguyên nhân gây ra một số vấn đề về trí nhớ, sức khỏe tâm thần. Ngoài việc ảnh hưởng chủ yếu đến sức khỏe người tiêu dùng, tiêu thụ rượu bia ảnh hưởng đến vấn đề tài chính của cá nhân và gia đình như chi phí mua rượu bia, chi phí cho các gánh nặng sức khỏe cũng như các chi phí do giảm thu nhập do vấn đề sức khỏe, chết sớm hay do giảm năng suất làm việc.
Lạm dụng rượu bia cũng được chứng minh là có liên quan đến các vấn đề khác trong gia đình như các mối bất hòa, chất lượng nuôi dạy con cái… 2.2 Gánh nặng đối với nền kinh tế và xã hội Sử dụng lạm dụng các thức uống có cồn không chỉ gây nên nhiều tổn hại sức khỏe, tài chính của người uống và gia đình, nó làm tăng gánh nặng cho chi phí chăm sóc sức khỏe của hệ thống y tế công, chi phí quản lý của luật pháp và những chi phí gián tiếp khác như chi phí xã hội do năng suất người lao động bị giảm do sử dụng rượu bia. Uống rượu bia gây ảnh hưởng đến tình trạng trật tự an ninh xã hội, tình trạng tội phạm và đặc biệt ảnh hưởng đến an toàn giao thông khi người uống rượu bia tham gia giao thông. Lạm dụng các thức uống có cồn được chứng minh là làm giảm năng suất lao động, và các gánh nặng khác cho xã hội liên quan đến lao động như thất nghiệp (Anderson - Baumberg, 2006). Chi phí cho nền kinh tế do rượu bia của các nước chiếm từ hơn 1% - 3%.
Cao nhất trong nhóm các nước được nghiên cứu là Hàn Quốc (3,3% GDP), Mỹ (2,7% GDP), thấp nhất trong các nước được nghiên cứu là Thái Lan (1,3% GDP) (Rehm, 2009). Chi phí này tùy thuộc nhiều yếu tố như lượng tiêu thụ bình quân, hệ thống chăm sóc y tế, hệ thống luật pháp, thu nhập bình quân đầu người… 2.2 Các hình thức can thiệp của nhà nƣớc đối với hàng hóa có ngoại tác tiêu cực Với hàng hóa gây ngoại tác tiêu cực, việc sản xuất và tiêu dùng vượt quá mức tối ưu, gây tổn thất vô ích cho nền kinh tế. Nhà nước thường có các hình thức can thiệp để đưa mức sản xuất và tiêu dùng về mức tối ưu cho nền kinh tế. Việc can thiệp đối với hàng hóa có ngoại tác tiêu cực có thể được thực hiện thông qua các biện pháp điều tiết và giáo dục.
-8- Nhà nước thực hiện điều tiết, can thiệp bằng thể chế và chính sách để nội hóa ngoại tác và hạn chế tiêu dùng như: đánh thuế, qui định cấp phép sản xuất, cấp phép nhập khẩu, qui định phân phối như giới hạn điểm bán và thời gian bán, qui định về giới hạn tuổi mua và tiêu thụ, qui định về giới hạn hay cấm quảng cáo, và các qui định liên quan khác nhằm làm giảm mức sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể thực hiện can thiệp đối với hàng hóa có ngoại tác tiêu cực thông qua tuyên truyền và giáo dục cộng đồng nhằm tăng cường hiểu biết, kêu gọi lương tâm và trách nhiệm cá nhân, hay nhằm khuyến khích, cưỡng chế cộng đồng thay đổi quan niệm, thói quen tiêu dùng để giảm lượng tiêu dùng các hàng hóa có ngoại tác tiêu cực (Stiglitz và Rosengard, 2015). Nhằm làm giảm việc sử dụng có hại của các đồ có cồn đối với sức khỏe người sử dụng, giảm gánh nặng kinh tế xã hội cho các quốc gia, WHO (2010, 2014) khuyến nghị các quốc gia áp dụng một chính sách can thiệp toàn diện, bao gồm mười nhóm hỗ trợ và bổ sung cho nhau gồm: 1) Lãnh đạo, nhận thức và cam kết; 2) Ứng phó dịch vụ y tế; 3) Hành động cộng đồng; 4) Các chính sách và biện pháp đối phó với vấn đề uống rượu lái xe; 5) Qui định tính sẵn có của đồ uống có cồn; 6) Vấn đề quảng cáo, tiếp thị của đồ uống có cồn; 7) Chính sách giá cả; 8) Giảm những hậu quả tiêu cực của việc uống rượu bia và say xỉn; 9) Giảm thiểu tác động sức khỏe cộng đồng của rượu lậu và rượu sản xuất phi chính thức; và 10) Theo dõi và giám sát.