Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Từ xa xưa, thực vật và các hợp chất trích ly từ cây cỏ đã được sử dụng rộng rãi làm hương liệu, gia vị thực phẩm, chất màu tự nhiên và đặc biệt là nguồn dược liệu chữa bệnh. Trong y học hiện đại, ước tính có đến 80% các hoạt chất đang được sử dụng làm thuốc là các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc các dẫn xuất tổng hợp, bán tổng hợp dựa trên khung cấu trúc hóa học của các phân tử tự nhiên. Do đó, việc nghiên cứu hóa thực vật nhằm tìm kiếm các hoạt chất mới có hoạt tính sinh học cao từ thực vật bản địa luôn là hướng đi quan trọng của ngành Hóa học các hợp chất thiên nhiên và Hóa - Dược.
Chi Boerhaavia, thuộc họ Bông phấn (Nyctaginaceae), gồm hơn 40 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiều loài trong chi này đã được sử dụng lâu đời trong y học cổ truyền tại nhiều quốc gia để điều trị các bệnh viêm nhiễm, u bướu, ung thư, nhiễm virus, gan, thận. Các nghiên cứu hóa dược quốc tế ghi nhận chi Boerhaavia chứa nhiều nhóm hoạt chất có hoạt tính sinh học phong phú như flavonoid, steroid, triterpenoid, alkaloid, rotenoid và lignan.
Tại Việt Nam, tài liệu thực vật học ghi nhận khoảng 3 loài thuộc chi Boerhaavia, trong đó cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) là loài phân bố rộng rãi, đặc biệt tại các vùng đất cát khô cằn duyên hải miền Trung (Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên,...) và các vùng đồng cỏ, vườn hoang. Đây là loài thực vật có khả năng chịu hạn cao, sinh trưởng mạnh và nguồn sinh khối dễ khai thác. Tuy nhiên, các loài trong chi Boerhaavia có hình thái bên ngoài khá tương đồng, dễ gây nhầm lẫn; đồng thời cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) mọc tại Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu này hầu như chưa được khảo sát có hệ thống về thành phần hóa học để phục vụ định hướng ứng dụng thực tế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Thu hái, xử lý mẫu và điều chế các phân đoạn cao chiết từ bộ phận thân lá của cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) thu hái tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
- Sử dụng các kỹ thuật sắc ký để cô lập các hợp chất hữu cơ tinh khiết từ phân đoạn cao etyl acetat.
- Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại (phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều: 1D và 2D-NMR) kết hợp đo nhiệt độ nóng chảy và so sánh với tài liệu tham khảo.
- Tổng quan và so sánh đặc tính hóa thực vật, dược tính của cây Boerhaavia erecta L. với các loài cùng chi (đặc biệt là loài Nam sâm bò - Boerhaavia diffusa L.).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phần thân lá khô của cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.), họ Bông phấn (Nyctaginaceae).
- Phạm vi không gian: Mẫu thực vật được thu hái tại khu vực quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh; được nhận danh khoa học chính xác bởi Dược sĩ Phan Đức Bình (Phó Tổng biên tập Tạp chí Thuốc & Sức Khỏe, Hội Dược học Việt Nam).
- Phạm vi thời gian: Mẫu cây tươi được thu hái vào tháng 9 năm 2009.
- Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát thành phần hóa học phân đoạn cao etyl acetat trích từ cao metanol thô của bộ phận thân lá.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và tài liệu tham khảo
Đề tài dựa trên cơ sở lý thuyết hóa thực vật học (phytochemistry) và hóa học các hợp chất thiên nhiên:
- Phân loại học thực vật chi Boerhaavia, họ Nyctaginaceae theo hệ thống phân loại của Phạm Hoàng Hộ (1999) và các tài liệu thực vật học quốc tế.
- Khung cấu trúc hóa học và phân loại các nhóm chất chuyển hóa thứ cấp: Flavonoid (bao gồm flavon, flavonol, rotenoid, flavanon), Steroid, Triterpen, Alkaloid, Lignan, Xanthone và các hợp chất phenolic.
- Cơ sở lý thuyết phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) trong phân tích cấu trúc hữu cơ: độ chuyển dịch hóa học ($\delta$), độ dịch chuyển tương đối, hằng số ghép đôi ($J$), các hiệu ứng tách đỉnh, tương quan đồng nhân (COSY), tương quan dị nhân qua một liên kết (HSQC), tương quan dị nhân qua nhiều liên kết (HMBC), và phổ biến dạng tăng cường chuyển giao phân cực (DEPT).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu áp dụng quy trình chiết xuất và phân lập hóa thực vật chuẩn:
- Phương pháp chiết xuất: Chiết ngấm kiệt bột thân lá khô bằng phương pháp ngâm dầm với dung môi metanol (MeOH) ở nhiệt độ phòng; cô quay đuổi dung môi dưới áp suất giảm thu cao metanol thô.
- Phương pháp chiết phân bố lỏng - lỏng: Phân bố cao metanol thô lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: eter dầu hỏa (ED) và etyl acetat (EA), thu được các phân đoạn cao tương ứng (cao eter dầu hỏa, cao etyl acetat và phần cao metanol còn lại).
- Phương pháp sắc ký:
- Sắc ký cột pha thường (CC - Column Chromatography): Sử dụng chất hấp phụ silica gel pha thường, giải ly với hệ dung môi có độ phân cực tăng dần (Hexan : Etyl acetat từ 8:2 đến 0:10; Etyl acetat : Metanol từ 10:0 đến 5:5; và Cloroform : Metanol : Nước theo tỷ lệ 8:2:0,1).
- Sắc ký lớp mỏng (TLC - Thin Layer Chromatography): Kiểm tra độ tinh khiết của các phân đoạn, theo dõi quá trình sắc ký cột, gom phân đoạn. Thuốc thử hiện màu gồm dung dịch axit sunfuric ($H_2SO_4$ 30% trong cồn, sấy nhiệt 100–110°C) và dung dịch sắt(III) clorua ($FeCl_3$ trong ancol).
- Phương pháp xác định cấu trúc hóa học:
- Đo điểm nóng chảy (Melting Point) trên thiết bị chuyên dụng.
- Đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân: Phổ proton ($^1H\text{-NMR}$), phổ cacbon ($^{13}C\text{-NMR}$), phổ DEPT-135, phổ tương quan $^1H\text{-}^{13}C$ trực tiếp (HSQC), và phổ tương quan $^1H\text{-}^{13}C$ tầm xa qua 2, 3 liên kết (HMBC) đo trong dung môi đơ-tơ-rô metanol ($CD_3OD$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng hợp các tư liệu khoa học trong và ngoài nước về đặc tính thực vật học, thành phần hóa học và tác dụng dược lý của chi Boerhaavia nói chung và loài Boerhaavia erecta L. nói riêng.
1. Đặc tính thực vật
- Chi Boerhaavia có hơn 40 loài, phân bố rộng tại châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Úc. Tại Việt Nam, 3 loài được ghi nhận gồm Boerhaavia diffusa Linn (Nam sâm bò), Boerhaavia erecta L. (Nam sâm đứng) và Boerhaavia repens / Boerhaavia chinensis.
- Mô tả thực vật Boerhaavia erecta L.: Cây thảo mảnh, cao 40–80 cm, mọc thẳng đứng hoặc rủ ở nách chồi, chót cành có lông mịn. Lá mọc đối, phiến lá hình trứng hoặc elip (2–3,5 × 1–2,5 cm), mặt dưới có bột phấn trắng và tuyến, cuống dài 1–4 cm. Cụm hoa chùm tụ tán mang 3 hoa ở nhánh chót, cuống hoa 15–20 mm, bao hoa màu trắng, hồng hoặc đỏ (dài 1,5–2 mm). Quả hình chùy lật ngược cao khoảng 4 mm, có 5 cạnh to, chứa nhiều hạt.
2. Dược tính của chi Boerhaavia
- Loài Boerhaavia diffusa L. được dùng phổ biến trong y học dân gian tại Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka, Brazil, Đông Phi để chữa phù thũng, hoàng đản, bệnh gan, thận, hen suyễn, rắn cắn, đau bao tử và làm thuốc lợi tiểu, hạ sốt. Các nghiên cứu hiện đại chứng minh loài này có hoạt tính bảo vệ gan, chống oxy hóa, kháng khuẩn, điều hòa miễn dịch, giảm đau, chống co thắt, hạ đường huyết và kháng ung thư biểu mô da trên chuột (Rupjyoti Bharali et al., 2003).
- Loài Boerhaavia erecta L.: Nghiên cứu của Tillán Capote et al. (2009) chứng minh dịch chiết nước của cây có tác dụng bảo vệ gan chống lại độc tính gây bởi $CCl_4$ trên chuột thực nghiệm. Nghiên cứu của Rajeswari và Krishnakumari (2010) tại Ấn Độ xác định tổng hàm lượng hợp chất phenolic và flavonoid trong dịch chiết metanol của lá:
| Thành phần thực vật | Hàm lượng (mg / 100 mg cao chiết) |
|---|---|
| Tổng lượng phenol | 85,97 |
| Tổng lượng flavonoid | 11,86 |
3. Các nhóm hợp chất chuyển hóa đã cô lập từ chi Boerhaavia
Văn bản tổng quan chi tiết các cấu trúc hóa học đã được các nhà khoa học trên thế giới tìm thấy từ chi Boerhaavia:
- Flavonoid và Rotenoid: Các dẫn xuất boeravinone (Boeravinone A, B, C, D, E, F, G, H, I, J), coccineone (A, B, D, E), diffusarotenoid, eupalitin, kaempferol, quercetin, các flavonoid glycoside (quercetin 3-O-robinobioside, kaempferol 3-O-robinobioside, eupalitin 3-O-galactoside) và procyanidin B1, B2.
- Steroid và Triterpen: $\beta$-Sitosterol, Campesterol, Stigmasterol, Daucosterol ($\beta$-sitosterol 3-O-$\beta$-D-glucopyranoside), Ecdysone, Axit Ursolic, Boerhavisterol, Boerhavilanostenyl benzoate.
- Alkaloid: Chiếm hàm lượng đáng kể (khoảng 2% ở B. diffusa), bao gồm Punarnavine-1, Punarnavine-2, Hypoxanthine-9-L-arabinofuranoside, Punarnavoside, Neobetanin-5-$\beta$-D-glucopyranoside và Amarantin.
- Lignan và Xanthone: Syringaresinol, Liriodendrin, Borhavine (dihydroisofuroxanthone).
- Các thành phần khác: Axit béo chuỗi dài (axit palmitic, stearic, arachidic, behenic, oleic), 14 loại axit amin và các loại đường (glucose, fructose, galactose, xylose, sucrose).
Chương 2: Nghiên cứu và kết quả
Chương 2 trình bày toàn bộ thực nghiệm chiết xuất, phân lập bằng sắc ký cột và phân tích dữ liệu phổ học để xác định cấu trúc 2 hợp chất tinh khiết từ cao etyl acetat của cây Nam sâm đứng.
1. Quy trình điều chế cao chiết
Mẫu thân lá khô (3,8 kg) được trích kiệt bằng metanol theo phương pháp ngâm dầm ở nhiệt độ phòng. Sau khi lọc và cô quay thu hồi dung môi, thu được 245 g cao metanol thô. Tiến hành chiết phân bố lỏng - lỏng thu được 3 phân đoạn:
| Phân đoạn cao chiết | Ký hiệu | Khối lượng (g) | Thu suất so với cao MeOH thô (%) |
|---|---|---|---|
| Cao eter dầu hỏa | ED | 38,1 | 15,55 |
| Cao etyl acetat | EA | 25,1 | 10,24 |
| Cao metanol còn lại | M | 160,2 | 65,31 |
2. Phân lập các hợp chất từ phân đoạn cao etyl acetat
- Toàn bộ 25,1 g cao etyl acetat được nạp lên cột sắc ký silica gel pha thường, giải ly với hệ dung môi có độ phân cực tăng dần (Hexan : Etyl acetat từ 8:2 đến 0:10; sau đó Etyl acetat : Metanol từ 10:0 đến 5:5), thu được 6 phân đoạn chính (ký hiệu từ EA.A đến EA.F).
- Phân đoạn EA.F (5,5 g) cho thấy các vết tách rõ ràng trên bản mỏng TLC nên được chọn để tiếp tục sắc ký cột với hệ dung môi Cloroform : Metanol : Nước (8:2:0,1), thu được các phân đoạn phụ (EA.F1 đến EA.F4).
- Phân đoạn phụ EA.F1 (580 mg) qua sắc ký cột lặp lại nhiều lần bằng hệ Cloroform : Metanol : Nước (8:2:0,1) đã cô lập được 10 mg hợp chất EREC-EA25 (tại các phân đoạn lọ 24–39).
- Phân đoạn phụ EA.F3 (720 mg) qua sắc ký cột lặp lại với cùng hệ dung môi đã cô lập được 8 mg hợp chất EREC-EA26 (tại các phân đoạn lọ 1–10).
Cao Eter dầu hỏa Cao Etyl acetat Cao MeOH còn lại
(38,1 g; 15,55%) (25,1 g; 10,24%) (160,2 g; 65,31%)
(Sắc ký cột Silica gel)
Phân đoạn EA.F (5,5 g)
(Sắc ký cột C:M:N 8:2:0,1)
Phân đoạn EA.F1 (580 mg) Phân đoạn EA.F3 (720 mg)
(Sắc ký tinh chế) (Sắc ký tinh chế)
Hợp chất EREC-EA25 (10 mg) Hợp chất EREC-EA26 (8 mg)
3. Khảo sát cấu trúc hóa học hợp chất 1 (EREC-EA25)
- Đặc tính cảm quan và hóa lý: Tinh thể hình kim màu vàng, tan trong metanol, nhiệt độ nóng chảy $231 - 232^\circ\text{C}$. Trên bản sắc ký lớp mỏng (hệ $CHCl_3 : MeOH : H_2O = 8:2:0,1$), chất cho 1 vết có $R_f = 0,5$, hiện màu vàng khi phun $H_2SO_4$ 30% (sấy $100^\circ\text{C}$) và màu xanh đen khi phun $FeCl_3$/ancol, chứng tỏ thuộc khung polyphenol/flavonoid.
- Biện luận phổ NMR ($CD_3OD$):
- Phổ $^1H\text{-NMR}$: Xuất hiện 5 tín hiệu proton vòng thơm gồm 2 proton vòng A ghép meta tại $\delta_H\ 6,20\ \text{ppm}\ (1H, d, J=2,0\ \text{Hz}, H-6)$ và $\delta_H\ 6,39\ \text{ppm}\ (1H, d, J=2,0\ \text{Hz}, H-8)$; hệ thống 3 proton ghép $ABX$ trên vòng B tại $\delta_H\ 7,71\ \text{ppm}\ (1H, d, J=2,0\ \text{Hz}, H-2')$, $\delta_H\ 6,87\ \text{ppm}\ (1H, d, J=8,5\ \text{Hz}, H-5')$ và $\delta_H\ 7,58\ \text{ppm}\ (1H, dd, J=8,5;\ 2,0\ \text{Hz}, H-6')$. Tín hiệu proton anomer tại $\delta_H\ 5,25\ \text{ppm}\ (1H, d, J=7,5\ \text{Hz}, H-1'')$ cùng các tín hiệu trong vùng $\delta_H\ 3,2 - 3,8\ \text{ppm}$ chỉ ra sự hiện diện của một đơn vị phân tử đường $\beta$-D-glucopyranose.
- Phổ $^{13}C\text{-NMR}$: Thể hiện 21 tín hiệu cacbon, bao gồm 15 cacbon phần aglycon (trong đó có tín hiệu cacbonyl $C-4$ tại $\delta_C\ 179,6\ \text{ppm}$, $C-3$ tại $\delta_C\ 135,7\ \text{ppm}$, và 13 cacbon vòng thơm ở vùng $90 - 166\ \text{ppm}$) và 6 cacbon của đơn vị đường glucose với cacbon anomer $C-1''$ tại $\delta_C\ 104,3\ \text{ppm}$, cacbon metylen mang oxy $C-6''$ tại $\delta_C\ 62,7\ \text{ppm}$.
- Phổ HMBC: Cho thấy tương quan rõ giữa proton anomer $H-1''$ ($\delta_H\ 5,25$) với cacbon tứ cấp $C-3$ ($\delta_C\ 135,7$), xác nhận vị trí liên kết glycoside tại vị trí C-3 của aglycon.
- Kết luận: Hợp chất 1 (EREC-EA25) được xác định là Quercetin 3-O-$\beta$-D-glucopyranoside (Isoquercitrin).
4. Khảo sát cấu trúc hóa học hợp chất 2 (EREC-EA26)
- Đặc tính cảm quan và hóa lý: Bột vô định hình màu vàng, tan trong metanol, $R_f = 0,4$ (hệ $CHCl_3 : MeOH : H_2O = 8:2:0,1$). Hiện màu tương tự EREC-EA25 với $H_2SO_4$ và $FeCl_3$.
- Biện luận phổ NMR ($CD_3OD$):
- Phổ $^1H\text{-NMR}$: Vòng A mang 2 proton ghép meta tương tự hợp chất 1. Vòng B có hệ thống đối xứng $A_2B_2$ với 2 mũi đôi tại $\delta_H\ 8,04\ \text{ppm}\ (2H, d, J=9,0\ \text{Hz}, H-2', 6')$ và $\delta_H\ 6,92\ \text{ppm}\ (2H, d, J=9,0\ \text{Hz}, H-3', 5')$, chứng minh vòng B chỉ có một nhóm thế tại vị trí C-4' (khung kaempferol). Phần đường gồm 2 đơn vị: proton anomer thứ nhất tại $\delta_H\ 5,12\ \text{ppm}\ (1H, d, J=7,5\ \text{Hz}, H-1'')$, proton anomer thứ hai tại $\delta_H\ 4,51\ \text{ppm}\ (1H, d, J=1,5\ \text{Hz}, H-1''')$, và một mũi đôi ba proton ở trường cao tại $\delta_H\ 1,12\ \text{ppm}\ (3H, d, J=6,5\ \text{Hz}, H-6''')$ đặc trưng cho nhóm metyl của phân tử đường $\alpha$-L-rhamnopyranose.
- Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ và DEPT: Thể hiện 27 tín hiệu cacbon, gồm 15 cacbon phần aglycon (khung kaempferol), 6 cacbon của đơn vị $\beta$-D-glucopyranose và 6 cacbon của đơn vị $\alpha$-L-rhamnopyranose ($C-1'''$ tại $\delta_C\ 101,0\ \text{ppm}$ và $C-6'''$ tại $\delta_C\ 16,8\ \text{ppm}$). Tín hiệu cacbon metylen $C-6''$ dịch chuyển về trường thấp ($\delta_C\ 67,2\ \text{ppm}$).
- Phổ HMBC: Tương quan giữa proton anomer $H-1'''$ ($\delta_H\ 4,51$) với $C-6''$ ($\delta_C\ 67,2$) chứng minh cầu nối liên kết $1\rightarrow 6$ giữa rhamnose và glucose tạo thành gốc đường rutinose; tương quan giữa $H-1''$ ($\delta_H\ 5,12$) với $C-3$ ($\delta_C\ 135,6$) xác nhận nhóm rutinoside gắn vào vị trí C-3 của khung kaempferol.
- Kết luận: Hợp chất 2 (EREC-EA26) được xác định là Kaempferol 3-O-$\beta$-D-rutinoside (Nicotiflorin).
| Đặc điểm / Thông số | Hợp chất 1 (EREC-EA25) | Hợp chất 2 (EREC-EA26) |
|---|---|---|
| Dạng tồn tại | Tinh thể hình kim màu vàng | Bột vô định hình màu vàng |
| Độ tan | Tan trong metanol | Tan trong metanol |
| Nhiệt độ nóng chảy | $231 - 232^\circ\text{C}$ | Không xác định |
| Giá trị $R_f$ (C:M:N = 8:2:0,1) | 0,5 | 0,4 |
| Khối lượng cô lập | 10 mg | 8 mg |
| Công thức khung aglycon | Quercetin (Flavonol mang 5 nhóm OH) | Kaempferol (Flavonol mang 4 nhóm OH) |
| Đơn vị đường liên kết | 1 gốc $\beta$-D-glucopyranose | 1 gốc Rutinoside [$\alpha$-L-rhamnosyl-(1$\rightarrow$6)-$\beta$-D-glucoside] |
| Vị trí gắn đường | C-3 ($\delta_C\ 135,7\ \text{ppm}$) | C-3 ($\delta_C\ 135,6\ \text{ppm}$) |
| Tên khoa học đề nghị | Quercetin 3-O-$\beta$-D-glucopyranoside | Kaempferol 3-O-$\beta$-D-rutinoside |
Chương 3: Kết luận
Chương 3 tổng kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu đã đạt được trong khóa luận và đề xuất các định hướng nghiên cứu tiếp theo cho đối tượng cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.).
Kết quả và đóng góp
Các kết quả chính đạt được
- Xử lý và chiết phân đoạn mẫu thực vật: Đã xử lý 3,8 kg bột khô phần thân lá cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) thu hái tại Thủ Đức (tháng 9/2009), điều chế được 245 g cao metanol thô. Qua phân bố lỏng - lỏng, tách thành công 3 phân đoạn cao: cao eter dầu hỏa (38,1 g; thu suất 15,55%), cao etyl acetat (25,1 g; thu suất 10,24%) và cao metanol còn lại (160,2 g; thu suất 65,31%).
- Cô lập các hợp chất tinh khiết: Từ 5,5 g phân đoạn EA.F của cao etyl acetat, bằng kỹ thuật sắc ký cột silica gel pha thường với hệ dung môi $CHCl_3 : MeOH : H_2O$ (8:2:0,1), đã cô lập thành công 2 hợp chất flavonoid tinh khiết:
- Hợp chất EREC-EA25 (10 mg).
- Hợp chất EREC-EA26 (8 mg).
- Xác định cấu trúc phân tử: Sử dụng đồng bộ các phương pháp hóa lý gồm nhiệt độ nóng chảy, sắc ký lớp mỏng và phổ $^1H\text{-NMR}$, $^{13}C\text{-NMR}$, DEPT, HSQC, HMBC, đã làm sáng tỏ cấu trúc hóa học của:
- EREC-EA25: Quercetin 3-O-$\beta$-D-glucopyranoside.
- EREC-EA26: Kaempferol 3-O-$\beta$-D-rutinoside.
Đóng góp về mặt khoa học
- Đóng góp dẫn liệu thực nghiệm đầu tiên về thành phần hóa học của loài Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L.) thu hái tại khu vực miền Nam Việt Nam.
- Bổ sung dữ liệu phổ NMR ($^1H$, $^{13}C$, 2D-NMR) chi tiết của hai flavonoid glycoside có hoạt tính chống oxy hóa cao trong loài Boerhaavia erecta L., tạo cơ sở so sánh đặc tính hóa thực vật giữa các loài thuộc chi Boerhaavia tại Việt Nam và trên thế giới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Do giới hạn về thời gian và điều kiện vật chất thực nghiệm của một khóa luận tốt nghiệp đại học, nghiên cứu mới chỉ tập trung phân lập trên một phân đoạn sắc ký cột (EA.F) của cao etyl acetat.
- Chưa tiến hành khảo sát các phân đoạn sắc ký cột còn lại của cao etyl acetat (EA.A đến EA.E) cũng như các phân đoạn cao chiết khác (cao eter dầu hỏa và cao metanol còn lại).
- Chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học trực tiếp (như khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, bảo vệ gan hoặc gây độc tế bào ung thư) trên các cao chiết và các hợp chất tinh khiết cô lập được.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Tiếp tục khảo sát thành phần hóa học của các phân đoạn còn lại từ cao etyl acetat, cao eter dầu hỏa và cao metanol.
- Đánh giá hoạt tính sinh học in vitro và in vivo (hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn, bảo vệ tế bào gan) của các hợp chất đã cô lập nhằm làm tăng giá trị ứng dụng của nguồn dược liệu này.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn phục vụ các đối tượng:
- Sinh viên và học viên ngành Hóa học, Hóa Dược, Dược học: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình chiết xuất ngâm dầm, chiết phân bố lỏng - lỏng, kỹ thuật sắc ký cột phân lập hợp chất tự nhiên, và đặc biệt là phương pháp phân tích, biện luận dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1H$, $^{13}C$, HSQC, HMBC) để giải cấu trúc các hợp chất flavonoid monoglycoside và diglycoside.
- Các nhà nghiên cứu hóa thực vật và dược liệu học: Là nguồn tư liệu thực nghiệm trực tiếp về thành phần hóa học cây Boerhaavia erecta L. tại Việt Nam, phục vụ công tác tiêu chuẩn hóa dược liệu và nghiên cứu so sánh hóa - phân loại học trong họ Bông phấn (Nyctaginaceae).
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu thực vật Nam sâm đứng dùng trong khóa luận được thu hái ở đâu và định danh bởi ai?
Mẫu thực vật tươi được thu hái tại khu vực quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh vào tháng 9 năm 2009. Mẫu cây được định danh khoa học chính xác là Boerhaavia erecta L. bởi Dược sĩ Phan Đức Bình, Phó Tổng biên tập Tạp chí Thuốc và Sức Khỏe, Hội Dược học Việt Nam.
2. Thu suất của các phân đoạn cao chiết từ thân lá cây Nam sâm đứng đạt được là bao nhiêu?
Từ 3,8 kg bột thân lá khô ngâm dầm với metanol thu được 245 g cao metanol thô. Quá trình chiết lỏng - lỏng phân tách thành 3 loại cao với khối lượng và thu suất so với cao metanol ban đầu gồm: cao eter dầu hỏa đạt 38,1 g (15,55%), cao etyl acetat đạt 25,1 g (10,24%), và phần cao metanol còn lại đạt 160,2 g (65,31%).
3. Hai hợp chất tinh khiết cô lập được từ phân đoạn cao etyl acetat là những chất nào?
Hai hợp chất cô lập được từ phân đoạn EA.F của cao etyl acetat gồm:
- Hợp chất EREC-EA25 (10 mg): Tinh thể hình kim màu vàng, nhiệt độ nóng chảy $231 - 232^\circ\text{C}$, được xác định là Quercetin 3-O-$\beta$-D-glucopyranoside.
- Hợp chất EREC-EA26 (8 mg): Bột vô định hình màu vàng, được xác định là Kaempferol 3-O-$\beta$-D-rutinoside.
4. Bằng chứng phổ nào khẳng định vị trí liên kết của mạch đường với aglycon trong hai hợp chất?
Vị trí gắn mạch đường vào khung aglycon được chứng minh thông qua phổ tương quan tầm xa dị nhân HMBC:
- Ở hợp chất EREC-EA25, proton anomer $H-1''$ của đường glucose ($\delta_H\ 5,25\ \text{ppm}$) cho tín hiệu tương quan trực tiếp với cacbon tứ cấp $C-3$ của khung flavonol ($\delta_C\ 135,7\ \text{ppm}$).
- Ở hợp chất EREC-EA26, proton anomer $H-1''$ của đường glucose ($\delta_H\ 5,12\ \text{ppm}$) cho tương quan với $C-3$ ($\delta_C\ 135,6\ \text{ppm}$), đồng thời proton anomer $H-1'''$ của đường rhamnose ($\delta_H\ 4,51\ \text{ppm}$) tương quan với $C-6''$ của đường glucose ($\delta_C\ 67,2\ \text{ppm}$), khẳng định cấu trúc đường đôi rutinoside gắn tại vị trí C-3 của aglycon kaempferol.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành việc khảo sát thành phần hóa học trên bộ phận thân lá của cây Nam sâm đứng (Boerhaavia erecta L., họ Nyctaginaceae) thu hái tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Thông qua các phương pháp chiết xuất ngâm dầm, chiết lỏng - lỏng và sắc ký cột silica gel pha thường, đề tài đã phân lập thành công hai hợp chất flavonoid glycoside tinh khiết từ phân đoạn cao etyl acetat là Quercetin 3-O-$\beta$-D-glucopyranoside (10 mg) và Kaempferol 3-O-$\beta$-D-rutinoside (8 mg). Cấu trúc của các hợp chất được xác định tường minh thông qua phân tích dữ liệu nhiệt độ nóng chảy và phổ nghiệm 1D/2D-NMR. Kết quả nghiên cứu là dẫn liệu khoa học thực nghiệm có giá trị, đóng góp vào cơ sở dữ liệu hóa thực vật học của chi Boerhaavia tại Việt Nam và mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về hoạt tính sinh học của loài cây này.