Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Hóa học, chuyên ngành Hóa Hữu cơ của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 2008–2012, hướng dẫn khoa học: Th.S Lê Thị Thu Hương) tập trung vào việc nghiên cứu hóa học các hợp chất thiên nhiên từ nguồn thực vật bản địa Việt Nam.

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ thực vật phát triển phong phú và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành hóa học các hợp chất thiên nhiên phát triển, đóng góp vào y học và chăm sóc sức khỏe. Cây núc nác (Oroxylum indicum L.) thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae) là loài thực vật phân bố rộng rãi trên cả nước, dễ sinh trưởng và phát triển. Trong y học dân gian và y học cổ truyền, hạt và vỏ cây núc nác được sử dụng làm thuốc chống viêm, chủ trị viêm gan do nhiễm trùng, vàng da, viêm bàng quang, sưng đau yết hầu, thấp chẩn (eczema), lở loét ung nhọt, chống dị ứng và thanh nhiệt. Dù là nguồn dược liệu quý, các nghiên cứu hóa học và hóa thực vật chuyên sâu về bộ phận lá của loài cây này tại Việt Nam ở thời điểm thực hiện đề tài vẫn còn hạn chế.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Chiết xuất, cô lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất hữu cơ sạch hiện diện trong phân đoạn cao etyl axetat của lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.).
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Thu thập, xử lý và chiết xuất mẫu bột lá cây núc nác khô bằng dung môi etanol 96% để thu nhận cao tổng.
    2. Phân tách cao tổng bằng phương pháp chiết lỏng–lỏng phân bố với các dung môi có độ phân cực tăng dần nhằm thu các cao phân đoạn.
    3. Thực hiện sắc ký cột cổ điển trên silica gel pha thường đối với cao phân đoạn etyl axetat nhằm tinh chế và cô lập các hợp chất đơn lẻ.
    4. Sử dụng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân hiện đại (1D-NMR và 2D-NMR) kết hợp tài liệu tham khảo để biện luận, làm sáng tỏ cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.).
    • Phạm vi không gian: Mẫu thực vật được thu hái tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
    • Phạm vi thời gian: Thời điểm thu mẫu vào tháng 5 năm 2010; khóa luận hoàn thành vào tháng 5 năm 2012.
    • Phạm vi đối tượng chiết xuất: Tập trung khảo sát thành phần hóa học trong phân đoạn cao etyl axetat (chiết lỏng–lỏng từ cao etanol tổng).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở thực vật học và hóa thực vật

Cây núc nác (Oroxylum indicum L.) thuộc chi Oroxylum, họ Bignoniaceae. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng vỏ và hạt chứa ancaloit, tanin, các hợp chất flavonoid dạng tự do và glycoside (heterozit) cùng các chất đắng như oroxylin A, tetuin, chrysin, baicalein và các dẫn xuất glycoside tương ứng. Về mặt dược tính, vỏ cây có độc tính cấp thấp ($LD_{50}$ trên chuột nhắt trắng là 23 ml dịch chiết/kg thể trọng), có hoạt tính kháng khuẩn Gram (-) và Gram (+) với giá trị MIC lần lượt là 4,0 mg/ml và 8,0 mg/ml; chế phẩm "nunaxin" viên 0,25g (từ hỗn hợp flavonoid vỏ cây) do Viện Dược liệu nghiên cứu có tác dụng chống choáng phản vệ và chống viêm dị ứng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật thực nghiệm chuẩn trong hóa học hợp chất thiên nhiên:

  • Phương pháp chiết xuất: Ngâm dầm (ngâm chiết ở nhiệt độ thường) 2,8 kg bột lá khô với etanol 96%, lọc dịch chiết và cô quay đuổi dung môi dưới áp suất giảm thu được cao thô. Cao thô được hòa tan trong một lượng cồn tối thiểu, phân tán vào lượng lớn nước cất, sau đó chiết lỏng–lỏng lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: ete dầu hỏa, etyl axetat và metanol.
  • Phương pháp sắc ký:
    • Sắc ký cột (Column Chromatography - CC): Pha tĩnh là Silica gel 60 (kích thước hạt 0,063 mm, hãng Merck). Pha động sử dụng các hệ dung môi gradient: ete dầu : etyl axetat (ED:EA) và clorofom : metanol (C:M) theo các tỷ lệ thể tích khác nhau.
    • Sắc ký bản mỏng (Thin Layer Chromatography - TLC): Bản mỏng tráng sẵn nhôm silica gel $60F_{254}$ (Merck, kích thước $20 \times 20\text{ cm}$). Thuốc thử hiện hình là dung dịch axit sunfuric ($H_2SO_4$) đặc và sấy nhiệt.
  • Phương pháp xác định cấu trúc hóa học:
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton ($^1\text{H-NMR}$) đo ở tần số 500 MHz trên thiết bị Bruker AC.500.
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân carbon-13 ($^{13}\text{C-NMR}$) kết hợp kỹ thuật DEPT đo ở tần số 125 MHz trên thiết bị Bruker AC.500.
    • Phổ tương quan hai chiều: phổ tương quan dị nhân qua một liên kết HSQC (Heteronuclear Single Quantum Coherence) và phổ tương quan dị nhân qua 2–3 liên kết HMBC (Heteronuclear Multiple Bond Coherence).
    • Địa điểm phân tích phổ: Phòng Phân tích cấu trúc, Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội). Dung môi đo phổ: $CDCl_3$ và hỗn hợp $CDCl_3\text{--}CD_3OD$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mô tả thực vật, nghiên cứu về dược tính và thành phần hóa học

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu đã công bố về cây núc nác:

  • Mô tả hình thái học và phân bố: Cây gỗ cao 7–12 m (có thể đạt 20–25 m), vỏ xám tro, lá kép lông chim 2–3 lần, hoa màu đỏ tím mọc chùm ở đầu cành, quả nang dài 50–80 cm dẹp chứa nhiều hạt có màng mỏng như cánh bướm. Phân bố rộng ở Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia.
  • Dược tính và ứng dụng y học cổ truyền: Tổng hợp các nghiên cứu về hoạt tính chống dị ứng, kháng khuẩn, chống ung thư, kháng viêm, bảo vệ gan và bài thuốc dân gian trị ho, viêm phế quản, đau dạ dày, lở ngứa ngoài da.
  • Tổng quan thành phần hóa học: Tổng hợp cấu trúc 42 hợp chất đã được các nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước (Li-Juan Chen, Biswanah Dinda, Lê Thị Anh Đào, Maitreyi Zaveri, Hom Nath Luitel, Saowanee Maungjunburee, T. Hari Babu, Ren-yi Yan...) cô lập từ vỏ thân, hạt, rễ và lá cây núc nác; bao gồm các flavone (chrysin, baicalein, oroxylin A, pinostrobin, scutellarein), các flavonoid glycoside, sterol ($\beta$-sitosterol, stigmast-7-en-3-ol) và triterpenoid (lupeol).

Chương 2: Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị

Trình bày chi tiết đối tượng, hóa chất, thiết bị và các quy trình thực nghiệm:

  • Nguyên liệu và sơ chế: 2,8 kg bột lá núc nác khô (thu hái tại Yên Sơn, Tuyên Quang tháng 5/2010).
  • Quy trình điều chế cao thô và cao phân đoạn:
    • Chiết ngâm dầm với cồn 96%, cô quay thu hồi dung môi thu được 134 g cao tổng etanol.
    • Chiết lỏng–lỏng phân bố thu được: cao ete dầu hỏa (35 g), cao etyl axetat (87 g) và cao metanol (5 g).
Cao phân đoạn Khối lượng (g) Dung môi giải ly TLC Đặc điểm sắc ký lớp mỏng (TLC) Hướng xử lý
Cao ete dầu 35 ED:EA (10:1) Xuất hiện nhiều vết, không tách rõ Chưa khảo sát
Cao etyl axetat 87 C:M (25:1) Xuất hiện nhiều vết, tách rõ, tròn Tiến hành sắc ký cột cô lập
Cao metanol 5 C:M (25:1) Vết dài Chưa khảo sát
  • Quy trình sắc ký cột phân đoạn cao etyl axetat: Sử dụng 87 g cao etyl axetat chạy sắc ký cột silica gel pha thường, thu được 12 phân đoạn lớn (EA.1 đến EA.12).
    • Cô lập hợp chất OI-1: Phân đoạn EA.2 (1,27 g) được sắc ký cột silica gel nhiều lần với hệ dung môi clorofom : metanol (50:1), sau đó rửa cặn bằng clorofom và chạy lại cột thu được 30 mg tinh thể màu vàng nhạt, ký hiệu OI-1 ($R_f = 0,54$ trong hệ dung môi C:M 100:1).
    • Cô lập hợp chất OI-2: Phân đoạn EA.4 (2,64 g) được sắc ký cột silica gel nhiều lần với hệ C:M (50:1) và C:M (25:1), rửa kết tủa bằng clorofom và sắc ký cột lặp lại thu được 40 mg tinh thể màu vàng nhạt, ký hiệu OI-2 ($R_f = 0,40$ trong hệ dung môi C:M 50:1).

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Nội dung chương trình bày chi tiết quá trình biện luận phổ 1D và 2D-NMR để xác định cấu trúc hóa học của 2 hợp chất cô lập được:

  • Khảo sát cấu trúc hóa học hợp chất OI-1 (Oroxylin A, 30 mg):

    • Phổ $^1\text{H-NMR}$ ($500\text{ MHz}, CDCl_3$) thể hiện tín hiệu mũi đơn của 3 proton nhóm metoxy $\delta_H\ 4,05\text{ ppm}$ ($3\text{H}, s, 6-\text{OCH}_3$); tín hiệu singlet $\delta_H\ 12,99\text{ ppm}$ ($1\text{H}, s$) đặc trưng cho proton nhóm $5-\text{OH}$ tạo liên kết hydro nội phân tử với nhóm cacbonyl $>C=O$ tại C-4; tín hiệu $\delta_H\ 6,64\text{ ppm}$ ($1\text{H}, s$) của nhóm $7-\text{OH}$; tín hiệu $\delta_H\ 6,66\text{ ppm}$ ($1\text{H}, s$) quy kết cho H-3; tín hiệu $\delta_H\ 6,62\text{ ppm}$ ($1\text{H}, s$) quy kết cho H-8. Trên vòng B không mang nhóm thế, xuất hiện hai nhóm tín hiệu đa dạng multiplet gồm $\delta_H\ 7,88\text{ ppm}$ ($2\text{H}, m$, tương ứng H-2',6') và $\delta_H\ 7,54\text{ ppm}$ ($3\text{H}, m$, tương ứng H-3',4',5').
    • Phổ $^{13}\text{C-NMR}$ ($125\text{ MHz}, CDCl_3$) và DEPT thể hiện 16 carbon gồm: 1 nhóm $-\text{CH}_3$ ($\delta_C\ 60,9$), 7 carbon loại $-\text{CH}=$ ($\delta_C\ 93,5\text{ [C-8]}$; $105,3\text{ [C-3]}$; $126,3\text{ [C-2',6']}$; $129,1\text{ [C-3',5']}$; $131,9\text{ [C-4']}$), 8 carbon tứ cấp ($\delta_C\ 105,9\text{ [C-10]}$; $130,4\text{ [C-6]}$; $131,3\text{ [C-1']}$; $152,1\text{ [C-5]}$; $153,3\text{ [C-9]}$; $155,2\text{ [C-7]}$; $164,1\text{ [C-2]}$; $183,0\text{ [C-4, }>C=O]$).
    • Tương quan HMBC xác nhận proton nhóm metoxy ($\delta_H\ 4,05$) tương quan với carbon $\delta_C\ 130,4$ (C-6); proton $\delta_H\ 12,99$ ($5-\text{OH}$) tương quan với C-10 ($\delta_C\ 105,9$), C-6 ($\delta_C\ 130,4$) và C-5 ($\delta_C\ 152,1$). Proton H-8 ($\delta_H\ 6,62$) tương quan với C-10 ($\delta_C\ 105,9$), C-6 ($\delta_C\ 130,4$), C-9 ($\delta_C\ 153,3$) và C-7 ($\delta_C\ 155,2$). Kết luận: OI-1 là Oroxylin A (5,7-dihydroxy-6-methoxyflavone).
  • Khảo sát cấu trúc hóa học hợp chất OI-2 (Chrysin, 40 mg):

    • Phổ $^1\text{H-NMR}$ ($500\text{ MHz}, CDCl_3\text{--}CD_3OD$) xuất hiện 2 tín hiệu doublet có độ chuyển dịch $\delta_H\ 6,30\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J=2\text{ Hz}$) và $\delta_H\ 6,48\text{ ppm}$ ($1\text{H}, d, J=2\text{ Hz}$), chứng minh sự hiện diện của 2 proton ở vị trí meta với nhau trên vòng A (tương ứng H-6 và H-8). Vòng B không mang nhóm thế có các tín hiệu $\delta_H\ 7,91\text{ ppm}$ ($2\text{H}, m$, H-2',6') và $\delta_H\ 7,54\text{ ppm}$ ($3\text{H}, m$, H-3',4',5'). Tín hiệu singlet $\delta_H\ 6,66\text{ ppm}$ ($1\text{H}, s$) quy kết cho H-3.
    • Phổ $^{13}\text{C-NMR}$ ($125\text{ MHz}$) và DEPT thể hiện 15 carbon của khung flavone, bao gồm tín hiệu cacbonyl tại $\delta_C\ 182,4\text{ ppm}$ (C-4), các carbon mang oxy tại $\delta_C\ 164,2\text{ ppm}$ (C-7), $\delta_C\ 164,0\text{ ppm}$ (C-2), $\delta_C\ 161,5\text{ ppm}$ (C-5), $\delta_C\ 157,9\text{ ppm}$ (C-9), cùng các carbon loại $-\text{CH}=$ tại $\delta_C\ 105,1$ (C-3), $99,2$ (C-6), $94,2$ (C-8), $126,1$ (C-2',6'), $128,8$ (C-3',5'), $131,6$ (C-4') và các carbon tứ cấp $104,5$ (C-10), $131,0$ (C-1').
    • Dữ liệu phổ được so sánh và trùng khớp với số liệu phổ chuẩn của chất chrysin tham khảo. Kết luận: OI-2 là Chrysin (5,7-dihydroxyflavone).

Chương 4: Kết luận và đề xuất

  • Tổng kết việc cô lập thành công 2 hợp chất flavonoid dạng sạch từ lá cây núc nác gồm Oroxylin A (30 mg) từ phân đoạn EA.2 và Chrysin (40 mg) từ phân đoạn EA.4.
  • Đề xuất tiếp tục nghiên cứu các phân đoạn còn lại chưa khảo sát và tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học cho các chất đã cô lập.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực nghiệm cô lập và cấu trúc

Khóa luận đã xử lý thực nghiệm 2,8 kg mẫu bột lá núc nác khô, thu được 134 g cao etanol tổng và tiến hành phân đoạn chiết lỏng–lỏng. Từ 87 g cao phân đoạn etyl axetat, tác giả đã phân tách thành 12 phân đoạn sắc ký cột và tinh chế thành công 2 hợp chất đơn lẻ:

  1. Hợp chất OI-1: Thu được 30 mg tinh thể màu vàng nhạt, xác định cấu trúc là Oroxylin A ($C_{16}H_{12}O_5$).
  2. Hợp chất OI-2: Thu được 40 mg tinh thể màu vàng nhạt, xác định cấu trúc là Chrysin ($C_{15}H_{10}O_4$).

Bảng số liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân của các hợp chất

Vị trí Carbon OI-1 (Oroxylin A) $\delta_H$ (ppm) OI-1 $\delta_C$ (ppm) Loại carbon OI-1 OI-2 (Chrysin) $\delta_H$ (ppm) OI-2 $\delta_C$ (ppm) Chrysin chuẩn $\delta_C$ (ppm)
2 — 164,1 =C< — 164,0 164,7
3 6,66 (1H, s) 105,3 =CH- 6,66 (1H, s) 105,1 106,3
4 — 183,0 =C=O — 182,4 183,1
5 — 152,1 =C< — 161,5 163,1
6 — 130,4 =C< 6,30 (1H, d, J=2 Hz) 99,2 100,0
7 — 155,2 =C< — 164,2 165,9
8 6,62 (1H, s) 93,5 =CH- 6,48 (1H, d, J=2 Hz) 94,2 95,1
9 — 153,3 =C< — 157,9 159,1
10 — 105,9 =C< — 104,5 105,7
1' — 131,3 =C< — 131,0 132,5
2', 6' 7,88 (2H, m) 126,3 =CH- 7,91 (2H, m) 126,1 127,4
3', 5' 7,54 (3H, m) 129,1 =CH- 7,54 (3H, m) 128,8 130,1
4' 7,54 (3H, m) 131,9 =CH- 7,54 (3H, m) 131,6 132,8
$6-\text{OCH}_3$ 4,05 (3H, s) 60,9 $-\text{CH}_3$ — — —
$5-\text{OH}$ 12,99 (1H, s) — — — — —
$7-\text{OH}$ 6,64 (1H, s) — — — — —

Đóng góp học thuật

  • Bổ sung dữ liệu hóa thực vật thực nghiệm về thành phần hóa học của lá cây núc nác thu hái tại khu vực Yên Sơn, Tuyên Quang.
  • Chứng minh sự hiện diện của hai hợp chất flavonoid tự do có hoạt tính sinh học cao là Oroxylin A và Chrysin trong dịch chiết lá cây núc nác tại Việt Nam bằng các bằng chứng phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT, HSQC, HMBC) phân giải cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Do giới hạn về thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả mới chỉ tập trung phân tách và khảo sát chi tiết 2 phân đoạn (EA.2 và EA.4) trong tổng số 12 phân đoạn thu được từ sắc ký cột cao etyl axetat.
    • Các phân đoạn còn lại của cao etyl axetat (EA.1, EA.3, EA.5 đến EA.12) cũng như hai cao phân đoạn chiết lỏng–lỏng khác là cao ete dầu hỏa (35 g) và cao metanol (5 g) chưa được tiến hành cô lập hoạt chất.
    • Chưa thực hiện khảo sát hoạt tính sinh học thực nghiệm (in vitro hoặc in vivo) trên các hợp chất tinh khiết đã cô lập được.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục triển khai sắc ký cột tinh chế và cô lập các hợp chất tự nhiên từ các phân đoạn còn lại của cao etyl axetat và các cao phân đoạn dung môi khác.
    • Đánh giá hoạt tính sinh học (chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng viêm, độc tế bào...) của các hợp chất Oroxylin A và Chrysin đã thu nhận.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng tài liệu: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên và các nghiên cứu viên thuộc chuyên ngành Hóa Hữu cơ, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Dược học, Hóa Dược và Thực vật học.
  • Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
    • Quy trình chiết xuất và phân tách sắc ký: Cung cấp hệ tỷ lệ dung môi thực nghiệm chi tiết cho sắc ký cột silica gel (hệ Clorofom : Metanol ở các tỷ lệ 50:1, 25:1) và sắc ký lớp mỏng để cô lập các aglycone flavone.
    • Tài liệu biện luận phổ 2D-NMR: Phần phân tích tương quan phổ HSQC và HMBC trong khóa luận là mẫu quy trình biện luận xác thực cấu trúc khung flavone chuẩn mực, đặc biệt là cách gán vị trí nhóm thế $-\text{OCH}_3$ tại C-6 và các nhóm $-\text{OH}$ tạo liên kết hydro nội phân tử tại C-5.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu lá cây núc nác được sử dụng trong nghiên cứu này có nguồn gốc từ đâu và khối lượng bao nhiêu?

Mẫu lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.) được thu hái tại địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào tháng 5 năm 2010. Khối lượng mẫu nguyên liệu sau khi phơi khô, sấy ở nhiệt độ $50^\circ\text{C}$ và nghiền thành bột mịn dùng cho quá trình chiết xuất là 2,8 kg.

2. Từ 2,8 kg bột lá khô, tác giả đã điều chế được những loại cao nào và hiệu suất khối lượng ra sao?

Bằng phương pháp ngâm dầm với cồn 96% ở nhiệt độ thường và cô quay đuổi dung môi, tác giả thu được 134 g cao etanol tổng. Sau đó, tiến hành chiết lỏng–lỏng phân bố với các dung môi có độ phân cực tăng dần, thu được 3 cao phân đoạn gồm: cao ete dầu hỏa (35 g), cao etyl axetat (87 g) và cao metanol (5 g).

3. Tác giả đã cô lập được những hợp chất tinh khiết nào từ phân đoạn cao etyl axetat?

Tác giả đã cô lập được 2 hợp chất tinh thể màu vàng nhạt:

  • Hợp chất OI-1 (khối lượng 30 mg, $R_f = 0,54$ trong hệ C:M 100:1), cô lập từ phân đoạn EA.2.
  • Hợp chất OI-2 (khối lượng 40 mg, $R_f = 0,40$ trong hệ C:M 50:1), cô lập từ phân đoạn EA.4.

4. Cấu trúc hóa học của hợp chất OI-1 và OI-2 được xác định là chất gì?

  • Hợp chất OI-1 được xác định là Oroxylin A (tên IUPAC/danh pháp hóa học: 5,7-dihydroxy-6-methoxyflavone, công thức phân tử $C_{16}H_{12}O_5$).
  • Hợp chất OI-2 được xác định là Chrysin (tên IUPAC/danh pháp hóa học: 5,7-dihydroxyflavone, công thức phân tử $C_{15}H_{10}O_4$).

5. Dấu hiệu phổ NMR nào chứng minh OI-1 có nhóm metoxy gắn ở vị trí C-6 thay vì C-7 hay C-8?

Trên phổ $^1\text{H-NMR}$, nhóm metoxy xuất hiện mũi đơn tại $\delta_H\ 4,05\text{ ppm}$ ($3\text{H}, s$). Trên phổ HMBC, các proton của nhóm metoxy này cho tương quan với carbon C-6 ($\delta_C\ 130,4\text{ ppm}$). Đồng thời, proton của nhóm $5-\text{OH}$ tạo liên kết hydro nội phân tử ($\delta_H\ 12,99\text{ ppm}$) cũng cho tín hiệu tương quan với C-6 ($\delta_C\ 130,4\text{ ppm}$) và C-10 ($\delta_C\ 105,9\text{ ppm}$), qua đó khẳng định chắc chắn nhóm thế metoxy nằm ở vị trí C-6.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang đã thực hiện quy trình chiết xuất và phân lập hóa thực vật trên 2,8 kg bột lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.) thu hái tại Yên Sơn, Tuyên Quang. Bằng phương pháp sắc ký cột silica gel pha thường trên phân đoạn cao etyl axetat, nghiên cứu đã cô lập thành công 30 mg hợp chất Oroxylin A và 40 mg hợp chất Chrysin ở dạng tinh thể sạch. Cấu trúc hóa học của hai flavonoid này được xác định và gán phổ chi tiết thông qua hệ thống phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D-NMR ($^1\text{H}$, $^{13}\text{C}$, DEPT, HSQC, HMBC). Kết quả công trình đóng góp dẫn liệu thực nghiệm cho lĩnh vực hóa học các hợp chất thiên nhiên từ nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam.