mở đầu và khiến cho sự việc không bị khuất lấp (ví dụ một em bé chưa sinh ra đã bị hứa nộp cho quỷ sứ thì mọi vấn đề đều xoay quanh việc làm thế nào mà nó có thể thoát được khỏi tay quỷ sứ đó). Mặt khác là sự thống nhất lý tưởng sử thi: nhiều yếu tố được tập hợp theo một trật tự nhằm minh họa tốt nhất những mối quan hệ giữa các tính cách (hoàng tử được cứu thoát nhờ sự lanh 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lợi của con gái của quỷ sứ, nhưng và đây là yếu tố kế cận - hoàng tử quên cô nàng và một lần nữa bị cô nàng thu phục). - Quy luật về sự trùng lặp Ở văn học sáng tác, hiếm có chuyện lặp đi lặp lại. Quy mô ý nghĩa của một vật, một việc nào đó chẳng hạn được miêu tả ở nhiều bình diện khác nhau, ở nhiều chi tiết khác nhau, nên không thấy có sự trùng lặp.
Ngược lại ở tự sự dân gian, chi tiết được miêu tả thường tiết kiệm, ngắn gọn, thường được dùng làm phương diện nhấn mạnh, nêu bật và thường được lặp đi lặp lại. Điều này không những chỉ để gây nên sự căng thẳng mà còn để làm cho thân truyện thêm đầy đặn. Có cái được lặp lại ít lần, có cái được lặp lại nhiều lần. Điều quan trọng là không có sự trùng lặp ấy, Sa- ge không diễn đạt tới hình thức tròn đầy nhất của nó.
- Quy luật về cặp đôi và sự tương phản Khi kể đến nhân vật thì hai nhân vật cùng xuất hiện ở một cảnh nhất định. Truyện mô tả cuộc chiến đấu giữa Xich-phrich với rồng là tiêu biểu. Lần lượt xuất hiện từng đôi nhât vật. Quy luật này rất chặt chẽ khiến cho con chim chỉ nói chuyện với Xich-Phrich sau khi Regin đã đi ngủ.
Sự cùng xuất hiện của nhân vật thứ ba hoặc của nhiều nhân vật khác thường thấy ở kịch sáng tác thì không thấy ở tự sự dân gian. Quy luật này còn gắn liền với quy luật tương phản. Ở các truyện kể dân gian luôn có sự phân cực. Bên cạnh một cô bé chăm chỉ, hiền lành và xinh đẹp bao giờ cũng là một cô chị tham lam, độc ác và xấu xí; một vị anh hùng dũng cảm bên cạnh một kẻ hèn nhát nhưng đầy mưu mô; một vị vua tài giỏi vĩ đại bên cạnh một người kế nghiệp bất tài vô dụng… Tuy nhiên, cũng có trường hợp hai nhân vật cùng xuất hiện trong cùng một vai trò như nhau, nhưng cũng có khi nhân vật độc lập với nhau nhưng không tương phản (quy luật hai nhân vật tách rời khỏi quy luật tương phản).
Song một trong nhân vật đó thường không quan trọng và im lặng trong hành động, hoặc khi kết hợp với luật tương phản thì một là rực rỡ ưu tú và một là u tối, đen tối. Cơ sở thực tiễn 1. Kho tàng sử thi Tây Nguyên (các tiểu vùng sử thi Tây Nguyên) 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể nói, thập kỷ 80 - 90 của thế kỷ XX là thời kỳ phát hiện lại và công bố những thành tựu nghiên cứu đột phá về sử thi Tây Nguyên. Bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên dự kiến cứ trên 100 tác phẩm của các dân tộc Mơnông, Ra Glai, Xơ Đăng, Ba na… lần lượt xuất bản từ năm 2004 đến nay đã in được 52 trên tổng số 75 cuốn.
Mỗi tập sách có độ dày trên dưới 1000 trang. Trong kho tàng phong phú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh giá trị âm nhạc cồng chiêng đã được công nhận là ―di sản văn hóa phi vật thể‖ của UNESCO, còn phải kể đến giá trị của sử thi. Đó là những áng hùng ca (căn cứ vào các âm điệu của các anh hùng trong các tác phẩm dân gian ấy), nhưng có lẽ gọi một cách khoa học chính xác, đó là sử thi. Sử thi hình thành trên nền tảng văn hóa, văn nghệ dân gian thời cổ đại, trước hết trên nền tảng thần thoại với việc phản ánh nhận thức của người xưa về thế giới, nhân loại, cuộc sống, gắn liền với phong tục, tập quán, nghi lễ và ca múa nhạc nguyên thủy.
Hơn thế nữa, sử thi không chỉ là đặc trưng, nét độc đáo duy nhất của vùng văn hóa Tây Nguyên, mà chỉ là một trong nhiều hiện tượng văn hóa tiêu biểu khác như âm nhạc cồng chiêng, văn hóa nhà mồ, các luật tục, tập quán… của vùng này. Trong nền văn học dân gian Tây Nguyên, sử thi chứng minh khả năng tự sự thành thục, đã đạt tới trình độ cao của các thế hệ tác giả tập thể. Khả năng cuốn hút công chúng, sự bám chắc và bền bỉ tồn tại, lưu truyền của rất nhiều áng sử thi dân gian Tây Nguyên cho đến những năm cuối của thế kỷ XX, khi văn hóa, văn học bác học của nhân loại đã phát triển tột bậc, có lẽ là những minh chứng rõ ràng nhất cho sự trường tồn của loại thể văn học dân gian này trong đời sống văn hóa cộng đồng. Để có được điều đó, hẳn là nhờ những đóng góp lớn lao của nghệ thuật tự sự.
Và một khi phương thức tự sự đã được xác lập một cách bền vững là giá trị nghệ thuật và nền tảng lý luận ứng dụng - thì khi nghiên cứu sử thi từ phương diện văn học - cần phải được nhìn nhận và chỉ ra một cách nghiêm túc. Tuy thế, cho đến nay, những nghiên cứu sâu và đầy đủ về mọi phương diện của sử thi Tây Nguyên trên cơ sở vận dụng lý thuyết và những ứng dụng của tự sự học, vẫn còn là hiếm hoi. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuộc loại hình tự sự, hiểu theo đúng nghĩa của khái niệm này, sử thi Tây Nguyên - ở một phương diện nhất định đã đạt tới con số hàng trăm tác phẩm - là những câu chuyện về nhân vật và của những nhân vật. Vì thế, khi buộc phải đưa ra một định nghĩa thật ngắn gọn về thể loại sử thi trong văn học dân gian Tây Nguyên, thì định nghĩa: Sử thi Tây Nguyên là những câu chuyện về nhân vật người anh hùng với chiến công, kỳ tích phi thường có lẽ là ý kiến hợp lý và xác đáng nhất.
Sử thi Tây Nguyên mang những nét đặc trưng khác nhau về văn hóa tộc người, song từ Đăm San, Xing Nhã, Đăm Noi, Giông nghèo tám vợ, Tre Vắt ghen ghét Giông…, với những đặc thù rõ nét, vẫn là những áng văn tự sự về cuộc sống, số phận của những cộng đồng; đến sự nghiệp và chiến tích vẻ vang của những người anh hùng của tộc người mình. Công chúng sử thi Tây Nguyên, qua nhiều thế hệ, vẫn đêm đêm mong ngóng những aeđơ (tiếng Hy Lạp- ca sĩ, nghệ sĩ dân gian) của buôn làng mình ―kể lại‖ (không biết lần thứ bao nhiêu) những câu chuyện xưa, để được chiêm ngưỡng (trong tưởng tượng) hình tượng trang nam nhi tuấn kiệt vô hình, vô ảnh - là con người số một đã bước ra từ lịch sử, quá khứ của xứ sở họ. Trải qua lớp lớp thời gian (mà người văn minh lấy thước đo là năm tháng) những câu chuyện sử thi ấy đã ―hóa thạch‖ phần nào. Nhân vật người anh hùng sử thi cũng phần nào ―đông cứng‖ về tính cách cũng như chiến công, kỳ tích bảo vệ cộng đồng.
Song những áng sử thi ấy vẫn luôn trường tồn với sức sống bất diệt. Tên gọi và nguồn gốc Từ khoảng hơn một thập kỷ nay, trong đời sống xã hội người ta nói nhiều tới cái tên ― Sử thi Tây Nguyên‖, tuy nhiên, nói đến Sử thi Tây Nguyên với tư cách l một thuật ngữ khoa học thì hầu như chưa có tác giả nào đề cập tới. Năm 1981, Võ Quang Nhơn trong công trình Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam , đã nói tới thể loại ―Sử thi anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên‖, song đây chưa phải là một khái niệm với ý nghĩa đầy đủ và chặt chẽ của nó. Mãi tới năm 1997, trong Hội thảo khoa học được tổ chức ở Buôn Ma Thuột, nhân dịp kỷ niệm 70 năm phát hiện và công bố sử thi khan Đăm San, và sau đó nội dung của nó được công bố trong tập sách Sử thi Tây Nguyên, xuất bản năm 1998, thì cái tên này mới dần dần 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được dùng một cách chính thức và bắt đầu hàm chứa nội dung học thuật tương đối rõ ràng.
Vậy, khái niệm Sử thi Tây Nguyên cần được hiểu như thế nào? Đó là một dạng tự sự dân gian, nằm trong khuôn khổ thể loại mà các nhà học giả thế giới gọi là Epic, Epope (dịch sang tiếng Việt là “Sử thi”), gắn với những đặc thù Tây Nguyên về môi trường tự nhiên, truyền thống các dân tộc bản địa, trình độ phát triển kinh tế xã hội và các đặc trưng văn hóa, tạo nên sự thống nhất thể loại .[dẫn theo: Sử thi - một thành tố của văn hóa tộc người Bahnar ở Gia Lai, nguồn http://vn. Các tiểu vùng sử thi Tây Nguyên Vào những năm đầu thập kỷ 90, khi nghiên cứu về các vùng văn hóa ở Việt Nam, bên cạnh việc coi Tây Nguyên là một trong bảy vùng văn hóa của Việt Nam, thì cũng xuất hiện việc đề xuất về các Vùng thể loại văn hóa, trong đó coi sử thi Tây Nguyên là một trong các vùng thể loại văn hóa của Việt Nam. Đặc biệt, trong Hội thảo khoa học về Sử thi Tây Nguyên, tổ chức ở Buôn Ma Thuột, năm 1997, với việc công bố báo cáo khoa học với đầu đề Vùng sử thi Tây Nguyên (một số quan điểm cơ bản), đã bước đầu làm rõ khái niệm này: Vùng sử thi là vùng thể loại văn hóa, ở đó trong một không gian lãnh thổ nhất định, các tộc người đã sáng tạo và lưu truyền sử thi, mà các tác phẩm sử thi đó thể hiện sự thống nhất, tương đồng về nội dung, kết cấu cốt truyện, các đặc trưng nghệ thuật, phương thức diễn xướng, lưu truyền, các sắc thái biểu hiện, tạo nên một tổng thể văn hóa hóa sử thi bền chắc lưu truyền từ đời này sang đời khác. Tây Nguyên là vùng đất sản sinh khá nhiều sử thi mà khoa học gọi là ―vùng sử thi‖.
Từ góc độ vùng lãnh thổ và tộc người, có thể phân chia vùng sử thi Tây Nguyên thành 4 tiểu vùng, mỗi tiểu vùng như vậy chứa đựng các sắc thái riêng: - Tiểu vùng sử thi Ba na - Xơ đăng ở bắc Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Kon Tum, và Gia Lai. Các tộc người này nói ngôn ngữ Môn- Khơ me. Đây là tiểu vùng có số lượng sử thi khá lớn.